Luận Án Tiến Sĩ: Ứng Dụng Quy Trình Lấy Gan Từ Người Hiến Tạng Chết Não

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng quy trình lấy gan ở người cho tạng chết não, tập trung vào cải tiến kỹ thuật và hiệu quả trong y học cấy ghép.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Ngoại Tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2023

197
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Quy trình lấy gan

Quy trình lấy gan từ người hiến tạng chết não là một quy trình y tế phức tạp, đòi hỏi sự chính xác cao trong từng bước. Quy trình này bao gồm việc chuẩn bị người hiến tạng, phẫu thuật lấy gan, và bảo quản gan trước khi ghép. Các bước chính trong quy trình bao gồm: đánh giá tình trạng sức khỏe của người hiến tạng, phẫu thuật mở bụng, giải phóng gan khỏi các cấu trúc xung quanh, và cuối cùng là lấy gan ra khỏi cơ thể. Quy trình này đã được áp dụng thành công tại Bệnh viện Việt Đức từ năm 2010, và đã giúp cứu sống nhiều bệnh nhân mắc bệnh lý gan giai đoạn cuối.

1.1. Chuẩn bị người hiến tạng

Việc chuẩn bị người hiến tạng là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình lấy gan. Người hiến tạng phải đáp ứng các tiêu chuẩn y tế nghiêm ngặt, bao gồm tình trạng chết não được xác nhận, huyết động ổn định, và không có các bệnh lý nghiêm trọng khác. Các xét nghiệm cận lâm sàng như chức năng gan, nhóm máu, và các chỉ số sinh hóa khác cũng được thực hiện để đảm bảo gan có thể sử dụng được cho việc ghép tạng.

1.2. Phẫu thuật lấy gan

Phẫu thuật lấy gan là bước then chốt trong quy trình y tế này. Bác sĩ phải thực hiện các thao tác phẫu thuật chính xác để giải phóng gan khỏi các cấu trúc xung quanh như cơ hoành, tĩnh mạch chủ, và các mạch máu lớn. Quá trình này đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về giải phẫu gan và các biến đổi giải phẫu có thể xảy ra. Sau khi gan được giải phóng, nó sẽ được rửa sạch và bảo quản trong dung dịch đặc biệt để duy trì chức năng của gan trước khi ghép.

II. Người hiến tạng chết não

Người hiến tạng chết não là nguồn tạng chính cho việc ghép gan tại nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam. Tình trạng chết não được xác định khi não bộ ngừng hoạt động hoàn toàn, nhưng tim vẫn đập nhờ máy hỗ trợ. Điều này tạo điều kiện lý tưởng để lấy các cơ quan như gan, thận, và tim. Tuy nhiên, việc lựa chọn người hiến tạng phải tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng của mảnh ghép và an toàn cho người nhận.

2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn người hiến tạng

Các tiêu chuẩn lựa chọn người hiến tạng chết não bao gồm tuổi trẻ, nguyên nhân chết não do chấn thương sọ não, huyết động ổn định, và không có các bệnh lý nghiêm trọng khác. Những tiêu chuẩn này giúp đảm bảo rằng gan được lấy từ người hiến tạng có chất lượng tốt nhất, giảm thiểu nguy cơ biến chứng sau ghép. Tuy nhiên, việc tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn này cũng làm hạn chế số lượng tạng có thể sử dụng.

2.2. Đạo đức trong hiến tạng

Đạo đức trong hiến tạng là một vấn đề quan trọng cần được xem xét. Việc lấy tạng từ người hiến tạng chết não phải được thực hiện với sự đồng ý của gia đình và tuân thủ các quy định pháp lý. Nghĩa cử hiến tạng không chỉ mang lại sự sống cho người bệnh mà còn góp phần phát triển công nghệ y tế và chuyên ngành ghép tạng tại Việt Nam.

III. Cấy ghép gan và ứng dụng

Cấy ghép gan là một trong những thành tựu y học nổi bật nhất trong vài thập kỷ qua. Quy trình này đã cứu sống hàng ngàn bệnh nhân mắc bệnh lý gan giai đoạn cuối. Tại Việt Nam, ghép gan từ người hiến tạng chết não đã được thực hiện thành công từ năm 2010, và đã trở thành một phần quan trọng trong nghiên cứu y học và điều trị bệnh gan. Quy trình lấy gan từ người hiến tạng chết não đã được áp dụng rộng rãi và mang lại kết quả tích cực.

3.1. Kết quả sau ghép

Kết quả sau cấy ghép gan phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chất lượng của mảnh ghép, kỹ thuật phẫu thuật, và tình trạng sức khỏe của người nhận. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc sử dụng gan từ người hiến tạng chết não có tỷ lệ thành công cao, với tỷ lệ sống sót sau 1 năm lên đến 90%. Tuy nhiên, các biến chứng như thải ghép, nhiễm trùng, và suy gan vẫn có thể xảy ra và cần được theo dõi chặt chẽ.

3.2. Ứng dụng trong y học

Nghiên cứu và ứng dụng quy trình lấy gan từ người hiến tạng chết não không chỉ giúp cứu sống bệnh nhân mà còn góp phần phát triển công nghệ y tế và nâng cao chất lượng điều trị. Các kết quả nghiên cứu từ luận án này sẽ là cơ sở quan trọng để cải thiện quy trình lấy gan và ghép gan trong tương lai, đồng thời mở rộng cơ hội điều trị cho nhiều bệnh nhân hơn.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ghép tạng nói chung và ghép gan nói riêng là một trong những thành tựu y học nổi bật nhất trong vài thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, từ khi ra đời cho đến nay chuyên ngành này luôn phải đối mặt với vấn đề khan hiếm nguồn tạng hiến. Trong ghép gan, mảnh ghép có thể lấy toàn bộ gan từ ngƣời cho chết (bao gồm chết não và chết ngừng tim) hoặc một phần gan ngƣời cho sống. Xu hƣớng sử dụng nguồn tạng hiến khác nhau ở từng khu vực do vấn đề văn hóa.

Thống kê năm 2019 cho thấy, tại Châu Âu và Mỹ, hơn 90% nguồn tạng đến chủ yếu từ ngƣời cho chết não; tại Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc tỷ lệ ghép gan từ ngƣời cho sống chiếm hơn 2/3 tổng số lƣợng ghép gan. Mặc dù vậy, tính chung trên thế giới, ghép gan từ ngƣời cho chết não vẫn là hình thái phổ biến với số lƣợng gấp hơn 3 lần ghép gan từ ngƣời cho sống [1]. Trƣờng hợp ghép gan thành công đầu tiên đƣợc thực hiện năm 1967 bởi Thomas Starzl [2], gan đƣợc lấy từ ngƣời chết ngừng tim. Khái niệm chết não ra đời năm 1968 là một dấu mốc quan trọng, ngƣời chết não với tim còn đập chắc chắn đi đến cái chết là một nguồn hiến tạng lý tƣởng [3].

Sau sự kiện này, Fortner là tác giả đầu tiên thông báo 6 trƣờng hợp ghép gan từ ngƣời cho tạng chết não vào năm 1970 [4]. Tại Việt Nam, ghép gan đƣợc thực hiện vào năm 2004, tuy nhiên cho đến năm 2010 ghép từ ngƣời cho chết não đầu tiên mới đƣợc thực hiện thành công tại bệnh viện Việt Đức [5], [6]. Lựa chọn ngƣời cho gan chết não là bƣớc đầu tiên và đóng vai trò rất quan trọng để có đƣợc một mảnh ghép chất lƣợng tốt. Tiêu chuẩn ngƣời cho gan lý tƣởng bao gồm tuổi trẻ, chết não do chấn thƣơng sọ não, huyết động ổn định, không tăng Natri máu, thời gian hồi sức ngắn… giúp kết quả sau ghép rất tốt nhƣng cũng làm hạn chế số lƣợng tạng [7], [8].

Xem xét những yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng của ngƣời cho tạng chết não một cách hợp lý giúp cân bằng hai yếu tố trên, vừa tận dụng tối đa số lƣợng mảnh ghép vừa đảm bảo kết 2 quả sau ghép. Cho đến hiện nay, tại Việt Nam, các đặc điểm này chủ yếu đƣợc xem xét trên khía cạnh gây mê hồi sức. Năm 2016, Trịnh Hồng Sơn nghiên cứu số yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng của ngƣời cho tạng chết não có ảnh hƣởng đến chức năng gan ghép, tuy nhiên trên đối tƣợng là ngƣời cho tạng chết não ở Cộng hòa Pháp [9], [10]. Quy trình kỹ thuật lấy tạng là yếu tố mấu chốt để có một mảnh ghép tốt về cả giải phẫu và chức năng.

Những sai lầm kỹ thuật khi mổ lấy tạng có thể dẫn tới những tổn thƣơng tạng không thể khắc phục hoặc biến chứng nguy hiểm cho ngƣời nhận [11], [12]. Trên thế giới, các quy trình lấy đa tạng từ ngƣời cho chết não đƣợc xây dựng và đánh giá bởi rất nhiều tác giả, trong đó ngƣời đầu tiên là T. Tại Việt Nam, qua Đề tài cấp nhà nƣớc “Nghiên cứu triển khai ghép gan- thận từ người cho chết não” (mã số KC10.25/06-10), quy trình kỹ thuật lấy gan và đa tạng từ ngƣời cho chết não đã đƣợc xây dựng và thực hiện thành công đầu tiên tại bệnh viện Việt Đức từ năm 2010. Cho đến nay quy trình đã đƣợc áp dụng để lấy tạng trên rất nhiều ngƣời bệnh chết não, tuy nhiên kết quả chỉ mới đƣợc ghi nhận qua các thông báo lâm sàng [17].

Từ thực trạng nói trên cho thấy ở trong nƣớc hiện nay, chƣa có một nghiên cứu hệ thống nào hƣớng tới giải quyết 2 vấn đề lớn trong lĩnh vực lấy gan ở ngƣời cho tạng chết não. Một là những đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nào của ngƣời chết não phù hợp với tiêu chuẩn cho gan? Hai là quy trình kỹ thuật lấy gan từ ngƣời cho chết não đã đƣợc xây dựng và áp dụng tại bệnh viện Việt Đức có an toàn, hiệu quả hay không? Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng quy trình lấy gan ở ngƣời cho tạng chết não” nhằm 2 mục tiêu: 1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người cho tạng chết não 2. Đánh giá kết quả ứng dụng quy trình lấy gan ở người cho tạng chết não 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

GIẢI PHẪU, SINH LÝ GAN VÀ ỨNG DỤNG LẤY GAN Ở NGƢỜI CHO TẠNG CHẾT NÃO 1. Giải phẫu ứng dụng lấy gan ở ngƣời cho chết não 1. Cơ hoành và hệ thống các mạch máu trong ổ bụng * Cơ hoành Cơ hoành là một vách cơ hình vòm ngăn cách lồng ngực với ổ bụng. Nguyên ủy cơ hoành bám quanh lỗ dƣới lồng ngực bao gồm 3 phần: ức hoành, dƣới sƣờn và phần thắt lƣng.

Phần thắt lƣng bám vào cột sống thắt lƣng bởi 2 trụ hoành trái và trụ hoành phải cùng với các dây chằng cung ở 2 bên cột sống. Cơ hoành có 3 lỗ chính cho thực quản, ĐM chủ, TM chủ đi qua, trong đó lỗ ĐM chủ nằm thấp nhất và sâu nhất, lỗ này do hai trụ phải và trụ trái giới hạn nên [18]. Ứng dụng trong quá trình lấy tạng: để bộc lộ ĐM chủ dƣới cơ hoành trong thì chuẩn bị mạch máu cần giải phóng kéo thực quản sang bên trái và cắt 2 trụ hoành. Các sợi cân của cơ hoành dính trực tiếp vào TM chủ trên gan do đó quá trình lấy gan không thể tách rời TM ra khỏi cơ hoành mà cần phải lấy cùng một khối với cơ hoành sau đó phẫu tích tách cơ hoành khỏi TM chủ trên bàn rửa tạng.

* Động mạch và tĩnh mạch chủ bụng Sau khi chui qua lỗ ĐM chủ của cơ hoành, ĐM xuống bụng gọi là phần bụng của ĐM chủ, tới ngang đĩa gian giữa các đốt sống thắt lƣng IV và V thì chia làm 3 ngành cùng: ĐM chậu chung phải, ĐM chậu chung trái và ĐM cùng giữa. Trên đƣờng đi ĐM cho các nhánh ĐM hoành, ĐM thắt lƣng, ĐM 4 thân tạng, 2 ĐM thận ĐM mạc treo tràng trên, ĐM mạc treo tràng dƣới, ĐM tuyến thƣợng thận, các ĐM cho tinh hoàn ở nam và buồng trứng ở nữ [18]. Tĩnh mạch chủ dƣới đƣợc tạo bởi 2 TM chậu chung ở sƣờn phải đốt sống thắt lƣng IV, chạy lên trên dọc theo sƣờn phải cột sống thắt lƣng rồi chui qua lỗ cơ hoành lên ngực, đổ vào tâm nhĩ phải. TM chủ dƣới nhận máu từ các tạng và thành bụng trên đƣờng đi nó thu nhận các nhánh sau: các TM hoành dƣới; các TM thắt lƣng; TM thắt lƣng trên; các TM gan; các TM thận; TM tinh hoàn phải và trái ở nam hay TM buồng trứng phải và trái ở nữ [18].

Ứng dụng: trong khi bộc lộ ĐM và TM chủ ở dƣới thận tránh tổn thƣơng TM thắt lƣng ở phía sau, gây chảy máu rất khó kiểm soát. Nên bộc lộ thắt ĐM lách, ĐM mạc treo tràng dƣới để giảm lƣợng dịch rửa không cần thiết tới các cơ quan khác. Chú ý biến đổi ĐM cực dƣới thận xuất phát thấp hoặc xuất phát từ ĐM chậu để tránh làm tổn thƣơng và xác định vị trí đặt cannula rửa ĐM [19]. * Hệ tĩnh mạch cửa TM cửa đƣợc bắt đầu ở phía sau eo tụy bởi sự hợp nhất của 3 TM mạc treo tràng trên, TM lách và TM mạc treo tràng dƣới.

Thƣờng thì TM lách nhận thêm TM mạc treo tràng dƣới (tạo thành một thân chung lách mạc treo tràng), trƣớc khi hợp với TM mạc treo tràng trên thành TM cửa. Đôi khi TM mạc treo tràng dƣới không đổ vào TM lách, mà có thể đổ vào TM mạc treo tràng trên hoặc đổ vào đúng chỗ hợp lƣu giữa hai TM trên [18]. Ứng dụng: TM cửa chiếm 2/3 lƣu lƣợng máu vào gan do đó đƣờng rửa vào TM cửa rất quan trọng trong phẫu thuật lấy gan. Dựa vào cơ sở giải phẫu trên chúng ta có thể đặt đƣờng rửa gan vào một trong 3 thân chính hợp thành TM cửa: TM mạc treo tràng dƣới, TM lách và TM mạc treo tràng trên.

Giải phẫu gan * Vị trí, hình thể ngoài Gan nằm trong ổ bụng, tầng trên mạc treo đại tràng ngang, dƣới vòm hoành phải lấn sang trái, phía trên lên tới khoang gian sƣờn IV bên phải, bờ trƣớc gan chạy dọc bờ sƣờn phải. Gan bình thƣờng có màu nâu đỏ, bề mặt trơn- bóng, mật độ mềm, bờ sắc. Theo mô tả trong Gray‘s anatomy gan có 2 mặt bao gồm mặt hoành và mặt tạng. Mặt hoành trải rộng ở phía trên, phía trƣớc và phía sau của gan, còn mặt tạng tƣơng ứng với mặt dƣới của gan [20].

Ứng dụng trong lấy tạng: vì gan nằm sâu trong ổ bụng dƣới mạng sƣờn bên phải do đó việc tiếp cận và giải phóng gan tƣơng đối khó khăn cần đƣờng mở rộng rãi. Trong trƣờng hợp BN gầy thì đƣờng trắng giữa từ mũi ức đến xƣơng mu là đủ. Tuy nhiên, nếu BN béo, có ổ bụng sâu cần mở hình chữ thập để đủ rộng tiếp cận gan một cách an toàn. Dựa vào tính chất đại thể của gan mà nhận định bệnh lý liên quan đến nhu mô gan.

Nhu mô gan màu vàng, thƣờng rõ hơn khi ấn bề mặt gan bằng một ngón tay và bờ gan tù là những dấu hiệu của gan nhiễm mỡ. Gan nhạt màu hoặc tăng mật độ (chắc hơn) có thể gặp những bệnh nhân đƣợc truyền một lƣợng lớn các thuốc vận mạch khi huyết động không ổn định. Nhu mô gan tối sẫm và cứng đƣợc xác định bằng sờ nắn là biểu hiện xơ gan hoặc ứ máu tĩnh mạch [19]. Nhu mô gan bình thường Gan xơ Gan nhiễm mỡ H nh 1.

Vị trí, hình thể và các dạng nhu mô gan Nguồn: Trịnh Hồng Sơn [21] 6 * Cuống gan Trong các thành phần của cuống gan thì giải phẫu của TM cửa tƣơng đối hằng định và đã đƣợc trình bày ở phần trên. Chúng tôi chỉ trình bày dƣới đây giải phẫu của động mạch (ĐM) gan và đƣờng mật ngoài gan. - Động mạch gan Động mạch gan chung bắt đầu từ ĐM thân tạng chạy ra trƣớc, hơi xuống dƣới, và sang phải, bắt chéo bờ trái TM cửa, để ra trƣớc TM cửa và chia làm hai ngành tận là ĐM vị tá tràng và ĐM gan riêng. ĐM gan riêng tiếp tục chạy ngƣợc lên trên trong cuống gan, ở trƣớc và bên trái TM cửa, và tận hết bằng hai ngành phải và trái ở gần cửa gan.

ĐM gan là thành phần cuống gan có nhiều biến đổi giải phẫu nhất, rất nhiều tác giả đã đƣa ra các hệ thống phân loại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên Cứu Ứng Dụng Quy Trình Lấy Gan Từ Người Hiến Tạng Chết Não là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào quy trình kỹ thuật và ứng dụng trong việc lấy gan từ người hiến tạng chết não. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về các bước thực hiện mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tối ưu hóa quy trình để đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong cấy ghép gan. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các chuyên gia y tế, nhà nghiên cứu và sinh viên trong lĩnh vực ghép tạng, giúp họ nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành.

Để mở rộng hiểu biết về các nghiên cứu y học liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane watermark, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới who năm 2013. Những tài liệu này sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn các chủ đề y học đa dạng và bổ ích.