Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Huyện Sơn Dương là địa bàn miền núi thuộc tỉnh Tuyên Quang, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi phía Bắc với địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên. Phía Bắc huyện đặc trưng bởi địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn xen lẫn núi đá vôi, trong khi phía Nam có địa hình đồi bát úp thoải dần. Địa bàn có mạng lưới sông suối dày đặc, tiêu biểu là lưu vực sông Lô và sông Phó Đáy cùng hệ thống đầm nước, ruộng trũng. Điều kiện tự nhiên này tạo tiềm năng lớn để phát triển đàn đại gia súc, nhưng đồng thời là môi trường thuận lợi cho ốc nước ngọt sinh sôi, duy trì vòng đời ký sinh trùng đường mật.
Bệnh sán lá gan (Fasciolosis) ở trâu, bò là bệnh truyền lây mạn tính phổ biến do sán lá thuộc giống Fasciola gây ra. Bệnh không làm gia súc phát ốm cấp tính hay chết đột ngột mà âm thầm làm con vật gầy còm, thiếu máu, suy nhược, giảm sản lượng thịt và sữa, kéo tụt hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, tập quán chăn nuôi tại địa phương còn tồn tại nhiều bất cập: trâu bò chủ yếu thả rông hoặc chăn thả tự nhiên, chuồng trại tạm bợ, thiếu hố ủ phân đạt chuẩn. Mỗi ngày, một con trâu hoặc bò thải từ 15 đến 20 kg phân ra môi trường; lượng phân tươi chứa vi khuẩn và trứng giun sán này thường bị thải trực tiếp xuống nguồn nước hoặc bón ngay cho cây trồng, gây ô nhiễm không khí và phát tán mầm bệnh trên đồng cỏ. Trước thời điểm nghiên cứu, tại huyện Sơn Dương chưa có công trình khảo sát toàn diện về dịch tễ bệnh sán lá gan và đánh giá giải pháp xử lý phân gia súc bằng vi sinh.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản:
- Mục tiêu tổng quát:
- Xác định được tình hình nhiễm sán lá gan trên đàn trâu, bò.
- Ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được tình hình nhiễm sán lá gan trên đàn trâu, bò tại một số xã của huyện Sơn Dương - tỉnh Tuyên Quang.
- Ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu triển khai theo 5 nội dung chính:
- Nội dung 1: Điều tra tình hình chăn nuôi trâu bò, thực trạng xử lý phân và công tác phòng chống bệnh sán lá gan tại địa phương.
- Nội dung 2: Khảo sát sự lưu hành bệnh sán lá gan trên đàn trâu bò theo địa bàn xã, lứa tuổi, mùa vụ và tính biệt.
- Nội dung 3: Mổ khám thu thập mẫu bệnh phẩm và định danh loài sán lá gan bằng kỹ thuật hình thái học.
- Nội dung 4: Điều tra thực trạng xử lý phân, đánh giá mức độ ô nhiễm không khí và mật độ trứng giun sán trong phân trước xử lý.
- Nội dung 5: Thử nghiệm ứng dụng 3 loại chế phẩm sinh học (EMUNIV, EMIC, EMZEO) trong ủ phân trâu bò và đánh giá hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm mùi cùng trứng ký sinh trùng sau xử lý.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Đàn trâu, bò ở các lứa tuổi và bệnh sán lá gan do các loài thuộc giống Fasciola gây ra.
- Phạm vi không gian: 5 xã đại diện của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang gồm Bình Yên, Trung Yên, Phúc Ứng, Ninh Lai và Chi Thiết. Địa điểm xét nghiệm và phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Thực hiện từ ngày 28/05/2020 đến ngày 28/11/2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về phân loại học động vật, sán lá gan ký sinh ở gia súc nhai lại thuộc ngành Plathelminthes, phân ngành Platodes, lớp Trematoda, phân lớp Prosostomadidea, bộ Fasciolida, phân bộ Fasciolata, họ Fasciolidae, phân họ Fasciolinae và giống Fasciola Linnaeus, 1758 (theo Skrjabin và cs., 1977; Nguyễn Thị Lê và cs., 1996). Giống này gồm 2 loài chính:
- Fasciola gigantica (Cobbold, 1885): Chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng (dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm), hai rìa thân song song, đuôi tù, không có phần "vai" rõ rệt, nhánh ruột tỏa nhiều nhánh ngang; trứng hình bầu dục màu vàng nâu kích thước 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm.
- Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758): Thân rộng, dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần trước thân nhô ra tạo thành đôi "vai" bè sang hai bên, rìa thân phình ở vai rồi thót nhọn về phía đuôi; trứng kích thước 0,130 - 0,145 x 0,07 - 0,09 mm.
Vòng đời của sán lá gan trải qua 5 giai đoạn nối tiếp: Trứng theo mật và phân ra ngoại cảnh, gặp nước ở nhiệt độ 15 - 30°C sau 10 - 25 ngày nở thành mao ấu (Miracidium). Mao ấu bơi tìm vật chủ trung gian là ốc nước ngọt họ Lymnaea (Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis). Trong cơ thể ốc, ấu trùng phát triển qua các giai đoạn bào ấu (Sporocyst), lôi ấu (Redia thế hệ I và II) và vĩ ấu (Cercaria) trong thời gian 50 - 80 ngày. Khi thoát khỏi ốc, vĩ ấu rụng đuôi, kết kén thành nang ấu (Adolescaria) bám vào cây cỏ thủy sinh hoặc trôi nổi trong nước. Gia súc nuốt phải kén, ấu trùng thoát vỏ tại dạ dày - ruột, di hành qua 3 con đường (xuyên vách ruột qua tĩnh mạch cửa, xuyên qua màng ruột vào xoang phúc mạc xuyên vỏ gan, hoặc đi ngược dòng dịch mật) để đến định vị tại ống dẫn mật. Sau 79 - 88 ngày, sán trưởng thành bắt đầu đẻ trứng; sán có thể ký sinh 3 - 5 năm hoặc kéo dài tới 11 năm.
Về cơ chế bệnh lý, sán non di hành gây tổn thương cơ học, xuất huyết nhu mô gan và viêm phúc mạc. Độc tố do sán tiết ra gây hủy hoại máu, suy giảm Albumin, tăng Globulin, dẫn tới xơ hóa mô gan, teo gan, giãn và canxi hóa thành ống mật, làm con vật suy nhược, sút cân, phù thũng vùng ức, yếm và giảm tiết sữa 30 - 50%. Các hoạt chất điều trị đặc hiệu được ghi nhận gồm Nitroxynil (chế phẩm Fasciolid 25%, tiêm dưới da 1 ml/25 kg thể trọng) và Triclabendazole (chế phẩm Fasinex, uống 10 - 12 mg/kg thể trọng diệt cả sán non và sán trưởng thành).
Trong phần ứng dụng xử lý chất thải hữu cơ, khóa luận sử dụng 3 chế phẩm vi sinh:
- EMUNIV (Công ty CP Vi sinh Ứng dụng sản xuất, gói 200g): Chứa Bacillus subtilis ($10^8$ CFU/g), Bacillus licheniformis ($10^7$ CFU/g), Bacillus megaterium ($10^7$ CFU/g), Lactobacillus acidophilus ($10^8$ CFU/g), Lactobacillus plantarum ($10^8$ CFU/g), Streptomyces sp. ($10^7$ CFU/g), Saccharomyces cerevisiae ($10^7$ CFU/g).
- EMIC: Tập hợp đa chủng vi sinh vật thuộc các giống Bacillus, Lactobacillus, Streptomyces, Saccharomyces.
- EMZEO (Công ty TNHH CNSH Đức Bình sản xuất): Dạng bột, tập hợp vi sinh vật phân giải protein, tinh bột, cellulose, hemicellulose, lignin và lipid.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế như sau:
- Phương pháp chọn mẫu phân: Lấy mẫu chùm nhiều bậc cắt ngang. Tổng quy mô mẫu là 300 con (200 trâu và 100 bò) nuôi tại 5 xã (mỗi xã lấy 60 mẫu phân tại 4 thôn). Mẫu phân tươi (~30g/mẫu) lấy trực tiếp từ trực tràng hoặc ngay khi vừa thải ra, phân nhóm theo 4 lứa tuổi: 1 - 2 tuổi, >2 - 5 tuổi, >5 - 8 tuổi và >8 tuổi.
- Kỹ thuật xét nghiệm phân: Dùng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) để phát hiện trứng sán lá gan dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần. Cường độ nhiễm xác định bằng buồng đếm McMaster (Jorgen Hansen và Brian Perry, 1994), phân chia theo 3 mức độ: nhẹ ($\le 300$ trứng/g phân), trung bình ($> 300 - 600$ trứng/g phân) và nặng ($> 600$ trứng/g phân).
- Phương pháp mổ khám và định loại sán: Thực hiện mổ khám không toàn diện trên 50 gan trâu, bò tại các điểm giết mổ theo phương pháp Skrjabin (1928), thu thập sán ký sinh ở nhu mô gan, ống mật và túi mật; làm tiêu bản cố định, nhuộm carmin và giám định loài theo khóa phân loại của Nguyễn Thị Lê và cs. (1996).
- Phương pháp điều tra chăn nuôi và ô nhiễm: Phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu hỏi tại 50 hộ chăn nuôi (10 hộ/xã). Đánh giá cảm quan ô nhiễm mùi hôi theo 3 mức (không mùi, ít mùi, nặng mùi) tại 5 hộ chăn nuôi và 25 hộ dân sinh sống trong bán kính 50 - 100m xung quanh.
- Thử nghiệm ủ phân: Bố trí tại 5 hộ chăn nuôi với khối lượng 4 - 5 tấn phân/hộ:
- Chế phẩm EMUNIV: Hòa 1 gói 200g vào 5 lít nước tưới cho 1 tấn phân trâu bò, đánh đống, che bạt kín ủ 25 - 30 ngày (áp dụng tại 2 hộ).
- Chế phẩm EMIC: 300g hòa nước tưới cho 1 tấn phân, che bạt, đảo trộn sau 7 - 10 ngày (áp dụng tại 1 hộ).
- Chế phẩm EMZEO: Dùng 3 gói (600g) hòa nước tưới đều cho 1 tấn phân, đảo trộn, che bạt ủ 25 - 30 ngày (áp dụng tại 2 hộ).
- Xét nghiệm trứng giun tròn bằng phương pháp phù nổi nước muối bão hòa và trứng sán lá bằng phương pháp lắng cặn, đếm tổng số trứng/gam phân trên buồng đếm McMaster trước và sau khi ủ.
- Xử lý số liệu: Theo phương pháp thống kê sinh học trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện (2008), phân tích trên phần mềm Microsoft Excel 2010.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc điểm địa hình lòng chảo, đồi núi thấp xen kẽ hệ thống sông suối của huyện Sơn Dương; nêu rõ nguy cơ mầm bệnh ký sinh trùng phát tán từ tập quán chăn nuôi thả rông và lượng phân đại gia súc thải trực tiếp ra môi trường. Xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dịch tễ học thú y và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở kiểm soát bệnh sán lá gan, tận dụng phân hữu cơ an toàn cho cây trồng.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp hệ thống lý luận về phân loại học, chu trình phát triển sinh học của giống sán Fasciola và vai trò sinh thái của ốc ký chủ trung gian họ Lymnaea. Khái quát các yếu tố dịch tễ ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm gồm khí hậu mùa vụ, lứa tuổi gia súc, sức đề kháng của nang ấu trong môi trường tự nhiên; trình bày bệnh lý học, biến đổi đại thể, vi thể ở gan và các phác đồ dùng thuốc đặc trị. Tổng quan đặc tính sinh học của 3 chủng chế phẩm EMUNIV, EMIC, EMZEO trong phân giải chất hữu cơ và ức chế vi sinh vật gây hại. Đồng thời điểm luận các công trình nghiên cứu dịch tễ trong nước của Phan Địch Lân, Lê Hữu Khương, Võ Thị Hải Lê, Nguyễn Hữu Hưng và các nghiên cứu quốc tế của Kozak M., Tran V.; tổng thuật điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn sông Lô, sông Phó Đáy cùng bối cảnh kinh tế - xã hội tại huyện Sơn Dương.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy chuẩn hóa đối tượng nghiên cứu (đàn trâu bò, mẫu phân, mẫu gan và sán lá thu thập), địa bàn thực địa tại 5 xã và phòng thí nghiệm chuyên môn. Trình bày chi tiết công thức tính cỡ mẫu đại diện ($n = 300$), quy trình lấy mẫu chùm nhiều bậc cắt ngang. Thuyết minh nguyên lý và quy trình kỹ thuật xét nghiệm phân lắng cặn Benedek, kỹ thuật đếm buồng McMaster phân loại cường độ nhiễm. Mô tả phương pháp mổ khám gan Skrjabin, quy trình nhuộm carmin làm tiêu bản hình thái; thiết kế thang đánh giá cảm quan ô nhiễm mùi hôi xung quanh chuồng nuôi và định lượng quy trình ủ phân 4 - 5 tấn bằng 3 loại chế phẩm sinh học vi sinh.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung phân tích thực nghiệm chia thành 4 mảng dữ liệu:
- Thực trạng công tác chăn nuôi và thú y: Tổng hợp tập quán chăn thả, vệ sinh chuồng trại, biện pháp thu gom phân và tỷ lệ can thiệp tẩy giun sán tại 50 hộ gia đình.
- Đặc điểm dịch tễ lưu hành bệnh sán lá gan: Công bố tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trên 300 trâu bò; mổ xẻ mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm với đơn vị hành chính xã, loài vật chủ (trâu so với bò), các nấc lứa tuổi (từ 1 tuổi đến trên 8 tuổi) và sự biến động theo mùa vụ Hè - Thu.
- Kết quả định danh hình thái: Phân tích các chỉ tiêu kích thước, cấu trúc cơ thể của sán trưởng thành thu thập từ 50 lá gan mổ khám đối chiếu khóa phân loại.
- Hiệu quả ứng dụng chế phẩm sinh học: Đánh giá thực trạng ô nhiễm trước xử lý và mức độ suy giảm cảm quan mùi hôi, tỷ lệ tiêu diệt trứng giun sán trong phân sau chu kỳ ủ 25 - 30 ngày của 3 chế phẩm vi sinh.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Đúc kết các chỉ số cốt lõi về dịch tễ bệnh sán lá gan và loài sán ký sinh chủ đạo tại địa phương; xác nhận tính khả thi của giải pháp ủ phân hữu cơ bằng men vi sinh. Nêu khuyến nghị cụ thể cho người chăn nuôi và trạm thú y về lịch tẩy sán định kỳ, cải tạo chuồng trại, thu gom ủ phân sinh học nhằm bảo vệ môi trường và ngắt đứt vòng truyền lây dịch tễ.
Kết quả và đóng góp
Văn bản khóa luận ghi nhận các kết quả định lượng cụ thể qua các cuộc điều tra và xét nghiệm thực nghiệm:
Về thực trạng chăn nuôi và phòng bệnh ký sinh trùng tại 5 xã (Bảng 4.1):
- Phương thức chăn thả: Chăn thả hoàn toàn tự nhiên chiếm 10,00% ở Bình Yên, 0,00% ở Trung Yên, 50,00% ở Phúc Ứng, 70,00% ở Ninh Lai và 40,00% ở Chi Thiết. Hình thức bán chăn thả có cho ăn tại chuồng chiếm 90,00% tại Bình Yên, 100% tại Trung Yên, 50,00% tại Phúc Ứng, 30,00% tại Ninh Lai và 60,00% tại Chi Thiết.
- Vệ sinh chuồng trại: Chuồng trại xây dựng hợp vệ sinh đạt thấp (Chi Thiết 40,00%, Trung Yên và Ninh Lai 30,00%, Bình Yên và Phúc Ứng 10,00%). Vệ sinh chuồng nuôi thường xuyên đạt 40,00% ở Chi Thiết, 30,00% ở Ninh Lai và Trung Yên, 10,00% ở Bình Yên và Phúc Ứng.
- Quản lý phân và phòng bệnh: Biện pháp thu gom phân để ủ chỉ có 20,00% số hộ ở Trung Yên và 10,00% ở Chi Thiết thực hiện; 3 xã Bình Yên, Phúc Ứng, Ninh Lai hoàn toàn không có hộ nào thu gom ủ phân (0,00%). Vệ sinh bãi chăn thả đạt 0,00% ở toàn bộ 5 xã. Tỷ lệ hộ dùng thuốc tẩy sán lá gan cho trâu bò chỉ đạt 50,00% tại Trung Yên, 10,00% tại Ninh Lai và Chi Thiết; riêng xã Bình Yên và Phúc Ứng là 0,00%.
Về tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo địa phương và loài vật chủ (Bảng 4.2):
| Loài gia súc / Địa phương |
Số kiểm tra (con) |
Số nhiễm (con) |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
Cường độ nhiễm $\le 300$ trứng/g (%) |
Cường độ nhiễm $> 300 - 600$ trứng/g (%) |
Cường độ nhiễm $> 600$ trứng/g (%) |
| Trâu |
200 |
105 |
52,50 |
9,52 |
42,86 |
47,62 |
| - Bình Yên |
45 |
24 |
53,33 |
0,00 |
20,83 |
79,17 |
| - Trung Yên |
39 |
22 |
56,41 |
0,00 |
50,00 |
50,00 |
| - Phúc Ứng |
38 |
20 |
52,63 |
20,00 |
45,00 |
35,00 |
| - Ninh Lai |
42 |
20 |
47,62 |
10,00 |
65,00 |
25,00 |
| - Chi Thiết |
36 |
19 |
52,77 |
21,05 |
36,85 |
42,10 |
| Bò |
100 |
45 |
45,00 |
24,44 |
37,78 |
37,78 |
| - Bình Yên |
15 |
7 |
46,66 |
0,00 |
14,29 |
85,71 |
| - Trung Yên |
21 |
9 |
42,85 |
11,11 |
22,22 |
66,67 |
| - Phúc Ứng |
22 |
10 |
45,45 |
20,00 |
60,00 |
20,00 |
| - Ninh Lai |
18 |
9 |
50,00 |
44,44 |
33,33 |
22,23 |
| - Chi Thiết |
24 |
10 |
41,66 |
40,00 |
50,00 |
10,00 |
| Tính chung |
300 |
150 |
50,00 |
14,00 |
41,33 |
44,67 |
Số liệu cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở trâu bò là 50,00%. Trâu có tỷ lệ nhiễm (52,50%) cao hơn bò (45,00%). Cường độ nhiễm ở trâu tập trung chủ yếu ở mức nặng ($> 600$ trứng/g phân chiếm 47,62%) và trung bình (42,86%), trong khi ở bò cường độ nhiễm phân bổ đều ở mức trung bình (37,78%) và nặng (37,78%), tỷ lệ nhiễm nhẹ ở bò chiếm 24,44%.
Về tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo lứa tuổi (Bảng 4.4):
- Ở trâu: Tỷ lệ nhiễm tăng dần thuận theo lứa tuổi. Nhóm 1 - 2 năm tuổi nhiễm 22,22% (8/36 con, cường độ nặng chiếm 25,00%); nhóm >2 - 5 năm tuổi nhiễm 50,00% (44/88 con, cường độ nặng chiếm 43,18%); nhóm >5 - 8 năm tuổi nhiễm 69,23% (45/65 con, cường độ nặng chiếm 53,33%); nhóm trâu >8 năm tuổi nhiễm cao nhất đạt 72,27% (hoặc 72,72% theo tỷ lệ số con 8/11 nhiễm, trong đó cường độ nặng chiếm tới 62,50%).
- Ở bò: Nhóm 1 - 2 năm tuổi nhiễm 23,07% (3/13 con); nhóm >2 - 5 năm tuổi nhiễm 41,30% (19/46 con); nhóm >5 - 8 năm tuổi nhiễm cao nhất đạt 58,33% (21/36 con); nhóm >8 năm tuổi ghi nhận tỷ lệ nhiễm là 40,00% (2/5 con).
- Tính chung hai loài: Tỷ lệ nhiễm tăng dần từ nhóm 1 - 2 tuổi (22,45%), lên nhóm >2 - 5 tuổi (47,01%), nhóm >5 - 8 tuổi (65,34%) và đạt 62,50% ở nhóm >8 tuổi. Cường độ nhiễm nặng tăng đều theo tuổi đời: 36,36% (1 - 2 tuổi), 38,10% (>2 - 5 tuổi), 50,00% (>5 - 8 tuổi) và đạt đỉnh 60,00% ở nhóm gia súc trên 8 tuổi.
Về tỷ lệ nhiễm theo mùa vụ (Bảng 4.6):
- Mùa Hè: Khảo sát 150 gia súc, phát hiện 77 con nhiễm (tỷ lệ 51,33%). Trong đó trâu nhiễm 53,46% (54/101 con, cường độ nặng 44,45%), bò nhiễm 46,93% (23/49 con, cường độ nặng 47,83%).
- Mùa Thu: Khảo sát 150 gia súc, phát hiện 73 con nhiễm (tỷ lệ 48,66%). Trong đó trâu nhiễm 51,51% (51/99 con, cường độ nặng 50,98%), bò nhiễm 43,13% (22/51 con, cường độ nặng 27,27%). Tỷ lệ nhiễm giữa hai mùa có sự chênh lệch nhẹ nhưng chưa rõ rệt, song cường độ nhiễm nặng ở trâu trong mùa thu cao hơn mùa hè.
Về giải pháp và đóng góp của đề tài:
- Tác giả đề xuất quy trình phòng chống tổng hợp: Tẩy trừ sán lá gan định kỳ cho đàn trâu bò bằng thuốc đặc trị (Fasinex hoặc Fasciolid); xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh; không thả rông gia súc tại bãi chăn lầy lội có nhiều ốc Lymnaea; bắt buộc thu gom phân gia súc vào hố ủ có mái che bạt.
- Đóng góp so với nghiên cứu trước: Đây là công trình đầu tiên công bố bộ dẫn liệu thực nghiệm có hệ thống về tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan trâu bò tại huyện miền núi Sơn Dương (Tuyên Quang), chỉ ra tình trạng nhiễm tích lũy theo lứa tuổi và xác lập cơ sở khoa học cho việc áp dụng chế phẩm vi sinh (EMUNIV, EMIC, EMZEO) để xử lý lượng phân trâu bò tại nông hộ miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi triển khai thực tế được văn bản phản ánh:
- Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 6 tháng (từ 28/05/2020 đến 28/11/2020), do đó số liệu dịch tễ chỉ mới bao quát được 2 mùa Hè và mùa Thu, chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ 4 mùa trong năm để so sánh biến động dịch tễ qua mùa Đông và mùa Xuân.
- Quy mô thử nghiệm ủ phân bằng chế phẩm sinh học mới dừng lại ở phạm vi 5 hộ chăn nuôi (2 hộ ủ EMUNIV, 1 hộ ủ EMIC, 2 hộ ủ EMZEO).
- Phương pháp đánh giá ô nhiễm không khí tại khu dân cư bán kính 50 - 100m chủ yếu dựa vào đánh giá cảm quan khứu giác kết hợp phiếu phỏng vấn người dân, chưa có điều kiện đo lường nồng độ các loại khí độc phát thải ($NH_3, H_2S$) bằng thiết bị cảm biến chuyên dụng.
Hướng nghiên cứu tiếp được định hình gồm: Tiếp tục quan trắc dịch tễ quanh năm để đánh giá quy luật phát bệnh vào mùa khô hanh (Đông - Xuân); mở rộng quy mô ứng dụng chế phẩm sinh học trên diện rộng ở cấp xã; đo đạc chỉ tiêu lý - hóa và hàm lượng dinh dưỡng của phân sau ủ vi sinh để hoàn thiện quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh tại chỗ cho cây trồng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi và Khoa học môi trường nông nghiệp tham khảo về phương pháp thiết kế mẫu điều tra dịch tễ học thú y cắt ngang tại vùng trung du miền núi.
- Cán bộ thú y cơ sở, trạm thú y huyện Sơn Dương và các huyện có điều kiện tự nhiên tương đồng trong việc hoạch định kế hoạch can thiệp dịch bệnh ký sinh trùng đại gia súc.
- Các hộ nông dân, chủ trang trại chăn nuôi trâu bò thịt và bò sữa nắm bắt quy trình kỹ thuật ủ phân sinh học bằng chế phẩm vi sinh (EMUNIV, EMIC, EMZEO) nhằm giảm thiểu mùi hôi và tiêu diệt mầm bệnh.
Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm:
- Quy trình chuẩn bị mẫu và thao tác xét nghiệm phân lắng cặn Benedek kết hợp kỹ thuật đếm trứng trên buồng đếm McMaster xác định mức độ nhiễm sán.
- Định mức liều lượng và kỹ thuật ủ phân trâu bò bằng men vi sinh (cách pha chế dung dịch men tưới đều cho 1 tấn phân chuồng, kỹ thuật đánh đống, che phủ bạt giữ nhiệt và thời gian đảo trộn).
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu và bò tại huyện Sơn Dương có sự khác biệt như thế nào và nguyên nhân do đâu?
Kết quả xét nghiệm 300 mẫu phân cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 52,50% (cường độ nặng chiếm 47,62%), cao hơn rõ rệt so với bò là 45,00% (cường độ nặng chiếm 37,78%). Nguyên nhân do trâu có đặc tính sinh học ưa nước, thường xuyên đằm tắm ở đầm lầy, ao hồ và thích ăn cỏ thủy sinh ven kênh rạch - nơi nang ấu sán lá gan (Adolescaria) bám dính với mật độ cao, trong khi bò ít ưa nước hơn.
Mức độ nhiễm sán lá gan biến đổi ra sao theo lứa tuổi của trâu bò?
Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan tỷ lệ thuận với tuổi của gia súc. Tỷ lệ nhiễm chung tăng từ 22,45% ở nhóm 1 - 2 năm tuổi lên 47,01% ở nhóm >2 - 5 tuổi, đạt 65,34% ở nhóm >5 - 8 tuổi và giữ mức cao 62,50% ở nhóm trên 8 tuổi. Đồng thời, tỷ lệ nhiễm nặng ($>600$ trứng/g phân) tăng từ 36,36% ở lứa 1 - 2 tuổi lên 60,00% ở lứa trên 8 tuổi do sán có tuổi thọ ký sinh kéo dài (3 - 5 năm hoặc lâu hơn), khiến con vật sống càng lâu càng bị bội nhiễm tích lũy mầm bệnh từ môi trường.
Thực trạng vệ sinh chuồng trại và quản lý phân gia súc tại 5 xã khảo sát tồn tại những vấn đề gì?
Công tác vệ sinh và xử lý phân tại địa phương rất hạn chế: 100% các hộ tại 5 xã không thực hiện vệ sinh bãi chăn thả; tỷ lệ hộ thu gom phân để ủ chỉ đạt 20,00% ở Trung Yên và 10,00% ở Chi Thiết, 3 xã còn lại hoàn toàn không thu gom (0,00%). Tỷ lệ hộ tẩy sán cho trâu bò chỉ có ở 3 xã (Trung Yên 50,00%, Ninh Lai và Chi Thiết 10,00%), hai xã Bình Yên và Phúc Ứng là 0,00%, khiến phân tươi thải trực tiếp làm phát tán trứng sán ra bãi chăn thả.
Quy trình ủ phân trâu bò bằng 3 loại chế phẩm sinh học được tiến hành với liều lượng và tỷ lệ như thế nào?
Nghiên cứu áp dụng quy trình ủ đống che bạt kín cho 4 - 5 tấn phân/hộ trong 25 - 30 ngày: với EMUNIV, hòa 1 gói (200g) vào 5 lít nước sạch tưới cho 1 tấn phân; với EMIC, hòa 300g chế phẩm với nước sạch tưới cho 1 tấn phân rồi đảo trộn sau 7 - 10 ngày; với EMZEO, dùng 3 gói (tổng cộng 600g) hòa nước tưới đều cho 1 tấn phân chuồng kết hợp đảo trộn trước khi ủ.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Lục Văn Lợi đã xác định toàn diện hiện trạng lưu hành bệnh sán lá gan trên đàn trâu bò tại 5 xã thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang với tỷ lệ nhiễm chung là 50,00%, trong đó trâu có tỷ lệ và cường độ nhiễm cao hơn bò và mức độ nhiễm gia tăng rõ rệt theo độ tuổi gia súc. Nghiên cứu đã vạch rõ những lỗ hổng trong tập quán chăn nuôi thả rông, vệ sinh chuồng trại kém và thiếu xử lý chất thải tại các nông hộ miền núi. Đồng thời, đề tài đã thử nghiệm quy trình ủ phân đại gia súc bằng 3 chế phẩm sinh học vi sinh (EMUNIV, EMIC, EMZEO), cung cấp giải pháp kỹ thuật thiết thực nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế phát tán mầm bệnh ký sinh trùng trong chăn nuôi nông hộ.