Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Theo Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, giáo dục đại học gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng hiện đại hoá hệ thống trên cơ sở kế thừa thành quả giáo dục dân tộc và tiếp thu xu thế giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới. Trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), giáo dục đại học Việt Nam xuất hiện sự cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục công lập và tư thục. Các trường đại học, cao đẳng phải đối mặt với áp lực chỉ tiêu tuyển sinh, từ đó đặt ra yêu cầu ứng dụng hoạt động Quan hệ công chúng (PR - Public Relations) nhằm quảng bá hình ảnh học hiệu và thu hút người học.

Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (ĐHSP - ĐHĐN) là một trong ba cơ sở đào tạo sư phạm trọng điểm của cả nước. Trong giai đoạn 2016 – 2020, Nhà trường đã có những đổi mới trong công tác tuyển sinh, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và xây dựng các kế hoạch truyền thông. Tuy nhiên, việc ứng dụng PR trong tuyển sinh vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa số lượng thí sinh đăng ký xét tuyển và số lượng thí sinh thực tế nhập học. Khóa luận tốt nghiệp ngành Cử nhân Báo chí của tác giả Phạm Thị Mỹ Lệ (người hướng dẫn: TS. Trần Thị Hòa, hoàn thành tháng 4 năm 2021) được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng này.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là khảo cứu hoạt động PR trong giáo dục, phân tích ưu điểm và hạn chế của hoạt động ứng dụng PR trong công tác tuyển sinh của Trường ĐHSP - ĐHĐN từ năm 2016 đến năm 2020, làm rõ các nguyên nhân, đề xuất giải pháp thiết thực và rút ra bài học kinh nghiệm ứng dụng PR trong tuyển sinh đại học.

Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả hoạt động ứng dụng PR trong công tác tuyển sinh của Trường ĐHSP – ĐHĐN từ năm 2016 đến năm 2020.
  2. Đánh giá hiệu quả hoạt động PR trong công tác tuyển sinh của Trường ĐHSP - ĐHĐN từ năm 2016 đến năm 2020.
  3. Đưa ra những bài học kinh nghiệm trong việc ứng dụng PR trong giáo dục nói chung và trong công tác tuyển sinh nói riêng.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm cơ sở lý luận về hoạt động PR nói chung, PR trong tuyển sinh đại học nói riêng, cùng toàn bộ các hoạt động ứng dụng PR trong công tác tuyển sinh thực tế tại Nhà trường. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Trường ĐHSP - ĐHĐN (kèm theo một số địa bàn tuyển sinh thực tế như Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên); phạm vi thời gian giới hạn trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý thuyết, khóa luận tiếp cận các quan điểm lý thuyết tiêu biểu về Quan hệ công chúng từ Viện PR của Anh (IPR), Frank Jefkins, Howard Stefenson và lấy định nghĩa của TS. Đinh Thị Thúy Hằng làm cơ sở lý luận trung tâm: PR là sự quản lý truyền thông nhằm xây dựng, duy trì mối quan hệ tốt đẹp và sự hiểu biết lẫn nhau giữa tổ chức, cá nhân với công chúng, tạo ra hình ảnh tích cực trên cơ sở một kế hoạch dài hạn, liên tục. Tác giả vận dụng hệ thống 6 hoạt động PR thực tiễn theo phân loại của TS. Đinh Thị Thúy Hằng, bao gồm: PR nội bộ, Quản lý ấn phẩm (Publications Management), Tổ chức sự kiện, Quan hệ với báo chí (Media Relations), PR cộng đồng (Community Relations), và Vận động hành lang (Lobbying).

Khóa luận áp dụng mô hình hoạch định chiến lược PR chuyên nghiệp RACE của Marston (1979) gồm 4 giai đoạn nối tiếp:

  • Research (Điều tra/Nghiên cứu): Xác định vấn đề, thu thập dữ liệu định tính và định lượng về công chúng.
  • Action (Tiến hành/Lập kế hoạch): Xây dựng mục tiêu, định hướng giá trị và kế hoạch hành động cụ thể.
  • Communication (Giao tiếp/Truyền thông): Vận hành mô hình truyền thông (Nguồn - Thông điệp - Kênh truyền - Người nhận).
  • Evaluation (Đánh giá): Đo lường hiệu quả tác động của các nỗ lực truyền thông đối với công chúng.

Bên cạnh đó, đề tài sử dụng khái niệm dịch vụ giáo dục đào tạo theo quan điểm của Philip Kotler (sản phẩm vô hình cung cấp tri thức) và khung lý luận về vai trò của PR trong tuyển sinh của tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân (2014) nhằm phân tích tác động của PR đối với việc tạo dựng dư luận xã hội, thu hút nhân lực giỏi, tiết kiệm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nhóm phương pháp lý thuyết và nhóm phương pháp thực tiễn:

  • Phương pháp lý thuyết: Phân tích, tổng hợp các tài liệu học thuật từ các công trình nghiên cứu PR trong nước và quốc tế.
  • Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Tiến hành khảo sát đối với gần 200 sinh viên Trường ĐHSP - ĐHĐN nhằm thu thập đánh giá thực tế về chất lượng tư vấn tuyển sinh và mức độ tiếp cận các kênh truyền thông.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Khai thác số liệu từ Đề án tuyển sinh của Đại học Đà Nẵng, báo cáo của Tổ tư vấn tuyển sinh Trường ĐHSP - ĐHĐN, số liệu thống kê dân số thanh niên và GDP của Tổng cục Thống kê, các văn bản chính sách giáo dục (như chính sách hỗ trợ sinh hoạt phí 3,63 triệu đồng/tháng cho sinh viên sư phạm theo quy định có hiệu lực từ 15/11/2020).
  • Phương pháp phân tích nội dung: Phân tích giao diện, tần suất, nội dung bài đăng trên website tuyển sinh, fanpage Facebook, ấn phẩm tờ rơi và quạt nhựa truyền thông của Nhà trường.
  • Phương pháp thống kê: Tổng hợp dữ liệu chỉ tiêu và số lượng nhập học thực tế giai đoạn 2016 – 2020; thống kê số lượng bài báo tuyển sinh trên các cơ quan báo chí điện tử như Giáo dục & Thời đại, Thanh niên, Dân trí.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc với 15 đối tượng (được mã hóa thông tin cá nhân), bao gồm: 3 giảng viên tham gia tuyển sinh cấp khoa (GV1, GV2, GV3), 3 cán bộ phụ trách công tác tuyển sinh và PR của trường (CB1, CB2, CB3), 6 sinh viên các khóa K16 đến K20 (SV1 đến SV6), và 3 phụ huynh có con theo học tại trường (PH1, PH2, PH3). Việc chọn mẫu phỏng vấn được thực hiện theo phương pháp ném tuyết (snowball sampling) qua hình thức phỏng vấn trực tiếp, gọi điện thoại và trao đổi trực tuyến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động PR trong công tác tuyển sinh trường đại học

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về PR, phân tích bản chất của PR như một công cụ truyền thông hai chiều mang tính khách quan, dễ hiểu và kết nối. Tác giả phân định hai hình thức triển khai PR gồm PR nội bộ (PR in-house) và PR thông qua các công ty dịch vụ truyền thông (PR Agency), đồng thời làm rõ 6 mảng hoạt động thực tiễn (PR nội bộ, quản lý ấn phẩm, tổ chức sự kiện, quan hệ báo chí, PR cộng đồng, vận động hành lang). Khung quy trình RACE của Marston (1979) được trình bày như một chuẩn mực trong hoạch định chiến lược PR chuyên nghiệp.

Về phương diện giáo dục đại học, chương 1 phân tích đặc thù của dịch vụ giáo dục và đào tạo, chức năng, nhiệm vụ của trường đại học trong nền kinh tế thị trường. Tác giả chỉ ra các nhóm nhân tố tác động đến công tác tuyển sinh đại học:

  • Nhân tố bên trong: Nguồn nhân lực truyền thông, ngân sách tài chính, và tầm nhìn - sứ mệnh của nhà trường.
  • Nhân tố bên ngoài: Quy mô và cơ cấu dân số (xu hướng suy giảm dân số độ tuổi thanh niên), thể chế chính trị - pháp luật (quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo), biến động tăng trưởng kinh tế, vị trí địa lý, đặc điểm văn hóa - xã hội vùng miền, và áp lực cạnh tranh từ các cơ sở giáo dục đại học khác.

Từ đó, chương 1 khẳng định vai trò trọng yếu của PR trong tuyển sinh: tạo dựng hình ảnh và dư luận tích cực trong xã hội, hỗ trợ thu hút giảng viên giỏi, tối ưu hóa chi phí truyền thông so với quảng cáo thuần túy, và nâng cao năng lực cạnh tranh học hiệu.

Chương 2: Thực trạng ứng dụng PR trong công tác tuyển sinh Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng từ năm 2016 đến năm 2020

Chương 2 trình bày quá trình phát triển của Trường ĐHSP - ĐHĐN từ cơ sở ban đầu là Trường Trung học Sư phạm Quảng Nam - Đà Nẵng (thành lập tháng 12/1975), nâng cấp thành Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam - Đà Nẵng (ngày 03/11/1976), tách độc lập trực thuộc Bộ GD&ĐT (ngày 27/02/1978), đến khi chính thức thành lập trường đại học thành viên trực thuộc Đại học Đà Nẵng theo Nghị định số 32/CP ngày 04/04/1994. Tính đến thời điểm nghiên cứu, trường có 14 Giáo sư/Phó Giáo sư, 84 Tiến sĩ, 192 Thạc sĩ, 69 Giảng viên chính; đào tạo 29 ngành đại học chính quy, 16 ngành cao học và 3 ngành nghiên cứu sinh; đạt chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục vào tháng 4/2016 và sở hữu chương trình Sư phạm Vật lý đạt chuẩn kiểm định quốc tế Đông Nam Á (AUN-QA).

Khóa luận tổng hợp và phân tích diễn biến chỉ tiêu và số lượng nhập học thực tế của Nhà trường qua bảng số liệu:

Năm tuyển sinh Chỉ tiêu tuyển sinh Số lượng hồ sơ nhập học thực tế Tỷ lệ nhập học so với chỉ tiêu
2015 - 2016 2.155 1.572 72,95%
2016 - 2017 2.324 1.778 76,51%
2017 - 2018 2.584 1.587 61,42%
2018 - 2019 2.340 1.496 63,93%
2019 - 2020 2.190 2.125 97,03%

Dữ liệu cho thấy trong giai đoạn 2016 – 2019, tỷ lệ nhập học thực tế chỉ đạt từ 60% đến 76% so với chỉ tiêu. Năm 2019 ghi nhận số lượng đăng ký xét tuyển đạt 9.500 hồ sơ (gấp gần 4 lần chỉ tiêu) nhờ triển khai gói học bổng 2 tỷ đồng, nhưng lượng thí sinh nhập học chính thức chỉ đạt 1.496 hồ sơ. Đến năm 2020, dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 làm lượng hồ sơ xét tuyển giảm còn khoảng 4.000, số lượng nhập học thực tế lại đạt mức cao nhất (2.125 sinh viên, tương đương 97,03% chỉ tiêu).

Khóa luận mô tả chi tiết các hoạt động PR thực tiễn đã được Nhà trường triển khai:

  • Chuẩn hóa nhận diện thương hiệu và PR nội bộ: Xây dựng hệ thống nhận diện đồng bộ (logo, trang phục cán bộ, bảng tên, bì thư, giấy tiêu đề, template thuyết trình, băng rôn với gam màu vàng chủ đạo); nâng cấp cơ sở vật chất (xây dựng khu nhà A6 gồm khu tự học và 4 tầng phòng học chuẩn chất lượng cao, cải tạo phòng học nhà B3, nhà thi đấu đa năng, sân bóng đá); tổ chức các diễn đàn đối thoại định kỳ giữa Ban Giám hiệu với sinh viên và tổ chức hội thảo quốc tế ("Giáo dục Đại học Việt Nam và Châu Á").
  • Tổ chức đội ngũ tư vấn tuyển sinh: Thành lập các đoàn tư vấn lưu động trực tiếp gồm 5 - 7 thành viên (giảng viên tâm lý hỗ trợ giải tỏa áp lực thi cử, cán bộ phụ trách quy chế, giảng viên chuyên ngành, sinh viên phụ trách kỹ thuật hình ảnh) đi đến các trường THPT tại Quảng Ngãi, Phú Yên; kết nối mạng lưới cựu sinh viên đang công tác giảng dạy tại các địa phương; duy trì trực tư vấn giải đáp thắc mắc trực tuyến 24/24.
  • Đổi mới ấn phẩm truyền thông: Giai đoạn 2016 – 2018 sử dụng tờ rơi, poster; năm 2020 chuyển sang sản xuất gần 1.000 quạt nhựa in thông tin tuyển sinh với kinh phí 18 triệu đồng nhằm tăng tính ứng dụng và thời gian lưu giữ thông tin của thí sinh.
  • Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông kỹ thuật số:
    • Fanpage Facebook của trường đạt trên 50.000 lượt theo dõi với 10.000 thành viên thường trực; tích hợp chatbot trả lời tự động và biểu mẫu trực tuyến để thu thập dữ liệu thí sinh.
    • Tổ chức các chương trình livestream tuyển sinh rút gọn thời lượng từ 2 - 3 giờ xuống 30 - 45 phút, phát vào khung giờ vàng, đạt từ 20.000 lượt tiếp cận mỗi số.
    • Phối hợp với đơn vị bên ngoài thực hiện quảng cáo hướng đối tượng (Targeted Ads) trên Facebook nhắm vào lứa tuổi 17 - 22 (trọng tâm là 17 - 18 tuổi) tại khu vực miền Trung (từ Thanh Hóa đến Phú Yên) và Tây Nguyên.
    • Khảo sát từ Tổ tư vấn tuyển sinh cho thấy hơn 68% trong tổng số 2.000 thí sinh tiếp cận thông tin tuyển sinh qua mạng xã hội Facebook.
  • Quan hệ báo chí, sự kiện và trách nhiệm cộng đồng: Phối hợp đăng tải bài viết định hướng tuyển sinh trên các báo điện tử (Giáo dục & Thời đại, Thanh niên, Dân trí); tổ chức sự kiện "Tự hào tuổi trẻ Đại học Sư phạm" (2018), cuộc thi "Ý tưởng khởi nghiệp" (2020); tổ chức tập huấn dạy học tích hợp cho giáo viên THCS huyện Hòa Vang; khoa Tâm lý - Giáo dục tổ chức triển lãm hỗ trợ trẻ tự kỷ; nghiên cứu chế tạo và lắp đặt máy sát khuẩn tay tự động có gắn logo trường tại các chợ dân sinh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong đợt dịch Covid-19.

Chương 3: Đánh giá hiệu quả hoạt động ứng dụng PR trong công tác tuyển sinh Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng từ năm 2016 đến năm 2020 và bài học kinh nghiệm

Chương 3 tổng kết các kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân cốt lõi trong hoạt động PR tuyển sinh của trường:

  • Thành tựu: Nhận diện thương hiệu được chuẩn hóa và nâng cao; phương thức tiếp cận chuyển biến sang đa kênh, ứng dụng công nghệ trực tuyến; thiết lập được sự tương tác gần gũi với học sinh và phụ huynh.
  • Hạn chế: Tỷ lệ nhập học thực tế trên số hồ sơ đăng ký xét tuyển ở giai đoạn 2016 – 2019 còn thấp; các ấn phẩm in giấy truyền thống giảm dần hiệu quả tiếp cận đối với nhóm thí sinh trẻ tuổi.
  • Nguyên nhân hạn chế: Nhà trường chưa thành lập phòng ban/bộ phận PR chuyên trách độc lập; đội ngũ làm công tác truyền thông chủ yếu là giảng viên, cán bộ kiêm nhiệm và thực hiện dựa trên kinh nghiệm cá nhân; kế hoạch phân bổ ngân sách PR tuyển sinh chưa mang tính chiến lược dài hạn.

Từ thực trạng trên, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp theo cấu trúc PR:

  1. Hoạt động PR nội bộ: Bồi dưỡng kỹ năng truyền thông số cho cán bộ, giảng viên; xây dựng cơ chế phối hợp thông tin thống nhất giữa các khoa và các phòng ban.
  2. Hoạt động PR với báo chí: Chủ động cung cấp thông cáo báo chí, duy trì mạng lưới liên lạc thường xuyên với các phóng viên mảng giáo dục.
  3. Hoạt động PR cộng đồng: Đẩy mạnh các hoạt động phục vụ cộng đồng gắn liền với chuyên môn đào tạo sư phạm và khoa học ứng dụng.
  4. Hoạt động PR trong vận động hành lang: Tăng cường tham vấn chính sách giáo dục, tận dụng các chính sách ưu đãi của Nhà nước (như hỗ trợ sinh hoạt phí ngành sư phạm) để định hướng thu hút người học.

Đồng thời, chương 3 đúc kết các bài học kinh nghiệm về việc áp dụng quy trình RACE trong hoạch định PR giáo dục, tối ưu hóa công nghệ số và duy trì đạo đức truyền thông đặt lợi ích của người học lên hàng đầu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và tổng hợp hệ thống số liệu thực tiễn về công tác tuyển sinh và truyền thông của Trường ĐHSP - ĐHĐN giai đoạn 2016 – 2020:

  • Số lượng hồ sơ nhập học thực tế tăng từ 1.572 (năm 2016) lên 2.125 (năm 2020), đưa tỷ lệ tuyển sinh đạt 97,03% chỉ tiêu năm 2020.
  • Lượng hồ sơ đăng ký xét tuyển đạt đỉnh 9.500 hồ sơ năm 2019 khi triển khai gói học bổng 2 tỷ đồng.
  • Kênh truyền thông Facebook trở thành kênh tiếp cận chủ lực với hơn 50.000 người theo dõi, các buổi livestream đạt trên 20.000 lượt tiếp cận/chương trình, và 68% thí sinh khảo sát xác nhận tiếp cận thông tin tuyển sinh qua mạng xã hội này.
  • Chi phí 18 triệu đồng cho 1.000 quạt nhựa tuyển sinh năm 2020 thể hiện sự chuyển dịch trong công tác sản xuất ấn phẩm thực tế.

Về mặt giải pháp, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả PR tuyển sinh đồng bộ trên 4 trục: PR nội bộ, PR báo chí, PR cộng đồng và vận động hành lang, gắn với việc thành lập bộ phận truyền thông chuyên trách.

So với các công trình nghiên cứu trước đó (như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Vân năm 2014, Lê Thị Hải Vân năm 2015, Nguyễn Thị Hằng năm 2015 chủ yếu tập trung vào vai trò PR tổng quát hoặc xây dựng thương hiệu chung), tác giả tự nêu đóng góp mới của đề tài là: đi sâu mô tả và phân tích sự chuyển dịch cụ thể của hoạt động ứng dụng PR trong bối cảnh công nghệ số bùng nổ và biến động thực tế (như dịch bệnh Covid-19, chuyển đổi sang livestream, tự động hóa tin nhắn, quảng cáo hướng đối tượng) tại một trường đại học sư phạm khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn thực tiễn được ghi nhận:

  • Phạm vi khảo sát định lượng dừng lại ở quy mô gần 200 sinh viên và 15 phỏng vấn sâu, chủ yếu tập trung trong nội bộ Nhà trường và một số địa phương lân cận, chưa mở rộng khảo sát diện rộng tới học sinh THPT tại toàn bộ các tỉnh khu vực miền Trung – Tây Nguyên.
  • Dữ liệu tài chính và ngân sách chi tiết cho từng hạng mục PR chưa được lượng hóa toàn diện do giới hạn tiếp cận số liệu quản lý nội bộ.
  • Hoạt động khảo sát năm 2020 chịu sự tác động gián tiếp từ bối cảnh dịch bệnh Covid-19 nên một số phỏng vấn phải chuyển sang hình thức gián tiếp qua môi trường mạng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát đối sánh hoạt động PR tuyển sinh giữa các trường đại học thành viên trong Đại học Đà Nẵng hoặc giữa các trường đại học sư phạm trọng điểm trên cả nước, đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về mô hình tối ưu hóa chi phí truyền thông số trong tuyển sinh đại học.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho:

  • Sinh viên ngành Báo chí, Truyền thông và Quan hệ công chúng: Tham khảo phương pháp xây dựng đề tài thực chứng, cách áp dụng mô hình lý thuyết RACE, thiết kế bảng hỏi khảo sát và cấu trúc bảng mã hóa phỏng vấn sâu phục vụ các học phần như Quan hệ công chúng và báo chí, Quan hệ công chúng ứng dụng.
  • Cán bộ quản lý tuyển sinh và truyền thông giáo dục: Tham khảo mô hình tổ chức đoàn tư vấn tuyển sinh đa năng, kinh nghiệm rút ngắn thời lượng livestream tối ưu khung giờ vàng, và các giải pháp PR cộng đồng gắn với trách nhiệm xã hội của cơ sở đào tạo đại học.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhập học thực tế so với chỉ tiêu tuyển sinh của Trường ĐHSP - ĐHĐN trong giai đoạn 2016 – 2020 biến động như thế nào?
Từ năm 2016 đến 2019, tỷ lệ sinh viên nhập học thực tế chỉ đạt từ 60% đến 76% chỉ tiêu (năm 2016: 1.572/2.155; 2017: 1.778/2.324; 2018: 1.587/2.584; 2019: 1.496/2.340). Riêng năm 2020, tỷ lệ này tăng lên 97,03% (2.125 hồ sơ nhập học trên 2.190 chỉ tiêu).

2. Đội ngũ tư vấn tuyển sinh trực tiếp tại các trường THPT của Nhà trường được tổ chức với cơ cấu như thế nào?
Đội ngũ lưu động gồm 5 đến 7 thành viên phối hợp: 1 giảng viên ngành Tâm lý hỗ trợ giải tỏa áp lực thi cử cho học sinh, 1 cán bộ tư vấn quy chế/chỉ tiêu/điểm chuẩn, các giảng viên đại diện các chuyên ngành đào tạo, và sinh viên tình nguyện hỗ trợ quay phim, chụp ảnh.

3. Hoạt động truyền thông tuyển sinh trên Facebook của trường ghi nhận những số liệu nào?
Trường xây dựng trang Facebook với hơn 50.000 người theo dõi (10.000 thành viên thường trực), triển khai livestream rút gọn thời lượng còn 30 - 45 phút thu hút từ 20.000 lượt tiếp cận mỗi số, chạy quảng cáo nhắm nhóm 17 - 22 tuổi từ Thanh Hóa đến Phú Yên và Tây Nguyên, và có 68% thí sinh khảo sát tiếp cận thông tin qua kênh này.

4. Vì sao năm 2019 số hồ sơ xét tuyển đạt 9.500 nhưng số nhập học thực tế chỉ có 1.496 sinh viên?
Năm 2019 là năm đầu tiên trường triển khai gói học bổng 2 tỷ đồng thu hút lượng lớn thí sinh đăng ký xét tuyển (gấp gần 4 lần chỉ tiêu), nhưng do tỷ lệ chuyển đổi từ nguyện vọng đăng ký sang nhập học chính thức còn thấp nên số lượng nhập học thực tế chỉ đạt 1.496 hồ sơ.

5. Nhà trường đã thực hiện đổi mới ấn phẩm truyền thông in ấn như thế nào trong năm 2020?
Nhận thấy hiệu quả tiếp cận của tờ rơi giấy thông thường suy giảm, năm 2020 trường đầu tư 18 triệu đồng sản xuất 1.000 cây quạt nhựa in thông tin tuyển sinh để tăng tính tiện dụng và gia tăng thời gian lưu giữ thông tin của học sinh.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Mỹ Lệ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về Quan hệ công chúng trong giáo dục và phản ánh bức tranh thực trạng ứng dụng PR trong tuyển sinh tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng giai đoạn 2016 – 2020. Dữ liệu nghiên cứu chỉ ra sự chuyển dịch từ các ấn phẩm truyền thống sang truyền thông số đa kênh, đồng thời chỉ rõ những nút thắt về nhân sự kiêm nhiệm và tỷ lệ chuyển đổi hồ sơ nhập học. Các giải pháp và bài học kinh nghiệm được đúc kết từ mô hình RACE mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác truyền thông tuyển sinh đại học trong bối cảnh tự chủ và cạnh tranh giáo dục.