phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 2001 đến năm 2005. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 2006 đến năm 2013. Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm.
Footer Page 15 of 107. 9 Header Page 16 of 107. NỘI DUNG Chƣơng 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN VỀ THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.
Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1. Thực trạng nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hưng Yên trước năm 2001 Tỉnh Hưng Yên vốn là một vùng đất có truyền thống lịch sử văn hiến lâu đời, lại có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế - văn hóa giữa các vùng miền trong cả nước. Tỉnh Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh.
Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Hải Dương. Phía Đông Nam giáp tỉnh Thái Bình. Phía Tây Bắc và Tây Nam giáp Hà Nội (gồm Hà Tây cũ), Hà Nam. Hưng Yên có diện tích tự nhiên khoảng 923km2, đứng thứ 58 so với các tỉnh trong cả nước.
Địa hình tương đối bằng phẳng. Được phù sa sông Hồng bồi đắp nên đất đai Hưng Yên tương đối phì nhiêu, màu mỡ, thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Giống như nhiều tỉnh, thành phố khác trong đồng bằng sông Hồng, khí hậu tỉnh Hưng Yên được chia thành hai mùa nóng và lạnh rõ rệt. Tài nguyên khoáng sản trữ lượng lớn chủ yếu là than nâu, cát đen.
Tính đến năm 2013 dân số có khoảng 1,15 triệu người. Hưng Yên lại có nhiều tiềm năng về giao thông vận tải, ngoài đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và quốc lộ 5 chạy qua, tỉnh còn có mạng lưới đường bộ, đường thủy khá thuận tiện: Đường 39A, 39B, 38, 99, 179, 201… và gần 100km đê bao quanh liên kết các xã, huyện với nhau được nối vào mạng lưới Footer Page 16 of 107. 10 Header Page 17 of 107. giao thông quốc gia.
Những điều kiện này tạo cho Hưng Yên có nhiều cơ hội song cũng còn nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội. Đáp ứng tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, đồng thời thực hiện quyết định tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, ngày 1-1-1997, tỉnh Hưng Yên chính thức được tái lập sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương (1-1968). Xét trên nhiều khía cạnh, việc tách tỉnh là chủ trương đúng, phù hợp với tình hình, cũng như nguyện vọng của đông đảo nhân dân hai tỉnh. Tỉnh Hưng Yên khi mới tái lập có điểm xuất phát thấp: sản xuất manh mún, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp; GDP bình quân đầu người năm 1996 chỉ khoảng 180 USD, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng 1/3 so với yêu cầu.
Cơ sở công nghiệp nhỏ bé, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm khoảng 60%, công nghiệp - xây dựng 15%, dịch vụ 25% [1, 298]. Ngành thương mại, dịch vụ du lịch của tỉnh kém phát triển do chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Cơ sở vật chất của ngành giáo dục vẫn còn nghèo nàn, thiết bị dạy học thiếu thốn. Hệ thống GTVT khó khăn, đường bộ tỉnh và liên huyện chủ yếu rải đá, lại hẹp.
Hệ thống điện lưới vừa cũ, lại vừa thiếu, cả tỉnh chỉ có một trạm biến áp 110KV chung với Hải Dương [1, 298] Đối với nông nghiệp, việc khảo nghiệm, đánh giá các loại cây trồng từng vùng, từng vụ chưa tốt, chưa gắn với quy trình kỹ thuật đã gây hạn chế sản xuất. Hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp chưa phát triển đồng bộ, lực lượng lao động dư thừa lớn, tỷ lệ được đào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề còn thấp, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ đạt 580 m2/người, ruộng đất đa phần còn manh mún [1, 298-299]. CSVC của ngành giáo dục còn nghèo nàn, mạng lưới giáo dục không đồng bộ, thiết bị dạy và học còn thiếu thốn, giản đơn, đặc biệt là ngành mầm Footer Page 17 of 107. 11 Header Page 18 of 107.
non còn rất nhiều khó khăn. Ở nhiều địa phương, trường cấp I, cấp II còn dùng chung CSVC, còn 3 trường liên cấp II và III. Phần lớn các bệnh viện xây dựng từ các năm trước tuy được nâng cấp sửa chữa hoạc xây dựng cao tầng cho một số khu điều trị cấp cứu nhưng một số bệnh viện vẫn sử dụng nhà cấp 4 cho bệnh nhân nằm viện. Hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục, thể thao tuy được đẩy mạnh dưới nhiều hình thức song cơ sở vật chất còn thiếu [1, 299].
Nhìn nhận những khó khăn phía trước là rất lớn, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XIV được tổ chức đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho kế hoạch 3 năm (1998 - 2000): Tập trung mọi lực lượng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua thách thức, đưa công cuộc đổi mới phát triển một cách toàn diện và đồng bộ, tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc và có hiệu quả đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng, cải thiện một bước đời sống nhân dân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nâng cao tích lũy nội bộ, tạo cơ sở vững chắc cho bước phát triển cao sau năm 2000 [1; 305-306]. Trên cơ sở đánh giá đúng tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tập hợp sức mạnh của toàn dân trong công cuộc xây dựng quê hương. Kinh tế của tỉnh có nhiều khởi sắc và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Với những phương hướng, mục tiêu và quyết tâm được đề ra trong Đại hội XIV của tỉnh, sau 3 năm tiến hành thực hiện đổi mới, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hưng Yên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra.
Thắng lợi đầu tiên mang tính quyết định có ý nghĩa tổng quát nhất đó là kinh tế của tỉnh phát triển với tốc độ cao và ổn định, tăng bình quân 12,17% (mục tiêu Đại hội 10%/năm). Cơ cấu kinh tế đến năm 2000: Nông nghiệp - Công nghiệp, Xây dựng - Dịch vụ tương ứng: 41,5% - 27,8% - 30,7% (mục tiêu Đại hội 40% - 28% - 32%) (năm 1996: 60% - 15% - 25%). Footer Page 18 of 107. 12 Header Page 19 of 107.
Hoàn thành mục tiêu đại hội đề ra về mức thu nhập bình quân đầu người là 300 USD [54, 2]. * Đối với sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 6% (mục tiêu Đại hội 4,5% - 5%). Sản lượng lương thực quy thóc đạt 550. Năng suất lúa năm 2000 đạt 11,93 tấn (năm 1997: 9,8 tấn).
Giá trị thu được bình quân trên 1ha canh tác tăng từ 28 triệu (năm 1997) lên 32 triệu (năm 2000); lương thực bình quân đầu người từ 460kg lên 520kg. Cây ăn quả đặc sản, cây xuất khẩu, tinh dầu, đậu, các loại tăng khá. Do nhu cầu sức kéo và thị trường nên đàn trâu, đàn bò giảm, chất lượng đàn bò được nâng lên. Chăn nuôi lợn, gia cầm, thủy sản tiếp tục phát triển.
Chương trình “nạc hóa đàn lợn”, “sind hóa đàn bò” thu hút đông đảo hộ nông dân tham gia [54, 2]. * Đối với phát triển nông thôn: Kết cấu hạ tầng: Được nâng cấp, đầu tư mới khá đồng bộ, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. 150km đường tỉnh lộ và huyện lộ được nâng cấp rải nhựa với số vốn là 138 tỷ đồng, bằng 30% tổng vốn ngân sách tập trung, gấp 3 lần trước lúc tái lập tỉnh. Giao thông nông thôn có nhiều khởi sắc: nâng cấp cải tạo 300 km đường các loại với kinh phí 63 tỷ đồng; dự án giao thông nông thôn (WB2) đang tích cực triển khai với mức vốn 50 tỷ đồng [54, 3].
Đến năm 2000, toàn tỉnh đã xây mới 15 trạm bơm, tiếp tục cải tạo nâng cấp một số trạm bơm cho chống úng, tưới bãi. Tăng cường cơ sở vật chất cho ngành giáo dục, y tế.230 phòng học kiên cố cao tầng. Nhiều trạm xá xã gắn với trung tâm kế hoạch hóa gia đình được xây mới, bổ sung trang thiết bị điều trị. Bưu chính viễn thông được đầu tư nhanh, đồng bộ, hiện đại đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của tỉnh.
Bưu điện được trang bị hiện đại Footer Page 19 of 107. 13 Header Page 20 of 107. hóa các tổng đài điện tử, phát triển thêm 5.000 thuê bao, năm 1997 chỉ có 0,36 máy/100 dân, đến năm 2000 bình quân 100 người dân có 1,22 máy, điện thoại đến 100% số xã và 98% thôn. Phát triển nhanh các dịch vụ mới; xây dựng mới 89 điểm bưu điện - văn hóa xã.
Làm tốt công tác phát hành báo chí. Mạng lưới điện trên địa bàn tỉnh được từng bước cải tạo, phát triển theo quy hoạch đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng đường dây và trạm 110KV Phố Ni, đầu tư 61 tỷ đồng để xây mới, sửa chữa lớn lưới điện, máy biến áp di động 110KV, xây mới 142 trạm biến thế, 96km đường dây trung thế. Điện thương phẩm tăng 1,65 lần so với năm 1997.
Tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn 4 năm đạt 3.355 tỷ đồng (trong đó vốn do Trung ương quản lý 800 tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài 817 tỷ đồng) dùng cho phát triển công nghiệp 47%, nông nghiệp nông thôn 23%, giao thông vận tải 16%. Đời sống nhân dân được cải thiện, số hộ giàu chiếm khoảng 26%, cơ bản xóa hộ đói giảm hộ nghèo từ trên 10% xuống 6,67%; thu nhập bình quân đầu người từ 180 USD năm 1996 lên 300 USD năm 2000. Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình chuyển biến tích cực, tỷ suất sinh giảm 0,08%, tỷ lệ phát triển dân số còn 1,2%. Vấn đề lao động việc làm được Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo rất quan tâm, đến giai đoạn 1997 - 2000, sau 3 năm tách tỉnh, mỗi năm tỉnh đã giải quyết thêm 1,4 vạn người có việc làm thường xuyên nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, mở rộng ngành nghề và phát triển công nghiệp [54, 6].