Tổng quan luận án

Ghép gan là phương pháp điều trị triệt để cho người bệnh mắc bệnh gan giai đoạn cuối, ung thư gan nguyên phát trong tiêu chuẩn và suy gan cấp. Mảnh ghép gan có thể thu nhận từ người cho sống hoặc người cho chết (bao gồm chết não và chết ngừng tim). Trên thế giới, nguồn tạng từ người cho chết não chiếm tỷ lệ chủ yếu ở các nước Âu - Mỹ (hơn 90%), trong khi tại một số quốc gia châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, ghép gan từ người cho sống chiếm hơn hai phần ba tổng số ca. Tính chung trên toàn cầu, số lượng ghép gan từ người cho chết não cao gấp hơn 3 lần so với ghép từ người cho sống.

Tại Việt Nam, ca ghép gan đầu tiên được thực hiện vào năm 2004, nhưng phải đến năm 2010 ca ghép gan từ người cho chết não đầu tiên mới được thực hiện thành công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong khuôn khổ Đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu triển khai ghép gan - thận từ người cho chết não" (mã số KC10.25/06-10). Mặc dù quy trình lấy tạng đã được triển khai sau đó, các báo cáo trong nước chủ yếu dừng lại ở các thông báo ca lâm sàng riêng lẻ hoặc tiếp cận dưới góc độ gây mê hồi sức, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào đánh giá toàn diện đặc điểm người cho và kết quả thực hiện quy trình kỹ thuật lấy gan tại Việt Nam.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Thành Khiêm với đề tài "Nghiên cứu ứng dụng quy trình lấy gan ở người cho tạng chết não" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật và thực tiễn trên.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người cho tạng chết não.
  2. Đánh giá kết quả ứng dụng quy trình lấy gan ở người cho tạng chết não.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tất cả người cho tạng chết não được phẫu thuật lấy đa tạng (trong đó có gan) để ghép toàn bộ đúng vị trí cho người nhận gan tương ứng.
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 5 năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử và các nghiên cứu quốc tế

Lịch sử ghép gan ghi nhận ca ghép đầu tiên trên người do Thomas Starzl thực hiện năm 1963 (từ người cho ngừng tim) và ca ghép thành công đầu tiên năm 1967. Sau khi tiêu chuẩn chết não được công bố năm 1968, Fortner và cộng sự (1970, công bố năm 1972) là những người đầu tiên thông báo 6 trường hợp ghép gan toàn bộ đúng vị trí từ người hiến chết não, trong đó có 4 trường hợp lấy đa tạng phối hợp. Đến năm 1984 và 1987, Thomas Starzl cùng cộng sự đã hệ thống hóa và công bố các quy trình kỹ thuật lấy tạng hoàn chỉnh, bao gồm kỹ thuật "phẫu tích nóng" (preliminary dissection/warm dissection) và "phẫu tích lạnh" (cold dissection/làm lạnh và lấy tạng nhanh).

Các nghiên cứu quốc tế tập trung vào hai hướng tiếp cận chính:

  1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tiêu chuẩn lựa chọn người hiến:
    • Tiêu chuẩn người hiến lý tưởng do Feng và cộng sự (2006) đề xuất: tuổi < 40, chết não do chấn thương sọ não (CTSN), huyết động ổn định, không tăng Natri máu, gan không nhiễm mỡ.
    • Nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm tạng, các tác giả quốc tế đã đề xuất tiêu chuẩn người cho mở rộng (Marginal/Extended Criteria Donors): Salvatore và cộng sự (2007), Furukawa và cộng sự (2007), Cescon (2008), Briceño và cộng sự (2010), và Hội nghị Đồng thuận Paris (2007).
    • Nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng người hiến: Hassanain và cộng sự (2016, n=1040), Pandya và cộng sự (2020, n=743), Kyoung và cộng sự (2020, n=179), Won-suk Lee và cộng sự (2021, n=221).
Tác giả (Năm) Cỡ mẫu (n) Mục tiêu nghiên cứu Kết quả và kết luận chính
Hassanain và cs (2016) 1040 Khảo sát đặc điểm các yếu tố sẵn có của người cho Tuổi trung bình: 47; nam giới: 56,3%; BMI > 30: 12,8%; tiền sử hút thuốc: 42,8%, tăng HA: 24,0%, rối loạn mỡ máu: 12,0%, đái tháo đường: 4,8%; nguyên nhân chết não: TBMN (56,3%), CTSN (23,2%). Tỷ lệ người cho tiêu chuẩn mở rộng tăng theo thời gian.
Pandya và cs (2020) 743 Tác động của tiêu chuẩn mở rộng lên kết quả ghép Phân tích nồng độ Natri máu, anti-HCV (+), ngừng tim. Cần thận trọng khi sử dụng mảnh ghép từ người cho có từ 3 yếu tố mở rộng trở lên hoặc gan nhiễm mỡ trên 33%.
Kyoung và cs (2020) 179 Ảnh hưởng của BMI đến nhiễm mỡ mảnh ghép So sánh nhóm nhiễm mỡ và không nhiễm mỡ. Mảnh gan nhiễm mỡ có liên quan trực tiếp đến nồng độ đường máu và chỉ số BMI của người hiến.
Won-suk Lee và cs (2021) 221 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng qua các thời kỳ Tuổi trung bình: 46; nam: 57%; nhóm máu O: 54%; BMI: 22,6; tiền sử tăng HA: 31%; nguyên nhân: CTSN (29,7%), vỡ phình mạch não (22,78%), tự tử (16,3%); thời gian hồi sức trung bình: 8,5 ngày; tỷ lệ dùng thuốc vận mạch: 64,6%; AST/ALT: 175/101 U/L.
  1. Kỹ thuật lấy tạng và tổn thương giải phẫu mảnh ghép:
    • Các công trình của Lerut và cs (1994, n=39), Soliman và cs (2000, n=572), Nijkamp (2006, n=241), Ausania và cs (2013, n=7164), S. Jung và cs (2017, n=165), Amit N. Rastogi và cs (2020, n=12), Gabriel C. Oniscu (2012) khảo sát tỷ lệ tổn thương nhu mô, mạch máu, kỹ thuật phẫu tích nóng/lạnh và kỹ thuật rửa tạng.
Tác giả (Năm) Kỹ thuật phẫu tích Cỡ mẫu (n) Tổn thương mảnh ghép ghi nhận Kết luận chính
Lerut và cs (1994) Không mô tả 39 Nhu mô: 5 (12,8%); ĐM: 9 (15,7%) Cần chuẩn hóa quy trình kỹ thuật lấy tạng.
Soliman và cs (2000) Không mô tả 572 Nhu mô: 23 (4%) Khuyến nghị phẫu thuật lại sớm các ca chảy máu sau mổ.
Nijkamp (2006) Phẫu tích nóng hoặc lạnh 241 Nhu mô: 50 (20,7%); ĐM: 30 (12,4%); TM: 4 (1,7%); Đường mật: 6 (2,7%) Tổn thương ĐM gan trong lúc lấy tạng làm tăng nguy cơ huyết khối ĐM sau ghép.
Ausania và cs (2013) Không mô tả (chết não/chết ngừng tim) 7164 Nhu mô: 838 (11,7%); ĐM: 112 (1,6%); TMC: 18 (0,3%); TM cửa: 33 (0,5%) Tỷ lệ tổn thương mạch giữa 2 nhóm như nhau; tổn thương nhu mô ở nhóm ngừng tim cao hơn.
Jung và cs (2017) Phẫu tích nóng 165 Nhu mô: 7 (4,2%); Mạch máu: 6 (3,6%) Phẫu tích nóng là kỹ thuật an toàn, kiểm soát giải phẫu tốt.
Rastogi và cs (2020) Phẫu tích nóng, rửa ngoài cơ thể 12 Không ghi nhận tổn thương giải phẫu Giảm dịch rửa, rút ngắn thời gian chuẩn bị trên bàn rửa, an toàn cho người nhận.

Thực trạng nghiên cứu tại Việt Nam và vị trí của luận án

Tại Việt Nam, các nghiên cứu ban đầu về lấy và ghép đa tạng được ghi nhận qua các công trình của Phạm Gia Khánh và Nguyễn Thanh Liêm (2006 - ghép thực nghiệm), Đoàn Quốc Hưng và Nguyễn Tiến Quyết (2008 - mô tả mô hình tại Pháp), Nguyễn Tiến Quyết và cs (2010 - ca ghép chết não đầu tiên), Trịnh Hồng Sơn và cs (2010, 2012, 2016), cùng các nghiên cứu về hồi sức chết não của Nguyễn Quốc Kính, Đào Thị Kim Dung.

Tuy nhiên, nghiên cứu của Trịnh Hồng Sơn (2016) thực hiện khảo sát các yếu tố người cho trên đối tượng người hiến tạng tại Cộng hòa Pháp. Luận án của Nguyễn Thành Khiêm là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam đánh giá đồng thời cả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người cho chết não và hiệu quả ứng dụng thực tế của quy trình phẫu thuật lấy gan trên chuỗi ca bệnh 10 năm tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở giải phẫu và sinh lý ứng dụng trong lấy gan

  1. Giải phẫu mạch máu và cơ hoành:

    • Cơ hoành: Phẫu tích bộc lộ động mạch (ĐM) chủ dưới cơ hoành bằng cách kéo thực quản sang trái và cắt hai trụ hoành. Do tĩnh mạch (TM) chủ trên gan dính chặt vào cơ hoành, quá trình lấy gan bắt buộc phải lấy kèm một phần khối cơ hoành, sau đó mới phẫu tích tách rời trên bàn rửa tạng.
    • Hệ mạch máu chủ bụng: Phẫu tích ĐM và TM chủ dưới thận cần tránh làm tổn thương các TM thắt lưng phía sau. Thắt ĐM lách và ĐM mạc treo tràng dưới (MTTD) giúp tập trung dịch rửa vào tạng cần lấy.
    • Hệ tĩnh mạch cửa: Hình thành từ sự hợp lưu của TM mạc treo tràng trên (MTTT), TM lách và TM MTTD. TM cửa cung cấp hai phần ba lưu lượng máu đến gan; cannula rửa gan có thể đặt qua TM MTTD, TM lách hoặc TM MTTT.
    • Biến đổi giải phẫu động mạch gan: Sử dụng phân loại 10 dạng của Michels (1966) và phân loại thu gọn 5 nhóm của Hiatt (1994) để nhận diện ĐM gan phải xuất phát từ ĐM MTTT hoặc ĐM gan trái xuất phát từ ĐM vị trái.
    • Đường mật ngoài gan: Cấp máu cho ống mật chủ (OMC) bắt nguồn từ ĐM tá tụy trên sau, ĐM túi mật, ĐM gan riêng và ĐM gan phải. Quy trình yêu cầu không phẫu tích bóc trần OMC quá mức và không phẫu tích ĐM gan quá cao (quá 2,5 cm trên ĐM gan phải và 1,5 cm trên ĐM gan trái) để bảo tồn mạng mạch nuôi dưỡng đường mật.
  2. Sinh lý học bảo quản tạng:

    • Hạ nhiệt độ xuống 4°C giúp giảm 95% nhu cầu tiêu thụ oxy của tế bào gan. Tuy nhiên, nhiệt độ lạnh ức chế bơm Na+/K+ ATPase, làm rối loạn cân bằng canxi nội bào, toan chuyển hóa yếm khí và làm cạn kiệt 90% dự trữ ATP trong vòng 4 giờ.
    • Dung dịch bảo quản: Dung dịch University of Wisconsin (UW) duy trì áp suất thẩm thấu bằng chất trơ chuyển hóa; dung dịch Custodiol (HTK) và Celsior có độ nhớt thấp, hỗ trợ tưới rửa nội mô vi mạch.
  3. Chẩn đoán chết não theo pháp luật Việt Nam:

    • Thực hiện theo quy định của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (2006):
      • Lâm sàng: Mất toàn bộ phản xạ thân não và nghiệm pháp ngừng thở (NPNT) dương tính (mất khả năng tự thở).
      • Cận lâm sàng: Điện não đồ đẳng điện (mất sóng điện não) hoặc chẩn đoán hình ảnh xác nhận ngừng tuần hoàn não (siêu âm Doppler xuyên sọ, chụp CLVT não, chụp mạch số hóa xóa nền DSA, chụp xạ hình đồng vị phóng xạ).
      • Thời gian: Đánh giá lâm sàng 3 lần, mỗi lần cách nhau 6 giờ (tổng thời gian tối thiểu 12 giờ).
      • Hội đồng chuyên môn: 3 bác sĩ đủ điều kiện đánh giá độc lập và ký biên bản tại 3 thời điểm.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên chuỗi ca bệnh lâm sàng.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn người cho gan:
    • Độ tuổi từ 18 đến 70.
    • Được Hội đồng chuyên gia Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chẩn đoán xác định chết não theo đúng luật định.
    • Gia đình có đơn tự nguyện hiến tạng.
    • Gan được lấy và ghép toàn bộ đúng vị trí tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
    • Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin nghiên cứu.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn người nhận gan:
    • Xơ gan giai đoạn cuối mất bù: Điểm MELD > 15 hoặc Child-Pugh > 7; hoặc có biến chứng nặng (cổ trướng kháng trị, xuất huyết tiêu hóa do tăng áp lực tĩnh mạch cửa, hội chứng gan thận, bệnh não gan, viêm phúc mạc tiên phát).
    • Ung thư biểu mô tế bào gan: Khối u đơn độc kích thước < 5 cm hoặc dưới 3 khối u (kích thước mỗi u < 3 cm) khu trú tại gan, chưa xâm lấn huyết khối TM cửa, chưa di căn ngoài gan.
    • Suy gan cấp: Do ngộ độc nấm, thuốc hoặc virus, có bệnh não gan độ II-IV và thỏa mãn 2/5 tiêu chuẩn tiên lượng nặng.
  • Tiêu chuẩn loại trừ:
    • Người cho chết ngừng tim, người cho có chia gan hoặc ghép giảm thể tích.
    • Người cho mắc các bệnh truyền nhiễm nặng (HIV, viêm gan cấp, lao tiến triển, sốt rét, virus cấp tính), ung thư di căn, xơ gan đại thể, hoại tử tế bào gan > 20%, gan nhiễm mỡ mức độ trung bình - nặng, chấn thương dập nát cuống gan hoặc nhu mô gan lan tỏa.
    • Gan lấy ra chuyển ghép tại bệnh viện khác hoặc hồ sơ bệnh án không đầy đủ.
  • Đánh giá suy chức năng gan nguyên phát (SCNNP) sau ghép: Sử dụng tiêu chuẩn Olthoff và cộng sự cùng các tiêu chuẩn đối chiếu của Ploeg, Dhillon, Broering, Cieślak.
Tác giả Tiêu chuẩn chẩn đoán suy chức năng gan nguyên phát
Ploeg và cs AST > 2000 IU/L, PT > 16 giây, và NH3 > 50 µmol/L trong các ngày 2 đến 7 sau mổ.
Dhillon và cs Dựa trên trung bình AST và ALT ngày thứ 2 sau mổ: (AST + ALT)/2 > 986 IU/L.
Broering và cs ALT hoặc AST hoặc glutamate dehydrogenase (GDH) > 2000 IU/L; hoặc phải truyền huyết tương tươi liên tục > 5 ngày sau mổ.
Cieślak và cs ALT hoặc AST > 2500 IU/L hoặc tỷ lệ Prothrombin < 50% trong suốt 7 ngày đầu sau mổ.
Olthoff và cs Xuất hiện ít nhất một trong ba tiêu chí trong 7 ngày đầu sau mổ:
1. Bilirubin toàn phần ≥ 10 mg/dL vào ngày thứ 7.
2. INR ≥ 1,6 vào ngày thứ 7.
3. AST hoặc ALT > 2000 IU/L ở bất kỳ thời điểm nào trong 7 ngày đầu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các cơ sở lý luận và y văn về lấy gan từ người cho chết não:

  1. Giải phẫu và sinh lý gan ứng dụng: Mô tả chi tiết cấu trúc cơ hoành, ĐM chủ bụng, TM chủ dưới, hệ thống TM cửa, các biến đổi giải phẫu cuống gan (phân loại Michels và Hiatt), tuần hoàn vi mạch đường mật ngoài gan và các biến đổi sinh lý tế bào gan trong môi trường bảo quản lạnh 4°C.
  2. Chẩn đoán chết não: Phân tích các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não trên thế giới (Harvard 1968, AAN 1995/2010) và quy định pháp lý tại Việt Nam theo Luật năm 2006.
  3. Kỹ thuật lấy gan và đa tạng: Trình bày chi tiết hai kỹ thuật lấy tạng cơ bản là "phẫu tích nóng" (bộc lộ cấu trúc khi tim còn đập) và "phẫu tích lạnh" (làm lạnh nhanh tại chỗ); các loại dung dịch rửa tạng (UW, Custodiol/HTK, Celsior); kỹ thuật phối hợp lấy đa tạng ngực - bụng theo trình tự ưu tiên: tim/phổi -> ruột non -> tụy -> gan -> thận.
Thứ tự thì mổ Phẫu thuật viên tim mạch (Phần ngực) Phẫu thuật viên gan mật (Phần bụng) Phẫu thuật viên tiết niệu (Phần bụng)
Thì 1 Rạch da mở ngực, thăm dò Rạch da mở bụng, thăm dò đại thể Phối hợp mở bụng và thăm dò
Thì 2 Thăm dò trung thất, đặt cannula ĐM chủ ngực Đánh giá gan, bộc lộ ĐM chủ bụng, TM chủ dưới Bộc lộ ĐM và TM chủ dưới thận
Thì 3 Chuẩn bị mạch máu tim/phổi Phẫu tích cuống gan, giải phóng các dây chằng Chuẩn bị mạch máu thận
Thì 4 Kẹp ĐM chủ ngực, xả máu, bơm dịch rửa lạnh Đặt cannula ĐM chủ bụng/TM cửa, xả TM chủ, truyền dịch rửa Phối hợp tưới rửa lạnh tại chỗ
Thì 5 Phẫu tích cắt lấy tim Lấy tụy / ruột non (nếu có) Hỗ trợ tưới rửa thận
Thì 6 Phẫu tích cắt lấy phổi Phẫu tích cắt lấy khối gan Lấy thận (từng quả hoặc nguyên khối)
Thì 7 Kiểm tra cầm máu, đóng ngực Kiểm tra ổ bụng Kiểm tra ổ bụng, đóng bụng
  1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng người cho và kết quả sau ghép: Tổng hợp các biến đổi sinh lý ở người chết não (hạ thân nhiệt, đái tháo nhạt, tăng Natri máu, bão catecholamine gây rối loạn huyết động), các tiêu chuẩn người cho mở rộng, tiêu chuẩn suy chức năng gan nguyên phát và các biến chứng mạch máu/đường mật sau ghép.

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày chi tiết phương pháp luận và các bước triển khai kỹ thuật:

  • Tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ: Quy định rõ ràng cho cả người hiến chết não và người nhận gan.
  • Quy trình kỹ thuật lấy gan áp dụng tại Bệnh viện Việt Đức:
    • Thì 1: Mở bụng và thăm dò: Mở bụng đường chữ thập hoặc đường trắng giữa mở rộng; đánh giá đại thể nhu mô gan (màu sắc nâu đỏ, mật độ mềm, bờ sắc; nhận diện gan nhiễm mỡ màu vàng bờ tù hoặc xơ gan sẫm màu gồ ghề).
    • Thì 2: Phẫu tích nóng bộc lộ mạch máu: Bộc lộ ĐM chủ dưới cơ hoành (cắt 2 trụ hoành); bộc lộ ĐM chủ và TM chủ dưới thận; đặt mốc chỉ chờ; phẫu tích TM MTTD hoặc TM lách; phẫu tích các nhánh cuống gan (ĐM gan chung, ĐM gan riêng, ĐM vị tá tràng, TM cửa, cắt OMC sát bờ trên tá tràng).
    • Thì 3: Làm lạnh tại chỗ và lấy gan thì lạnh: Heparin toàn thân (3 mg/kg); kẹp ĐM chủ dưới cơ hoành; mở đường xả máu tại TM chủ dưới; truyền dịch rửa lạnh (Custodiol hoặc UW) đồng thời qua cannula ĐM chủ bụng và cannula TM cửa; phủ đá xay làm lạnh bề mặt; cắt cuống gan, cắt TM chủ dưới trên và dưới gan, đưa khối gan ra ngoài.
    • Thì 4: Phẫu tích trên bàn rửa tạng (Back-table): Rửa sạch tạng qua các mạch máu đến khi dịch ra trong suốt; cắt lọc tổ chức xơ mỡ thừa, cơ hoành quanh TM chủ trên gan; kiểm tra giải phẫu ĐM gan; tiến hành sinh thiết gan tức thì đánh giá thoái hóa mỡ.
  • Thu thập chỉ tiêu nghiên cứu:
    • Đặc điểm người hiến: Nhân trắc (tuổi, giới, chiều cao, cân nặng, BMI), nguyên nhân chết não (CTSN, TBMN...), thời gian nằm hồi sức, số lượng thuốc vận mạch, xét nghiệm huyết học, sinh hóa (AST, ALT, Bilirubin, Albumin, Natri, Creatinine, PT/INR), miễn dịch (nhóm máu ABO, phản ứng chéo Cross-match, hòa hợp HLA).
    • Đặc điểm kỹ thuật và mảnh ghép: Kỹ thuật đặt cannula, lượng dịch rửa, thời gian thiếu máu lạnh, khối lượng mảnh ghép, đường kính mạch máu, hình thái giải phẫu ĐM theo Hiatt, tổn thương giải phẫu đại thể.
    • Kết quả người nhận: Diễn biến lâm sàng, lượng mật qua dẫn lưu, men gan (AST/ALT), Bilirubin, chức năng đông máu trong 7 ngày đầu, tỷ lệ suy chức năng gan nguyên phát theo Olthoff, biến chứng ngoại khoa (chảy máu, huyết khối ĐM gan, hẹp ĐM gan, huyết khối TM cửa, rò mật, hẹp đường mật) và tỷ lệ sống khi ra viện.
  • Xử lý số liệu và Đạo đức nghiên cứu: Tuân thủ các nguyên tắc y đức, bảo mật thông tin, được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học thông qua.

Chương 3: KẾT QUẢ

Cấu trúc kết quả nghiên cứu được tổ chức theo hệ thống số liệu, bảng biểu và biểu đồ phản ánh hai mục tiêu chính:

  1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người cho chết não:
    • Phân bố nhân trắc học: Tỷ lệ nam/nữ, độ tuổi trung bình, chỉ số BMI và mối liên quan với đường mở bụng.
    • Nguyên nhân chết não: Tỷ lệ chấn thương sọ não do tai nạn giao thông so với tai biến mạch máu não và các nguyên nhân khác; thời gian hồi sức chết não trung bình.
    • Tình trạng toàn thân và rối loạn sinh lý: Tần suất tụt huyết áp cần dùng thuốc vận mạch (Dopamine, Noradrenaline), rối loạn thân nhiệt, đái tháo nhạt và tăng Natri máu.
    • Cận lâm sàng: Xét nghiệm huyết học, mức độ tăng men gan (AST, ALT), bilirubin toàn phần, tình trạng rối loạn đông máu, lượng máu và chế phẩm máu đã truyền trong hồi sức.
    • Tỷ lệ người cho thỏa mãn tiêu chuẩn mở rộng và đặc điểm hòa hợp miễn dịch (tương thích ABO, phản ứng chéo lympho).
  2. Kết quả ứng dụng quy trình lấy gan và đánh giá mảnh ghép:
    • Đánh giá hình ảnh đại thể trong mổ và kết quả sinh thiết gan tức thì (tỷ lệ gan nhiễm mỡ hạt lớn/nhỏ).
    • Đặc điểm kỹ thuật: Vị trí và kích thước đặt cannula rửa ĐM chủ và TM cửa, thể tích dịch rửa trong và ngoài cơ thể.
    • Hình thái giải phẫu mảnh ghép: Khối lượng mảnh gan ghép, kích thước đường kính TM cửa, TM chủ và đường mật; tỷ lệ các biến đổi giải phẫu ĐM gan phân loại theo Hiatt; thời điểm phát hiện và phương pháp xử trí biến đổi giải phẫu.
    • Tỷ lệ tổn thương giải phẫu đại thể (nhu mô, mạch máu, đường mật) trong quá trình lấy tạng.
    • Thời gian thiếu máu lạnh của mảnh ghép gan.
  3. Kết quả sớm trên người nhận gan:
    • Diễn biến phục hồi chức năng gan trong 7 ngày đầu sau mổ: Động thái biến thiên của men gan AST, ALT (đỉnh tăng ở ngày 1-2 và giảm dần), Bilirubin toàn phần, INR và lượng dịch mật bài tiết qua dẫn lưu hàng ngày.
    • Tỷ lệ suy chức năng gan nguyên phát theo tiêu chuẩn Olthoff.
    • Tỷ lệ biến chứng ngoại khoa liên quan đến mảnh ghép (chảy máu, huyết khối mạch máu, biến chứng đường mật) và phân độ biến chứng theo thang điểm Clavien-Dindo.
    • Kết quả thành công và tỷ lệ sống của người bệnh khi xuất viện.

Chương 4: BÀN LUẬN

Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:

  1. Về đặc điểm người cho tạng chết não:
    • Bàn luận về mô hình bệnh tật người hiến tại Việt Nam (chủ yếu là nam giới trẻ tuổi bị CTSN) so với các nước phương Tây (tỷ lệ lớn là người cao tuổi bị TBMN và có bệnh nền tim mạch, chuyển hóa).
    • Phân tích tác động của thời gian hồi sức chết não, liều lượng thuốc vận mạch và tình trạng tăng Natri máu lên chất lượng tế bào gan.
    • Luận giải việc áp dụng tiêu chuẩn người cho mở rộng tại Việt Nam nhằm gia tăng nguồn hiến tạng nhưng vẫn đảm bảo an toàn sau ghép.
  2. Về quy trình kỹ thuật lấy gan:
    • Đánh giá ưu điểm của kỹ thuật "phẫu tích nóng": Cho phép bộc lộ giải phẫu rõ ràng khi tim còn đập, kiểm soát chính xác các biến đổi mạch máu, giảm nguy cơ tổn thương ĐM gan và rút ngắn thời gian chuẩn bị tạng trên bàn rửa.
    • Phân tích vai trò của kỹ thuật tưới rửa kép qua cả ĐM chủ bụng và TM cửa giúp hạ nhiệt độ nhu mô nhanh, rửa sạch hoàn toàn vi tuần hoàn gan so với kỹ thuật chỉ rửa qua ĐM đơn thuần.
    • Đánh giá hiệu quả của dung dịch bảo quản Custodiol/UW và phân tích tầm quan trọng của việc rút ngắn thời gian thiếu máu lạnh.
  3. Về xử trí biến đổi giải phẫu và tổn thương mảnh ghép:
    • Thảo luận các biến đổi giải phẫu ĐM gan theo phân loại Hiatt (như ĐM gan phải xuất phát từ ĐM MTTT hoặc ĐM gan trái từ ĐM vị trái); nhấn mạnh kỹ thuật lấy kèm mẩu ĐM chủ hoặc tạo hình mạch máu để đảm bảo tưới máu đầy đủ cho mảnh ghép.
    • Phân tích tỷ lệ tổn thương giải phẫu trong nghiên cứu so với các thống kê quốc tế của Nijkamp, Jung, Ausania; khẳng định quy trình phẫu thuật có độ an toàn cao.
  4. Về phục hồi chức năng gan và kết quả sau ghép:
    • So sánh diễn biến phục hồi sinh hóa và tiết mật của mảnh ghép với các nghiên cứu của Shiffmann, Đặng Kim Khuê, S. Jung.
    • Đánh giá tỷ lệ suy chức năng gan nguyên phát theo tiêu chuẩn Olthoff và các yếu tố liên quan từ người cho.
    • Phân tích nguyên nhân và giải pháp dự phòng các biến chứng ngoại khoa (huyết khối ĐM gan, biến chứng miệng nối đường mật) liên quan đến kỹ thuật lấy và bảo quản tạng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về các đặc điểm dịch tễ, nhân trắc, lâm sàng và cận lâm sàng của người cho tạng chết não trong mối liên hệ với chất lượng mảnh ghép gan.
  • Chuẩn hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận cho quy trình lấy gan từ người cho chết não, chứng minh tính ưu việt của kỹ thuật phẫu tích nóng kết hợp tưới rửa hai đường (ĐM chủ và TM cửa) trong điều kiện thực tiễn phẫu thuật tại Việt Nam.
  • Xác lập bằng chứng thực nghiệm về việc nhận diện và xử trí các biến thái giải phẫu động mạch gan theo phân loại Hiatt trong quá trình lấy tạng, giúp hạn chế nguy cơ tổn thương mạch máu nuôi dưỡng mảnh ghép.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khẳng định quy trình lấy gan từ người cho chết não áp dụng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là an toàn, hiệu quả, cho tỷ lệ tổn thương giải phẫu thấp và chức năng gan phục hồi tốt sau ghép.
  • Đưa ra khuyến cáo thực hành lâm sàng cho các kíp phẫu thuật: không phẫu tích bóc trần OMC để bảo tồn mạch nuôi đường mật; phối hợp nhịp nhàng giữa kíp lấy và kíp ghép tại cùng trung tâm nhằm rút ngắn tối đa thời gian thiếu máu lạnh.
  • Cung cấp căn cứ khoa học để các trung tâm ghép tạng tại Việt Nam xem xét mở rộng tiêu chuẩn lựa chọn người hiến tạng chết não một cách hợp lý, góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm nguồn tạng hiến.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm ngoại khoa chuyên sâu tuyến cuối (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức), nơi hầu hết các ca lấy và ghép được tiến hành song song tại chỗ, do đó thời gian thiếu máu lạnh được kiểm soát ở mức tối ưu.
    • Số liệu theo dõi kết quả sau ghép trong phạm vi luận án tập trung chủ yếu vào giai đoạn sớm (7 ngày đầu sau mổ) và thời điểm người bệnh xuất viện, chưa đánh giá chi tiết các biến chứng đường mật muộn xuất hiện sau nhiều năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu quy trình lấy và bảo quản gan trong các mô hình điều phối tạng liên viện, vận chuyển tạng qua khoảng cách địa lý xa với thời gian thiếu máu lạnh kéo dài hơn.
    • Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật bảo tồn tạng tiên tiến như máy tưới rửa tạng đẳng nhiệt hoặc hạ nhiệt có oxy (Machine Perfusion) đối với các mảnh ghép từ người cho tiêu chuẩn mở rộng.
    • Đánh giá theo dõi dài hạn chức năng mảnh ghép và tỷ lệ sống sau 5 năm, 10 năm của người nhận gan từ người cho chết não.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Phẫu thuật viên Ngoại Tiêu hóa - Gan mật tụy và Ghép tạng: Tham khảo chi tiết từng bước kỹ thuật phẫu tích nóng, kỹ thuật đặt cannula, kỹ thuật phẫu tích trên bàn rửa và phương pháp xử trí các dị dạng mạch máu cuống gan.
  • Bác sĩ Gây mê Hồi sức: Tham khảo các đặc điểm biến đổi sinh lý, rối loạn huyết động và chuyển hóa của người bệnh chết não để tối ưu hóa phác đồ hồi sức bảo vệ tạng hiến.
  • Nghiên cứu sinh, Học viên Sau đại học ngành Ngoại khoa: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu khoa học chuẩn mực, hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán chết não và tiêu chí đánh giá chức năng mảnh ghép gan sau mổ.
  • Điều phối viên ghép tạng và các nhà quản lý y tế: Làm căn cứ xây dựng tiêu chuẩn lựa chọn người hiến và quy trình phối hợp lấy đa tạng cấp quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Ca ghép gan từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện vào năm nào và tại đâu?

Ca ghép gan từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện thành công vào năm 2010 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước mã số KC10.25/06-10.

2. Hai kỹ thuật cơ bản trong phẫu thuật lấy gan từ người cho chết não là gì và kỹ thuật nào được luận án nhấn mạnh?

Hai kỹ thuật cơ bản là "phẫu tích nóng" (preliminary dissection - phẫu tích, bộc lộ các mạch máu và cuống gan khi tim còn đập) và "phẫu tích lạnh" (cold dissection - làm lạnh nhanh tại chỗ rồi mới phẫu tích). Luận án áp dụng kỹ thuật phẫu tích nóng kết hợp rửa hai đường (ĐM chủ bụng và TM cửa) nhằm kiểm soát giải phẫu an toàn và hạn chế tổn thương mạch máu.

3. Tiêu chuẩn chẩn đoán chết não tại Việt Nam theo luật định bao gồm những mốc thời gian và thành phần nào?

Theo Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người năm 2006, chẩn đoán chết não phải được 3 bác sĩ đủ điều kiện đánh giá lâm sàng độc lập qua 3 lần khám cách nhau mỗi 6 giờ (tổng thời gian tối thiểu 12 giờ), kết hợp với nghiệm pháp ngừng thở và một trong các tiêu chuẩn cận lâm sàng (điện não đồ mất sóng hoặc chẩn đoán hình ảnh khẳng định ngừng tuần hoàn não).

4. Phân loại giải phẫu động mạch gan nào được sử dụng trong nghiên cứu để đánh giá mảnh ghép?

Luận án sử dụng bảng phân loại 10 hình thái của Michels (1966) và bảng phân loại thu gọn 5 nhóm của Hiatt (1994) để nhận diện các biến đổi giải phẫu động mạch gan trong quá trình phẫu tích lấy tạng.

5. Tiêu chuẩn nào được sử dụng phổ biến nhất để chẩn đoán suy chức năng gan nguyên phát (SCNNP) sau ghép trong luận án?

Tiêu chuẩn của Olthoff và cộng sự được sử dụng phổ biến nhất, xác định SCNNP khi người nhận có ít nhất một trong các biểu hiện trong 7 ngày đầu sau mổ: Bilirubin máu ≥ 10 mg/dL vào ngày thứ 7; INR ≥ 1,6 vào ngày thứ 7; hoặc nồng độ men gan AST/ALT > 2000 IU/L ở bất kỳ thời điểm nào trong 7 ngày đầu.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Thành Khiêm đã nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người cho tạng chết não cùng kết quả ứng dụng quy trình lấy gan trong giai đoạn 10 năm tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Công trình khẳng định tính an toàn, hiệu quả của quy trình phẫu thuật phẫu tích nóng kết hợp tưới rửa hai đường ĐM - TM, giúp kiểm soát tốt các biến đổi giải phẫu và giảm thiểu tổn thương tạng. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho chuyên ngành ngoại tiêu hóa, phẫu thuật ghép tạng và hồi sức cấp cứu tại Việt Nam.