Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 2/3 dân số sống ở vùng nông thôn. Tổng diện tích đất tự nhiên là 33.091039 ha (2013), trong đó đất đồi núi chiếm khoảng ¾ diện tích cả nước.Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm,điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi đã làm cho thảm thực vật rừng vô cùng phong phú về chủng loại và đa dạng sinh học cao, đặc biệt đối với cây trồng, vât nuôi có điều kiện để sinh trưởng và phát triển tốt. Đây có thể coi là tiềm năng lớn cho phát triển nông – lâm nghiệp, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Bên cạnh những thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, cũng có nhiều khó khăn như: Thiên tai, tài nguyên rừng bị suy thoái, dịch bệnh phát triển nhanh và nhiều loại, trình độ khoa học kĩ thuật còn nhiều hạn chế, chủ yếu là lao động thủ công.
Nhiều nơi người dân chủ yếu sống theo phương thức du canh, du cư hay canh tác độc canh làm cho nhiều nguồn tài nguyên đấ t bị suy thoái nghiêm trọng dẫn đến hiện tượng xói mòn, rửa trôi. Nhiều diện tích đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp bị suy thoái, làm giảm đô ̣ phì dẫn đến năng suất cây trồng ngày càng suy giảm. Đứng trước thực trạng đó, trong những năm qua, nhà nước đã hoàn thành công tác quy hoạch sử dụng đất và đưa ra một số chủ trương đánh giá như sau: Chính sách giao đất giao rừng, đầu tư vốn kỹ thuật giúp phát triển nông – lâm nghiệp thông qua các chương trình dự án của nhà nước. Chính vì vậy vấn đề đặt ra là cần phải giải quyết vấn đề phủ xanh đất trống đồi trọc bằng các hệ thống canh tác, đưa vào đó các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp đem lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đời sống nhân dân, tạo công ăn việc làm, đảm bảo môi trường sinh thái bền vững.
n 2 Trong các hệ thống sử dụng đất nâng cao hiệu quả kinh tế, tận dụng đất đai, góp phần sử dụng đất bền vũng hiện nay là nông lâm kết hợp (NLKH). Đây là phương thức sử dụng đất tổng hợp giữa lâm nghiệp với nông nghiệp. Phương thức sản xuất này có nhiều ưu điểm, đảm bảo sử dụng đất một cách tốt nhất, đảm bảo tính an toàn về môi trường đươ ̣c người dân các vùng chấp nhận. Xã Động Đạt nằm ở phía bắc của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Với tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 3988,71 ha. Vì là một xã miền núi nên chưa có điều kiện phát triển các ngành công nghiê ̣p mới, thương mại, dịch vụ mà chủ yếu phát triển ngành nông, lâm nghiệp. Do đó cần phải phát triển hệ thống nông – lâm nghiệp (NLN) theo hướng nông lâm nghiệp tiên tiến. Để giúp người dân xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, có đươ ̣c những giải pháp hữu ích để thiết kế xây dựng các hệ thống NLKH tại địa phương nhằm nâng cao hiệu quả và góp phần ổn định đời sống nhân dân là việc làm cần thiết.
Chính vì suy nghĩ này mà tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển mô hình NLKH tại xã Động Đạt, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên”. Để từ đó nhằm đánh giá được hiệu quả của các mô hình và nhân rộng, đề xuất các giải pháp phát triển các mô hình NLKH trong toàn xã, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tại địa phương. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu một số hệ thống NLKH ở xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên để tìm ra những tiềm năng và hạn chế, từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển một số hệ thống NLKH có hiệu quả về kinh tế và môi trường tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.3 Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá đươ ̣c hiệu quả những hệ thống NLKH điển hình. - Đề xuất đươ ̣c các giải pháp phát triển NLKH nhằm nâng cao hiệu quả, tính bền vững và nhân rộng các mô hình NLKH.
- Xác định đươ ̣c những tiềm năng, những thuận lợi và khó khăn cho việc phát triển NLKH. Ý nghĩa đề tài * Ý nghiễn trong học tập và nghiên cứu khoa học. Kết quả nghiên cứu đề tài giúp tôi củng cố lại kiến thức đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng lại những lý thuyết đã học trong nhà trường theo đúng phương châm học đi đôi với hành. Giúp tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học, với công việc thực tế.
Học hỏi chia sẻ kinh nghiệm từ người dân, nắm bắt được phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân. * Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra hiệu quả mà những hệ thống NLKH đã chỉ ra những tiềm năng, hạn chế và mong muốn của người dân trong việc xây dựng hệ thống NLKH. Qua đó làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển một số hệ thống NLKH trên địa bàn xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Từ đó phần nào giúp cho các cấp chính quyền địa phương trong việc hoạch định các chính sách hỗ trợ phát triển những hệ thống NLKH có hiệu quả cao. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số khái niệm về NLKH Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thập niên 1960 bởi Keng (1969).
Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển để diễn tả hiểu biết rõ hơn về nông lâm kết hợp. Sau đây là một số khái niệm khác nhau được phát triển cho đến hiện nay: Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai vững bền làm làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/ hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương (Benn và các cộng sự, 1977). Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương (PCARRD, 1979). Nông lâm kết hợp là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp…) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu và/ hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian.
Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng (Lundgren và Raintree, 1982).[15] Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý tài nguyên đăt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng n 5 các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường sinh thái của các mức độ nông trại kinh tế hộ nhỏ đến “kinh tế trang trại”. Một cách đơn giản, Nông lâm kết hợp là trồng cây trên nông trại (ICRAP, 1997). Những khái niệm trên mô tả đơn giản hệ thống NLKH như là một loạt các hướng dẫn cho một sự sử dụng đất liên tục. Ngày nay nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên một cách bền vững.
Đặc điểm về hệ thống NLKH. - Theo Nair (1987), các đặc điểm mấu chết của hệ thống nông lâm kết hợp đã được đa số các nhà khoa học chấp nhận như sau: - Nó là tên chung để chỉ các hệ thống sử dụng đất bao gồm việc trồng các cây lâu năm kết hợp với hoa màu và gia súc trên cùng một đơn vị diện tích. - Phối hợp giữa sự sản xuất các loại sản phẩm với việc bảo tồn các nguồn tài nguyên cơ bản của hệ thống; - Chú trọng sử dụng các loài cây địa phương, đa dụng. - Hệ thống đặc biệt thích hợp cho điều kiện hoàn cảnh dễ bị thoái hóa và đầu tư thấp.
- Nó quan tâm nhiều hơn về các giá trị dân sinh xã hội so với các hệ thống sử dụng đất khác. - Cấu trúc và chức năng của hệ thống thì phong phú đa dạng hơn so với canh tác độc canh. Tóm lại, nông lâm kết hợp với sự phối hợp có suy tính giữa các thành phần khác nhau của nó đã mang đến cho các hệ thống sản xuất nông nghiệp các điểm chính sau: - Tạo nên một hệ thống quản lý đất đai bền vững. - Gia tăng năng suất và dịch vụ trên một đơn vị diện tích sản xuất.
n 6 - Sắp xếp hoa màu cách tác phù hợp giữa nhiều thành phần cây lâu năm hoa màu và hay vật nuôi theo không gian và thời gian trên cùng một diện tích đất. - Đóng góp vào phát triển cho các cộng đồng dân cư về các mặt dân sinh, kinh tế và hoàn cảnh sinh thái mà vẫn tương thích với các đặc điểm văn hoá, xã hội của họ. - Kỹ thuật của nó mang đậm nét bảo tồn sinh thái môi trường. - Gia tăng năng suất và dịch vụ trên một đơn vị diện tích sản xuất.
- Sắp xếp hoa màu cách tác phù hợp giữa nhiều thành phần cây lâu năm hoa màu và/ hay vật nuôi theo không gian và thời gian trên cùng một diện tích đất. - Đóng góp vào phát triển cho các cộng đồng dân cư về các mặt dân sinh, kinh tế và hoàn cảnh sinh thái mà vẫn tương thích với các đặc điểm văn hoá, xã hội của họ. - Kỹ thuật của nó mang đậm nét bảo tồn sinh thái môi trường. * Theo ICRAF: Với nhiều định nghĩa trên, một hệ canh tác sử dụng đất được coi là NLKH khi nó có các đặc điểm sau: - Kỹ thuật nông lâm thường bao gồm hai hoặc nhiều hơn hai loại thực vật (hay thực vật và động vật) trong đó ít nhất phải có một loại thân gỗ đa niên.
- Có ít nhất hai loại thực vật (hay thực vật và động vật) trong đó ít nhất phải có một loại cây thân gỗ lâu năm.