Luận văn thạc sĩ kiểm nghiệm và thử nghiệm vắc xin avac nd clone entero phòng bệnh newcastle cho gà con

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kiểm nghiệm vắc xin avac nd clone entero phòng bệnh Newcastle cho gà con, góp phần nâng cao sức khỏe gia cầm.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2016

65
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

3. DANH MỤC CÁC BẢNG

4. DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

5. TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

6. ĐẶT VẤN ĐỀ

7. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

8. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

9. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

9.1. KHÁI QUÁT VỀ BỆNH NEWCASTLE

9.2. LỊCH SỬ BỆNH

9.2.1. Lịch sử bệnh Newcastle trên thế giới

9.2.2. Tình hình bệnh và những vấn đề nghiên cứu về bệnh Newcastle ở Việt Nam

10. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

10.1. Nội dung nghiên cứu

10.2. Đối tượng nghiên cứu

10.3. Địa điểm nghiên cứu

10.4. Phương pháp nghiên cứu

10.4.1. Phương pháp lấy mẫu theo TCVN 8684:2011 Vacxin thú y - Quy trình lấy mẫu và sử dụng mẫu trong kiểm nghiệm

10.4.2. Phương pháp xác định hiệu giá virus (liều gây nhiễm 50% phôi - EID50) của lô vacxin

10.4.3. Phương pháp kiểm tra chỉ tiêu vô trùng

10.4.4. Phương pháp kiểm tra chỉ tiêu an toàn

10.4.5. Phương pháp kiểm tra chỉ tiêu hiệu lực

10.4.6. Phương pháp đánh giá độ dài miễn dịch của gà sau khi tiêm vacxin

10.4.7. Phương pháp kiểm tra độ dài bảo quản của vacxin nhược độc ND-Clone Entero sau thời gian lưu kho

10.4.8. Phương pháp xử lý số liệu

11. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

11.1. Kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật của vacxin

11.1.1. Kết quả kiểm tra hiệu giá virus (liều gây nhiễm 50% phôi- EID50) của 3 lô vacxin nhược độc ND-Clone Entero đông khô

11.1.2. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu vô trùng của vacxin

11.1.3. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu an toàn của vacxin

11.1.4. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu hiệu lực của vacxin

11.1.5. Kết quả đánh giá độ dài miễn dịch của gà sau khi chủng vacxin bằng phương pháp công cường độc ở các thời điểm nhất định

11.2. Kết quả định kỳ kiểm tra độ dài bảo quản của vacxin nhược độc ND-Clone Entero sau thời gian bảo quản 9 tháng, 12 tháng và 18 tháng

11.3. Kết quả kiểm tra hiệu lực của vacxin nhược độc ND-Clone Entero sau thời gian bảo quản 9 tháng, 12 tháng và 18 tháng

11.4. Kết quả kiểm tra hiệu lực của vacxin nhược độc ND-Clone Entero sau thời gian bảo quản 24 tháng và 25 tháng

12. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu vắc xin avac nd clone entero phòng bệnh Newcastle cho gà con

Bệnh Newcastle là một trong những bệnh nghiêm trọng nhất ảnh hưởng đến đàn gà, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi. Nghiên cứu vắc xin avac nd clone entero nhằm mục đích phát triển một giải pháp hiệu quả để phòng ngừa bệnh này cho gà con. Vắc xin này được sản xuất với công nghệ tiên tiến, giúp tăng cường khả năng miễn dịch cho gà con, từ đó giảm thiểu tỷ lệ tử vong do bệnh Newcastle.

1.1. Khái quát về bệnh Newcastle và tác động của nó đến gà con

Bệnh Newcastle do virus avian paramyxovirus type 1 gây ra, ảnh hưởng đến gà ở mọi lứa tuổi. Triệu chứng bao gồm xuất huyết, viêm loét đường tiêu hóa, và có thể dẫn đến tỷ lệ tử vong cao. Việc hiểu rõ về bệnh này là cần thiết để phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu vắc xin cho gà con

Việc nghiên cứu và phát triển vắc xin cho gà con không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của đàn gà mà còn đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Vắc xin avac nd clone entero được kỳ vọng sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc phòng ngừa bệnh Newcastle.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phòng bệnh Newcastle cho gà con

Mặc dù đã có nhiều loại vắc xin được phát triển, nhưng việc sử dụng vắc xin hiệu quả vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như chất lượng vắc xin, quy trình tiêm phòng, và sự hiểu biết của người chăn nuôi về bệnh Newcastle đều ảnh hưởng đến hiệu quả phòng bệnh.

2.1. Chất lượng vắc xin và sự an toàn cho gà con

Chất lượng vắc xin là yếu tố quyết định đến hiệu quả phòng bệnh. Vắc xin avac nd clone entero đã được kiểm tra và chứng minh đạt tiêu chuẩn về độ an toàn và hiệu lực, giúp bảo vệ gà con khỏi virus Newcastle.

2.2. Quy trình tiêm phòng và sự tuân thủ của người chăn nuôi

Quy trình tiêm phòng cần được thực hiện đúng cách để đảm bảo hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều người chăn nuôi vẫn chưa tuân thủ đúng quy trình, dẫn đến việc vắc xin không phát huy được tác dụng.

III. Phương pháp nghiên cứu vắc xin avac nd clone entero phòng bệnh Newcastle

Nghiên cứu vắc xin avac nd clone entero được thực hiện thông qua các phương pháp kiểm nghiệm nghiêm ngặt. Các chỉ tiêu như độ vô trùng, an toàn, và hiệu lực của vắc xin đều được đánh giá kỹ lưỡng.

3.1. Kiểm tra độ vô trùng và an toàn của vắc xin

Độ vô trùng của vắc xin được kiểm tra bằng các phương pháp nuôi cấy vi sinh vật. Kết quả cho thấy vắc xin avac nd clone entero không có sự phát triển của vi khuẩn hay nấm, đảm bảo an toàn cho gà con.

3.2. Đánh giá hiệu lực và độ dài miễn dịch của vắc xin

Hiệu lực của vắc xin được đánh giá thông qua tỷ lệ bảo hộ sau khi tiêm. Nghiên cứu cho thấy vắc xin avac nd clone entero có khả năng bảo vệ gà con lên đến 12 tháng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của vắc xin avac nd clone entero trong phòng bệnh Newcastle

Vắc xin avac nd clone entero đã được áp dụng rộng rãi trong các trang trại chăn nuôi gà. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh Newcastle giảm đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.

4.1. Kết quả nghiên cứu thực địa về hiệu quả của vắc xin

Nghiên cứu thực địa cho thấy vắc xin avac nd clone entero mang lại hiệu quả cao trong việc phòng ngừa bệnh Newcastle, với tỷ lệ bảo hộ đạt 100% sau khi tiêm cho gà con.

4.2. Tác động kinh tế từ việc sử dụng vắc xin

Việc sử dụng vắc xin avac nd clone entero không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại do bệnh Newcastle mà còn nâng cao năng suất chăn nuôi, mang lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu vắc xin Newcastle

Nghiên cứu vắc xin avac nd clone entero đã chứng minh được hiệu quả trong việc phòng bệnh Newcastle cho gà con. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện chất lượng vắc xin và mở rộng ứng dụng trong ngành chăn nuôi.

5.1. Định hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực vắc xin

Cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển các loại vắc xin mới, có khả năng bảo vệ tốt hơn cho gà con trước sự biến đổi của virus Newcastle.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và người chăn nuôi

Hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và người chăn nuôi là cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng vắc xin, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi gà.

14/07/2025
Luận văn thạc sĩ kiểm nghiệm và thử nghiệm vắc xin avac nd clone entero phòng bệnh newcastle cho gà con

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Newcastle là một trong những bệnh đáng sợ nhất trên gà, có thể gây chết cao do virus nhóm Paramyxo gây ra và được phân ra nhiều type huyết thanh dựa trên yếu tố độc lực. Virus có vỏ bọc, trên vỏ có gai kháng nguyên HN và kháng nguyên F và có khả năng ngưng kết hồng cầu. Virus có 9 type huyết thanh: PMV 1- 9. Chất chứa mầm bệnh: não, phổi, cơ quan nội tạng, dịch tiết đường hô hấp, phân.

Lây lan qua đường hô hấp và đường tiêu hóa. Gà là ký chủ tự nhiên nhưng rất nhiều loài chim khác cũng nhạy cảm với bệnh kể cả vịt và gà tây. Virus này gây bệnh cho gà mọi lứa tuổi, đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết, viêm loét đường tiêu hoá. Bệnh lây lan nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng, có thể đến 100% trên đàn gà bệnh.

Ở Việt Nam bệnh đã có từ lâu, nhưng mãi đến năm 1949, Jacotot và Le Louet đã chứng minh có virus Newcastle ở Nha Trang sau khi nghiên cứu gây bệnh thực nghiệm cho gà và nuôi cấy trên phôi gà, làm phản ứng ngưng kết hồng cầu gà (HA), phản ứng ngăng trở ngưng kết hồng cầu gà (HI) và miễn dịch chéo. Năm 1956, đã có nhiều nghiên cứu bệnh này ở nhiều tỉnh và chứng minh chắc chắn rằng bệnh Newcastle có ở nước ta. Ở miền Bắc từ cuối năm 1955 – 1957 đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu bệnh dịch tả gà và bệnh Newcastle. Trên 189 bệnh phẩm não gà bệnh lấy từ 20 tỉnh phát hiện có virus Newcastle, chưa thấy có virus dịch tả gà.

Điều này cũng phù hợp với thông báo của ủy ban quốc tế phân loại virus gà: Từ năm 1940 trở lại đây trên thế giới không có bệnh dịch tả gà cổ điển nữa. Nguyễn Bá Huệ và Nguyễn Thu Hồng (1980) đã nghiên cứu và chứng minh được rằng: virus gây ra những trận dịch lớn năm 1970 ở nông trường An Khánh, đầu năm 1974 ở Đông Anh, Hà Nội, Hải Phòng là do virus cường độc Newcastle gây nên. Cho đến nay, ở Việt Nam, bệnh Newcastle vẫn thường xuyên xảy ra và gây những tổn thất lớn trong ngành chăn nuôi gà, nhất là khi chăn nuôi gà công nghiệp phát triển mạnh. Nhận thấy vấn đề sử dụng vacxin Newcastle phòng bệnh sớm cho gà con cần được quan tâm nhiều hơn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh Newcastle sớm 1 cho gà, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh Newcastle và virus gây bệnh được tiến hành.

Nhiều loại vacxin Newcastle đã được sản xuất và lưu hành trên thị trường Việt Nam. Song việc sử dụng vacxin chủ yếu lại do người chăn nuôi quyết định. Hơn nữa do khâu chăn nuôi chưa hợp lý, vệ sinh phòng bệnh chưa triệt để đã ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả bảo hộ của vacxin. Công ty TNHH MTV AVAC Việt Nam đã và đang sản xuất vacxin ND-Clone Entero, các chỉ tiêu vô trùng, an toàn và hiệu lực của vacxin này đối với đàn gà nuôi ở Việt Nam đã cho kết quả rất tốt.

Theo quy định, bất cứ một loại vacxin nào sau khi sản xuất đều phải tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu vô trùng, an toàn và hiệu lực. Ngoài ra còn định kỳ kiểm tra độ dài bảo quản và độ dài miễn dịch của vacxin đối với động vật thí nghiệm. Để khẳng định chất lượng của vacxin nhược độc ND-Clone Entero sản xuất tại Công ty TNHH MTV AVAC, cung cấp thêm cơ sở khoa học về tình hình bệnh, góp phần vào việc phòng chống và can thiệp bệnh Newcastle ở Việt Nam đạt hiệu quả cao. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiểm nghiệm và thử nghiệm vacxin Avac ND-Clone Entero phòng bệnh Newcastle cho gà con”.

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Kiểm tra được một số chỉ tiêu của vacxin nhược độc ND-Clone Entero sản xuất tại Công ty TNHH MTV AVAC Việt Nam, ngoài đánh giá 3 chỉ tiêu vô trùng, an toàn, hiệu lực còn đánh giá độ dài miễn dịch và độ dài bảo quản của vacxin. - Xác định được hiệu lực vacxin trên thực địa vùng ngoại thành Hà Nội. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. - Là cơ sở đề ra biện pháp phòng trị bệnh Newcastle có hiệu quả cao.

- Đánh giá được độ dài miễn dịch của gà sau khi nhỏ vacxin nhược ND- Clone Entero, từ đó xây dựng được quy trình sử dụng và bảo quản vacxin hợp lý giúp cho Công ty TNHH MTV, các cửa hàng và đại lý phân phối có kế hoạch định hướng sản xuất, lưu trữ, tiêm phòng hợp lý nhất mang lại nguồn lợi kinh tế cao. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. KHÁI QUÁT VỀ BỆNH NEWCASTLE Bệnh Newcastle hay còn gọi là bệnh gà rù. Bệnh do virus avian paramyxovirus type 1 (APMV-1) gây nên chủ yếu trên các loài gia cầm, trong đó gà là loài mẫn cảm nhất.

Trong các tài liệu chuyên môn trước đây, bệnh Newcastle còn gọi là bệnh pseudo-poutry plague, avian pest, avian distemper… Virus newcastle rất đa dạng về độc lực và thường gây ra nhiều dạng bệnh với mức độ nghiêm trọng rất khác nhau. Sự đa dạng này thường gây ra một số khó khăn trong việc nhận dạng được bệnh ngay khi có virus Newcastle xâm nhập vào đàn gia cầm (Trần Đình Từ, 1985). Bệnh Newcastle phức tạp ở chỗ các chủng virus khác nhau có thể gây ra những biến động rất lớn về mức độ nghiêm trọng của bệnh, kể cả một vật chủ đã biết rất rõ như gà. Để phân chia các thể hay các týp bệnh lý của bệnh Newcastle dựa vào các triệu chứng lâm sàng của gà, Brandly và Hanson (1965) đã tóm tắt như sau: (1) Thể Doyle (1927) là thể bệnh Newcastle cấp tính, gây tử vong cho gà ở mọi lứa tuổi.

Thường xuất huyết ở đường tiêu hóa và thể bệnh này được gọi là thể bệnh Newcastle độc lực cao hướng nội tạng (VVND: Viscerotropic velogenic Newcastle disease). (2) Thể Beach (Beach, 1942) cũng là thể bệnh Newcastle cấp tính thường gây tử vong ở gà mọi lứa tuổi. Các triệu chứng hô hấp và thần kinh thường xuất hiện nổi trội vì vậy được gọi là bệnh Newcastle độc lực cao hướng thần kinh (NVND: Neurotropic velogenic Newcastle disease). (3) Thể Beaudette (Beaudette and Black, 1946) là một thể Newcastle nhẹ hơn, thường chỉ gây tử vong ở gà con.

Virus gây ra týp bệnh này thuộc nhóm virus có độc lực trung bình (Mesogenic NDV) và một số chủng virus thuộc nhóm này đã được sử dụng làm vaxin virus sống dùng để tiêm chủng lặp lại. (4) Thể Hitchner (Hitchner and Johnson, 1948) là một thể bệnh đường hô hấp nhẹ gây ra bởi nhóm virus có độc lực thấp (Lentogenic NDV), thường sử dụng để sản xuất các loại vacxine virus sống. LỊCH SỬ BỆNH 2. Lịch sử bệnh Newcastle trên thế giới Newcastle là tên một thành phố của nước Anh, lần đầu tiên lưu hành dịch gà với tình trạng bệnh lý cao, Doley đã lấy tên thành phố đặt cho bệnh.

Bệnh dịch ở Anh xảy ra theo tài liệu chi chép có liên quan đến một con tàu vận chuyển thịt đông lạnh mang theo gà nuôi, di chuyển từ Châu Á đến cảng của Newcastle (Alexander, 1988). Thực ra trong thời gian này, bệnh đã xuất hiện ở ba nước cách xa nhau hàng nghìn kilomet: ở Anh (Doyle, 1962); ở Java, Indonesia (Kraneveld, 1926). Trong một thời gian ngắn, virut có độc lực cao đã gây ra bệnh không chỉ ở Anh, Indonesia, Hàn Quốc mà còn ở một số nước khác như Philippin, Ấn Độ, Ceylon, Nhật Bản. Một số nhà khoa học đã dùng tổ chức phủ tạng để gây bệnh thí nghiệm cho gà, Doyle (1985) Mô tả bệnh có tỷ lệ chết cao, có thể tới 100%.

Riêng ở California (Mỹ), bệnh xảy ra vào giữa những năm 1930 (Alxander, 1988) được gọi là bệnh viêm phổi bệnh có tỷ lệ chết thấp, hiếm khi tới 15%, với biểu hiện hô hấp nhẹ, đôi khi có triệu chứng thần kinh nhưng khác hẳn với bệnh được Doyle mô tả. Năm 1964, dạng bệnh lý nhẹ được Shope dưa đưa ra một học thuyết giải thích những dấu hiệu hoàn toàn khác nhau của bệnh Newcastle. Một số chủng virut có độc lực thấp được phân lập ở một số nước như: Mỹ (Hitchner, 1982), Australia (Alexander, 1988), những chủng này được dùng để chế vacxin sống. Năm 1951, bệnh lan tới Hawaii, Canada và tiếp tục lan rộng ở khắp Châu Âu và nhiều vùng khác nhau ở Châu Phi.

Tại Venezuela, Mexico tỷ lệ chết của gà trưởng thành tới 100% (Brandly, 1965). Ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, bệnh cũng xảy ra tỉ lệ chết cao, diễn biến cấp tính với dạng cổ điển của bệnh Newcastle giống như ở Đông Nam Á năm 1062, ở Singapore và Colombia năm 1964. Theo Bankowski (1964), trong cùng thời gian đó, các thể bệnh không điển hình cũng được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Năm 1966, bệnh xảy ra ở Iran với thể cấp tính.

Bệnh lan vào Châu Á rồi từ Tây Âu qua Trung Đông (Lancaster and Alexander, 1975). 4 Bệnh Newcastle xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới nhưng biểu hiện lâm sàng không giống nhau dẫn đến việc nhầm lẫn trong việc phát hiện bệnh. Năm 1980, tại cuộc hội thảo về bệnh có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, theo Hanson (1980) virut Newcastle vẫn tồn tại với bản chất của nó nhưng dưới dạng một số chủng khác nhau, vì vậy gây ra những biểu hiện lâm sàng khác nhau. Tình hình bệnh và những vấn đề nghiên cứu về bệnh Newcastle ở Việt Nam Tại Việt Nam, bệnh Newcastle được đề cập đến từ rất lâu và lan truyền suốt từ Bắc đến Nam.

Năm 1949, tại Nha Trang, Jacotot và Lelouet đã xác định được virus Newcastle bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu gà (HI) (Phạm Hồng Sơn, 2005). Trong đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, do chăn nuôi gà công nghiệp phát triển nên một số cơ sở chăn nuôi đã xảy ra những vụ dịch Newcastle. Năm 1973, ở nông trường Thành Tô-Hải Phòng, chỉ trong 10 ngày bệnh đã làm chết gần 100. Năm 1974, ở Xí nghiệp gà Cầu Diễn bị chết 2/3 trong tổng số 300.000 con trong vòng 2 tháng.

Các trại gà khác cũng bị thiệt hại nặng nề do bệnh Newcastle như Nhân Lễ, Đông Anh,. Sau khi dịch xảy ra nhiều và mạnh, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vacxin phòng bệnh và xây dựng được quy trình sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle cho gà. Nguyễn Thu Hồng (1989) đã nghiên cứu việc sử dụng vacxin Lasota và vacxin hệ 1 và đã xây dựng được quy trình phòng bệnh phù hợp cho từng cơ sở chăn nuôi. Trần Đình Từ và cộng sự (1985) bằng phương pháp chuẩn hoá của FAO đã xác định được độc lực các chủng virus vacxin đang sản xuất tại Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu vắc xin avac nd clone entero phòng bệnh Newcastle cho gà con" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc phát triển vắc xin nhằm bảo vệ gà con khỏi bệnh Newcastle, một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất trong ngành chăn nuôi gia cầm. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về quy trình sản xuất vắc xin mà còn đánh giá hiệu quả và tính an toàn của nó. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng vắc xin này, giúp nâng cao sức khỏe đàn gà và giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Dịch tễ học thú y, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các phương pháp nghiên cứu trong thú y. Ngoài ra, tài liệu Luận văn đánh giá tính an toàn và tính sinh miễn dịch của vắc xin rotavin m1 do Việt Nam sản xuất sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tính an toàn và hiệu quả của các loại vắc xin trong nước. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai quan tâm đến sức khỏe gia cầm và các biện pháp phòng bệnh hiệu quả.