CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam Cùng với sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trổng trọt nói riêng, việc sử dụng hóa chất BVTV đã gia tăng nhanh chóng. Ở Việt Nam, lượng và loại thuốc BVTV bắt đầu tăng từ những năm 1970, đặc biệt tăng nhanh từ cuối những năm 1980 đến 2010 (Phạm Văn Toàn, 2013). Theo thông tin của Bộ Nông nghiệp & PTNT(2010), từ chỗ chỉ có 77 loại hoạt chất được cho phép sử dụng năm 1991 đến năm 2010 có 437 thuốc trừ sâu, 304 thuốc diệt nấm và 160 thuốt diệt cỏ được cho phép sử dụng.
Trong hai thập niên này số lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng từ 20. Kết quả kiểm tra 25 mẫu rau tại các tỉnh phía Bắc, có tới 44% mẫu rau và tới 54% mẫu rau tại các tỉnh phía phát hiện có dư lượng thuốc BVTV ( Công bố của Cục Trồng trọt tại hội nghị ngày 25/8/2009). Trong đó có 8,6% mẫu được phát hiện có hàm lượng thuốc BVTV đủ khả năng gây ngộ độc cho người sử dụng (Võ Nhất Sinh, 2011). Theo số liệu của Bộ Y tế cho thấy gần 70% người sử dụng thuốc trừ sâu có triệu chứng ngộ độc (Nguyễn Ngọc Duy, 2011).
Tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật không có xu hướng giảm kèm theo đó là những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe con người và môi trường, ảnh hưởng đến sự phát triển của một nền nông nghiệp bền vững. Tuy vậy vai trò của hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp vẫn được thừa nhận. Theo số liêụ của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thì năm 2015, lượng thuốc BVTV đã sử dụng tri g̣ iá trên 35 tỷ đô la Mỹ, nhưng đã thu về trên 350 tỷ đô la Mỹ do số lượng và chất lượng nông sản không bi ̣mất đi vì dịch hại. Để phát huy tối đa hiệu quả của thuốc BVTV và sử sụng một cách hoàn toàn thì giải pháp tối ưu là phòng trừ sâu bệnh tổng hợp.
Trong đó, giải pháp đã và đang được chọn để hướng tới là sử dụng thuốc BVTV sinh học để thay thế. Theo báo cáo tổng kết của 10 nước ASEAN vào năm 2016 thì Việt Nam là nước đứng đầu ASEAN về số lượng cũng như chủng loại thuốc BVTV sinh học đã 3 đăng ký và sử dụng. Theo số liệu của Cục BVTV, thị trường thuốc BVTV sinh học vào năm 2019 của Việt Nam ước tính đạt giá trị 30,7 triệu USD và đến năm 2024 dự tính sẽ đạt 65,7 triệu USD, với mức tăng trưởng trên 16,4%/năm. Hiện nay, một số công nghệ sản xuất thuốc BVTV sinh học phổ biến trên thế giới cũng đã được đăng ký và ứng dụng tại Việt Nam như: Thuốc BVTV sinh học nano, Chitosan, chế phẩm virus nhân đa diện NPV, chế phẩm vi sinh, chế phẩm nấm đối kháng, thuốc BVTV chiết xuất từ thảo mộc.
Một số các hoạt chất thuốc BVTV sinh học có khả năng phòng ngừa sinh vật gây hại cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng sản xuất và đăng ký được phép sử dụng tại Việt Nam như : Saponin (từ khô dầu sở), Matrine (cây khổ sâm), Eugenol (Hương nhu), Carvacrol (Cỏ xạ hương), Artemisinin (từ cây Thanh hoa hoa vàng), Cucuminoid ( từ củ nghệ vàng), các tinh dầu như dầu chanh, cam, dầu hạt bông, dầu đinh hường, …Bên cạnh đó không thể không nhắc đến thuốc trừ sâu được sinh học Bt được nghiên cứu rộng rãi ở trong và ngoài nước với những ứng dụng hiệu quả bảo vệ cây trồng, an toàn với môi trường. Tính đến tháng 6/2020, danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam ban hành kèm theo thông tư số 10/2019/TT-BNNPTNT ngày 20/9/2019 của Bộ NN-PTNT đã có hơn 1.000 hoạt chất với hơn 4.000 tên thương phẩm. Trong đó, thuốc BVTV sinh học có 231 hoạt chất với 721 tên thương phẩm, chiếm 18% tổng các thuốc BVTV trong danh mục. Dù số lượng các thuốc BVTV sinh học tăng nhanh nhưng doanh số chỉ đạt dưới 10% tổng doanh số thuốc BVTV.
Thuốc BVTV sinh học cũng còn bộc lộ một số nhược điểm như: Giá thành cao, hiệu lực phòng trừ dịch hại của một số thuốc sinh học thế hê ̣cũ còn hẹp và chậm hơn các thuốc BVTV hóa học. Thời gian bảo quản của nhiều loại thuốc BVTV sinh học thường ngắn hơn thuốc BVTV hóa học. Nông dân có thói quen thích sử dụng thuốc BVTV có hiệu lực nhanh dẫn đến khối lượng và số lượng thuốc BVTV sinh học dùng trong sản xuất cò ̣n hạn chế. Để giảm thiểu tác động tiêu cực của các loại thuốc BVTV hóa học có độc tính 4 cao đến sức khỏe người và môi trường, chúng ta cần phải đẩy nhanh tốc thay thế chúng bằng các loại thuốc BVTV sinh học và thuốc BVTV hóa học thế hệ mới ít độc đối với người, sinh vật có ích và môi trường.Tổng quan về thuốc trừ sâu sinh học Bacillus thuringiensis Thuốc trừ sâu sinh học hay thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học là các chất trong tự nhiên có khả năng kiểm soát dịch hại bằng các cơ chế không độc.
Thuốc trừ sâu sinh học là các sinh vật sống (thiên địch) hoặc chế phẩm của chúng (hóa chất thực vật, chế phẩm vi sinh) hoặc hóa chất truyền tin (semiochemical) được sử dụng để quản lý dịch hại cho thực vật. Thuốc trừ sâu sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cây trồng, mặc dù hầu hết loại thuốc này thường được kết hợp với các công cụ khác (ví dụ thuốc trừ sâu hóa học) như một phần của hoạt động quản lý dịch hại bằng phương pháp sinh học (Lê Xuân Định, 2015). Bacillus thuringiensis (Bt) là loài vi khuẩn đất điển hình được phân lập ở vùng Thuringia, Đức. Bt có khả năng tổng hợp protein gây tệ liệt ấu trùng của một số loài côn trùng gây hại, trong đó có sâu đục quả bông, các loài sâu đục thân ngô Châu á và Châu Âu, chúng đều là sâu hại thực vật phổ biến, có khả năng gây ra những sự tàn phá nghiêm trọng.
Bt là một loại vi khuẩn có độc tố giống với một số hợp chất hóa học được sử dụng thương mại để kiểm soát côn trùng trong sản xuất nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng. Điều quan trọng là Bt an toàn cho con người và là thuốc trừ sâu sinh học tương thích với môi trường được sử dụng rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Hơn nữa, gen Bt diệt côn trùng đã được tích hợp vào một số loại cây trồng chính, làm cho chúng có khả năng kháng côn trùng và do đó cung cấp một mô hình cho kỹ thuật di truyền trong nông nghiệp (Theo trung tâm kiến thức toàn cầu về cây trồng CNSH cập nhật tháng 3/2006). Đặc điểm và đặc tính về độc tố của Bacillus Thuringiensis Đặc điểm của Bacillus Thuringiensis Bacillus thuringiensis là một loài vi khuẩn Gram dương hiếu khí; Sống trong đất, trong nước, lá cây, côn trùng, tuyến trùng…; Có khả năng tạo ra các tinh thể protein độc trong quá trình sinh bào tử (Leon Rabinovitch et al, 2017).
Dựa theo thông tin cung cấp của trang thông tin - Viện Công nghệ sinh học và ứng dụng vi sinh miền Nam ( 2018), nhận biết đặc điểm của chủng Bt. Tế bào của Bt đứng riêng rẽ và xếp thành từng chuỗi, khi trưởng thành tạo một bào tử ở giữa. Bào tử có dạng hình elip, tròn đầu, chứa một tinh thể độc hình quả trám có bản chất protein. Khi ở thể sinh dưỡng tế bào có dạng que, hai đầu tù, kích, bắt màu gram dương.
Chúng thường tồn tại 1 cá thể hoặc 2 cá thể liền nhau, tạo thành chuỗi. Lúc này vi khuẩn sinh trưởng nhanh, trao đổi chất nhiều và dễ nuôi cấy trên môi trường. Khi vi khuẩn già đi một đầu sẽ hình thành bào tử hình bầu dục, còn đầu kia hình thành tinh thể hình thoi, đây gọi là giai đoạn nang bào tử (hình trứng dài, to hơn thể sinh dưỡng). Khi nang bào tử phát triển đến một giai đoạn nào đó, chúng sẽ nứt ra, giải phóng bào tử và tinh thể.
Tinh thể là một loại protein, là chất diệt sâu có hiệu quả chủ yếu là diệt sâu. Vi khuẩn Bt có nhu cầu dinh dưỡng không cao. Chất dinh dưỡng chủ yếu là protein động thực vật, có thể phát triển bình thường trong nhiều nguồn nitơ, nguồn cacbon và muối vô cơ. Đặc tính của chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis Bacillus thuringiensis có khả năng tạo ra 4 loại độc tố trong quá trình phát triển của chúng: Ngoại độc tố (alpha - exotoxin) hay còn gọi là photpholipase – C; Ngoại độc tố (beta - exotoxin) hay còn gọi là ngoại độc tố bền nhiệt; Nội độc tố (gama - endotoxin) hay còn gọi là tinh thể độc; Độc tố tan trong nước.
6 Trong bốn loại độc tố trên, đối tượng thường được quan tâm và nghiên cứu là độc tố tan trong nước và tinh thể độc. Và trong nghiên cứu này tìm hiểu về tinh thể độc để ứng dụng diệt sâu. Vi khuẩn Bt gây bệnh cho côn trùng qua con đường tiêu hóa nên khi các tinh thể độc từ bào tử tiết ra trong cơ thể vật chủ làm chúng ngừng ăn và chết. Các chủng khác nhau thuộc loài Bt sinh ra hai loại chất độc chính, là các chất độc tinh thể (Cry - Crustal) được mã hóa bởi các gen Cry khác nhau, đây cũng là một trong các dấu hiệu dùng để phân loại các nhóm Bt và các chất độc phân giải tế bào (Cyt - Cytolytic) có tác động riêng rẽ và tổ hợp cùng Cry làm tăng tác dụng của tinh thể độc.
Nhóm tinh thể độc (hay tinh thể độc Cry) do nhà khoa học E. Berliner tìm ra lần đầu tiên vào năm 1915, sau đó năm 1927, nhà khoa học O. Mattes đã tìm ra một loại tinh thể được tạo ra trong cơ thể Bt khi chúng bắt đầu tạo bào tử. Tinh thể độc được tạo ra với lượng lớn hơn nhiều và có hiệu quả chính gây độc cho côn trùng.
Mãi đến năm 1955, người ta mới biết được tinh thể này có bản chất là protein và có liên quan đến độc tính của Bt. Tinh thể độc được bắt đầu tạo ra khi khởi đầu quá trình hình thành màng bào tử. Khi được kết tinh thành tinh thể có nhiều hình dạng khác nhau, chủ yếu là hình thoi. Tinh thể không hòa tan trong nước, hoặc các chất hữu cơ Chloroform, Acetol, ether, nhưng có thể hòa tan trong dung dịch kiềm.
Tinh thể có thể ổn định trong các dung dịch có phạm vi pH rộng (4 – 12), có thể bị biến tính trong acid trichloaxetic, clorua thủy ngân. Tuy nhạy cảm với nhiệt độ cao song có tính chịu nhiệt nhất định (ở 65oC có thể giữ được 1 giờ, 80oC có thể giữ được 20 phút).