CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LOÉT TỲ ĐÈ VÙNG Ụ NGỒI – MẤU CHUYỂN LỚN 1. Nguyên nhân Nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng loét tỳ đè, bao gồm toàn bộ các điều kiện dẫn đến bất động, giảm hoặc mất cảm giác như suy dinh dưỡng, các yếu tố nội tại như đái tháo đường, thuốc lá đều làm tăng nguy cơ loét tỳ đè [9]. Chấn thương cột sống có nguy cơ cao nhất 25 – 66% trong phát triển loét tỳ đè do kết hợp bất động và giảm cảm giác.
Nghiên cứu tiến cứu của Kruger E. và cộng sự (2013) trong nhóm chấn thương cột sống cho thấy loét tỳ đè vùng ụ ngồi (28%), mấu chuyển lớn xương đùi (12 -19%) [10], khoảng 25 – 85% chấn thương cột sống sẽ phát triển loét tỳ đè và 70% số này có nhiều vị trí loét [11]. Các trường hợp được chăm sóc tại nhà có tỉ lệ loét tỳ đè 0 – 17% [12], đồng thời hoại tử da do áp lực liên tục lên da và nguy cơ gây thiếu máu nghiệm trọng vùng này [13]. Cơ chế bệnh sinh Thiếu máu mô gia tăng do lực tỳ đè lên da -mô kéo dài vượt quá áp lực mao - động mạch bình thường (32mmHg) là nguyên nhân của loét tỳ đè.
Với nhóm bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tủy, loét tỳ đè có nguyên nhân do liệt tủy, các cơ liệt không còn trương lực cơ nên trọng lượng cơ thể trực tiếp đè lên gây loét. Tỳ đè làm tắc nghẽn dẫn lưu dịch bạch huyết, tăng dịch gian bào, hình thành chất độc tế bào. Lực tỳ đè được chuyển từ da đến nền xương và giảm dần về phía ngoại vi, vì thế lực tỳ đè có dạng hình nón, đáy ở nền xương, đỉnh ở mặt da (hình 1. Quá trình trên lúc đầu có thể bù trừ khi loại bỏ lực tỳ đè và xuất hiện sự tăng tưới máu bù trừ do phản ứng giãn mạch chủ động.
Thương tổn mất bù xảy ra khi lực tỳ đè đạt đến 70 mmHg trong thời gian 2 giờ [14]. Cơ chế hình thành loét tỳ đè *Nguồn: theo Stevens D. và cộng sự (2017) [15]. Phân độ loét tỳ đè Phân độ của Hội đồng tư vấn loét tỳ đè Quốc gia Hoa kỳ (2007) [1].
Độ I: Da còn nguyên, không có các Độ II: Một phần lớp trung bì bị mất, các đám màu xanh, đỏ ở trên xương vết loét trợt nông với đáy màu hồng, cùng. Vùng da sẫm màu không nhìn hoặc chưa trợt loét da nhưng có các nốt thấy đám xanh; nhưng màu sắc phỏng với dịch huyết tương. khác da lành xung quanh. 5 Độ III: Mất toàn bộ lớp da.
Tổ chức Độ IV: Mất toàn bộ mô sâu, lộ xương, mỡ dưới da có thể nhìn thấy nhưng gân và cơ. Hoại tử ướt hoặc đám hoại xương, gân, cơ chưa bị lộ. Hoại tử có tử khô tại một vài vị trí của tổn thương. thể xuất hiện, có thể có ngóc ngách Giai đoạn này thường có các đường hoặc đường hầm dưới da.
hầm dưới da. Bảng phân độ loét của Hội đồng tư vấn loét tỳ đè Quốc gia Hoa kỳ *Nguồn: theo Joyce B. và cộng sự (2007) [1] 1. Các phương pháp điều trị loét tỳ đè vùng ụ ngồi – mấu chuyển lớn Điều trị phòng ngừa Có nhiều phương pháp điều trị tùy theo mức độ thương tổn, ngoài ra chỉ định còn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, bệnh lý kèm theo cũng như điều kiện chăm sóc của người nhà.
Điều trị nội khoa - Thay băng - chăm sóc vết thương Thay băng vừa để chăm sóc làm sạch vết thương tránh nhiễm khuẩn vừa để đánh giá mức độ của thương tổn để có kế hoạch điều trị tiếp theo. và cộng sự (1994) cho rằng nên thay băng theo kiểu “wet - to - dry” (ướt tới khô) và quan trọng nhất của việc thay băng là làm sạch các tổ chức hoại tử, dịch vết thương [16]. Bên cạnh chăm sóc vết thương, cắt lọc vết thương với mục tiêu làm sạch và chống tình trạng nhiễm trùng vết thương có vai trò rất quan trọng. 6 - Điều trị bằng dinh dưỡng Bergstrom N.
và cộng sự (1994) cho rằng khi bệnh nhân loét nhập viện cần tham khảo ý kiến chuyên gia dinh dưỡng để xác định chế độ ăn uống tốt nhất. Với chế độ dinh dưỡng cao protid sẽ mau chóng làm lành vết loét, chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân loét đạt giá trị albumin > 3,5 mg/dl để giảm các yếu tố bất lợi gây loét [16]. - Điều trị bằng hút áp lực âm Ưu điểm: Thích hợp cho những vết thương tiết dịch nhiều, viêm nhiễm, giúp cho vết thương được sạch sẽ để chuẩn bị và tạo thuận lợi tối ưu cho phẫu thuật tiếp theo. Nhược điểm: mang tính điều trị hỗ trợ các vết loét độ III, IV.
Chi phí cao đồng thời bệnh nhân không đi lại được trong thời gian điều trị. Trần Đoàn Đạo và cộng sự (2011) sử dụng phương pháp hút áp lực âm điều trị cho 30 bệnh nhân loét mạn tính. Có 22 bệnh nhân loét cùng cụt, đánh giá sau 2 ngày, 6 ngày và 10 ngày. Kết quả có 25/30 trường hợp (83,33%) cải thiện rõ rệt dịch vết thương, nền vết thương và thu nhỏ diện tích [4].
Điều trị ngoại khoa Nhiều tác giả đồng thuận cho rằng loét độ III, IV cần can thiệp phẫu thuật, tuy nhiên việc lựa chọn phẫu thuật còn phải phụ thuộc vào kích thước ổ loét , tình trạng viêm - nhiễm trùng ổ loét, các bệnh lý mạn tính đi kèm và toàn trạng của người bệnh [2]. - Cắt lọc hoại tử vết thương Là can thiệp đầu tiên, lâm sàng cho thấy không có chứng cứ rõ ràng bất kỳ kỹ thuật cắt lọc nào được xem hiệu quả nhất [17]. Phương pháp tối ưu để cắt lọc tùy thuộc vào các yếu tố như vị trí, tình trạng tưới máu và thiết bị cần thiết. Cắt lọc tập trung vào làm sạch nền vết loét, đáy ổ loét.
Do loét tỳ đè ảnh hưởng lên phần xương đáy vết loét dễ dẫn đến viêm tủy xương vì vậy cắt lọc xương cũng là một trong những chủ đề còn nhiều bàn cãi trong loét tỳ đè. Phần 7 lớn các tác giả đồng thuận trong cắt lọc loét tỳ đè là loại bỏ phần xương tối thiểu có thể. Một số nghiên cứu cho thấy cắt lọc xương rất hiệu quả giúp giảm tái phát vết loét và giảm thất bại vạt da ghép sau đó [2], [18]. Cắt lọc bằng hóa chất như dung dịch Dakin, cắt lọc cơ học bằng máy chuyên dụng để làm sạch vết thương và cần cấy vi khuẩn – làm kháng sinh đồ.
- Khâu đóng da trực tiếp Bergstrom N. và cộng sự (1994) cho rằng đây là phương pháp đơn giản nhất của tái tạo ổ loét, là sự khép kín trực tiếp giữa hai mép vết thương [16]. và cộng sự (1997) cho rằng phương pháp đóng da trực tiếp chỉ nên áp dụng đối với vết loét nhỏ và nông [19]. Ưu điểm: đóng da dễ dàng đối với các vết loét nông, không viêm nhiễm và có đường kính nhỏ.
Nhược điểm: làm cho da thường xuyên căng giữa hai mép vết thương, do đó dễ dẫn đến hở vết mổ nhất là khi vận động, phương pháp này không dùng điều trị những tổn thương loét sâu, rộng. - Ghép da Da dày xẻ đôi được sử dụng ghép lên tổ chức hạt vùng cùng cụt hoặc sau cắt lọc hoại tử mà không lộ cân xương. Ưu điểm: Phẫu thuật dễ dàng, thời gian nhanh. Nhược điểm: Tỷ lệ loét tái phát cao, da khó bám sống.
Đặc biệt không ghép được những tổn khuyết sâu lộ xương [20]. - Điều trị bằng ghép tấm nguyên bào sợi nuôi cấy Đinh Văn Hân (2009) đã nghiên cứu và ứng dụng nguyên bào sợi đồng loại nuôi cấy điều trị cho 32 bệnh nhân có vết thương mạn tính (chưa liền sau 6 tuần) do nhiều nguyên nhân khác nhau (loét tỳ đè, đái tháo đường, bỏng, suy tĩnh mạch. Kết quả tốc độ thu hẹp vết thương trung bình là 3,63 ± 3,38 cm2/ngày [21]. Tuy nhiên mật độ nguyên bào sợi tại các vết thương bỏng chậm 8 lành, vết thương mạn tính do tai nạn tăng lên nhanh hơn so với mật độ nguyên bào sợi tại vết loét do đái tháo đường, loét do suy tĩnh mạch và do loét tỳ đè.
Ưu điểm: áp dụng hầu hết cho các bệnh nhân, kể cả trong trường hợp chống chỉ định phẫu thuật. Nhược điểm: Không điều trị được các vết loét sâu (lộ xương rộng), thời gian điều trị kéo dài. Tác giả nhận thấy có sự cải thiện vết tương rõ rệt. Đặc biệt trong các vết thương điều trị bằng bFGF tác giả cho thấy có sự tăng sinh mao mạch một cách đáng kể [22].
- Vạt ngẫu nhiên Vạt bao gồm da, tổ chức dưới da và lớp cân sâu, được nuôi dưỡng bởi các động mạch thuộc lớp cân ở vùng kế cận. Để đảm bảo cho vạt sống cần có chiều dài/rộng theo tỷ lệ 1,5/1 [23]. Vạt sử dụng dưới dạng vạt xoay hoặc dồn đẩy che phủ tổn khuyết. Nacy Bestrom cho rằng trước những năm 1970 điều trị loét vùng ụ ngồi – mấu chuyển lớn bằng vạt da ngẫu nhiên tại chỗ là chính.
Ưu điểm: thời gian phẫu thuật nhanh. Nhược điểm: tỷ lệ tái phát còn cao, điều trị các vết loét trung bình. Các vạt da trong điều trị khuyết hổng vùng ụ ngồi, mấu chuyển lớn Vạt da cơ mông lớn Minami R. và cộng sự (1977) lần đầu tiên mô tả vạt này, là một trong những ý tưởng phẫu thuật đầu tiên trong tái tạo vết loét ụ ngồi, vạt được cấp máu từ động mạch mông (hình 1.
Ưu điểm của vạt có thể sử dụng trở lại nếu ổ loét tái diễn. Khi sử dụng vạt da cơ cần quan tâm đến mức tổn thương của vùng cho đặc biệt ở những trường hợp người cần bảo tồn chức năng của cơ và ổ loét lớn cần sự phối hợp nhiều vạt. 9 Vạt da-cơ mông lớn có tỷ lệ tái phát 6,7%. và cộng sự (2012) cũng cho thấy hiện tượng teo vạt cơ đến 30% theo thời gian.
Các mô cơ kém dung nạp với thiếu máu dễ dẫn đến tái diễn loét sớm nếu lực tỳ đè tiếp tục tái diễn. Sameem cho thấy tỷ lệ biến chứng 18,6%, hoại tử 9%, nhiễm trùng 7,5% và tái diễn 8,9% đối với vạt da - cơ [25]. (2016) trong nghiên cứu từ 2013 – 2015 trên 15 bệnh nhân với 11 nam và 4 nữ, chẩn đoán loét tỳ đè vùng ụ ngồi và cùng cụt có 2 trường hợp loét tái phát sau điều trị phẫu thuật và được phậu thuật lần 2 sử dụng vạt cơ mông lớn – vạt cân da V-Y (hình 1.