MỞ ĐẦU Cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) là loài cây gỗ quý, hiếm, có giá trị kinh tế cao. Gỗ thuộc loại nặng, cứng, có vân đẹp, không bị mối mọt và có mùi thơm đặc biệt ( Đỗ Văn Bản và cs 2009).Chính vì vậy gỗ Sưa được dùng để đóng đồ đạc gia đình cao cấp, làm đồ mỹ nghệ và chạm khắc. Cây có tán đẹp, hoa thơm nên được trồng làm cây đường phố và vườn hoa (Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam 1996). Trong y học cổ truyền của Việt Nam và Trung Quốc, nhiều loài trong chi Dalbergia đã được sử dụng để chữa trị các bệnh về xương khớp, tiêu hoá, mụn nhọt, ngoại thương xuất huyết (Võ Văn Chi 1999).Những năm gần đây, giới thương gia Trung Quốc đổ xô săn lùng gỗ Sưa, giá gỗ Sưa rất đắt, vào thời điểm “ sốt” nhất, giá 1kg gỗ Sưa lên đến hàng chục triệu đồng, thậm chí đến 11 tỉ đồng/m3.
Chính vì vậy gỗ Sưa đang bị khai thác quá mức. Cây Sưa được ghi nhận trong danh mục sách đỏ Việt Nam và được chính phủ Việt Nam quy định trong nhóm IA của nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 là loại đặc biệt quý hiếm và có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng. Theo đánh giá của hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới, cây Sưa hiện nay là VU A1 cd – sắp nguy cấp (UICN 1997). Đề tài “Sự tạo mô sẹo và dịch treo tế bào từ cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) in vitro”, nhằm tạo tiền đề cho sự nhân giống Sưa sau này.
Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu sự tạo mô sẹo, sự phát sinh cơ quan từ mô sẹo và bước đầu tạo dịch treo tế bào từ mô sẹo của cây Sưa in vitro. 2 Chương1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) 1. Phân loại Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Bộ : Fabales Họ : Fabaceae Phân Họ : Faboideae Chi : Dalbergia Loài : Dalbergia tonkinensis Prain Cây Sưa còn được gọi là Trắc thối (Võ Văn Chi 2003).
Sự phân bố Ở Việt Nam, cây Sưa phân bố ở các tỉnh: Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Phú Yên, Khánh Hòa, Đồng Nai, Gia Lai. Trên thế giới, cây Sưa có mặt ở Trung Quốc (đảo Hải Nam). Cây có tán đẹp, hoa thơm nên được trồng làm cây đường phố và vườn hoa (Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam 1996). Đặc điểm sinh học Cây Sưa (Dalbergia tonkinesis Prain) thuộc gỗ nhỡ, rụng lá, cao 15 – 20 m, đường kín thân 0,5 – 0,7 m.
Vỏ màu xám trắng, thịt vàng, dày 3 mm (Bộ khoa học và công nghệ Việt Nam 1996) Gỗ Sưa có dác và lõi phân biệt. Gỗ dác có màu xám và vàng nhạt. Gỗ lõi có nhiều màu sắc, từ đỏ vàng đến nâu hồng hơi tím, thường có sọc màu sẫm tạo thành vân rất đẹp cả trên 3 mặt cắt. Tia gỗ nhỏ và hẹp, có cấu tạo tầng.
Gỗ sưa có mùi thơm rất đặc biệt mà gỗ trắc và cẩm lai không có. Trên mặt cắt ngang phần gỗ lõi vừa mới cắt ngang thường thấy có chất nhựa màu nâu đỏ đùn ra. Gỗ sưa chủ yếu có lỗ mạch đơn đến kép ngắn 2-3 (gỗ trắc, cẩm lai có mạch kép 5-7). Chất nhựa chứa trong mạch nhiều, màu nâu đỏ đến nâu vàng.
Mô mền không dính mạch thường tụ 3 hợp thành những đám, đặc biệt có chứa chất hữu cơ màu nâu đỏ đến nâu vàng (Đỗ Văn Bản và cs 2009). Lá kép lông chim một lần, mang 7 – 17 lá chét, mọc cách, hình bầu dục rộng, đầu có mũi nhọn ngắn, gốc tròn, gân bậc hai khoảng 10 đôi, mặt dưới màu hơi mốc.Hoa trắng thơm. Cụm hoa là chùy ở nách lá. Đài dạng chuông, xẻ 5 thùy.Quả đậu hình bầu dục dài 5 – 7 cm, rộng 2 – 2,5 cm, mùa hoa tháng 2 – 3, mùa quả chín 9 – 11.
Quả mang 1 – 2 hạt hình thận, dài 9 mm, rộng 5 mm. Tái sinh bằng hạt và chồi (Bộ khoa học và công nghệ Việt Nam 1996). Giá trị Gỗ Sưa là một trong những loại gỗ quý, hiếm ở nước ta, có giá trị kinh tế cao. Gỗ thuộc loại nặng, cứng, có vân đẹp, không bị mối mọt và có mùi thơm đặc biệt (Đỗ Văn Bản và csv 2009).Chính vì vậy gỗ Sưa được dùng để đóng đồ đạc gia đình cao cấp, làm đồ mỹ nghệ và chạm khắc.
Cây có tán đẹp, hoa thơm nên được trồng làm cây đường phố và vườn hoa (Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam 1996). Trong y học cổ truyền của Việt Nam và Trung Quốc, nhiều loài trong chi Dalbergia đã được sử dụng để chữa trị các bệnh về xương khớp, tiêu hoá, mụn nhọt, ngoại thương xuất huyết (Võ Văn Chi 1999). Tình trạng Sưa hiện nay đang bị tận diệt khai thác. Theo IUCN thì cấp đe dọa của nó hiện nay là VU A1cd - sắp nguy cấp (năm đánh giá 1997).
Dalbergia tonkinensis Prain được ghi nhận trong danh mục sách đỏ Việt Nam và được chính phủ Việt Nam quy định trong nhóm IA của nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 là loại đặc biệt quý hiếm và có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng. Giá gỗ Sưa rất đắt. Năm 2007, cơn “sốt” gỗ Sưa bùng phát ở Việt Nam. Ban đầu chỉ vài trăm ngàn đồng 1kg, chỉ trong một thời gian ngắn, vào thời điểm “sốt” nhất, giá 1kg sưa lên đến hàng chục triệu đồng, thậm chí đến 11 tỉ đồng/m3.
Những nghiên cứu về cây Sưa Tại một số trại cây giống, cây Sưa được nhân giống bằng hom, với điều kiện: 4 phải có giàn phun sương, hom đánh tẻ và sử dụng một số chất kích thích ra rễ như IBA, NAA (Trần Vinh 2007). Trên thế giới cũng như Việt Nam những nghiên cứu về cây Sưa chưa được công bố. Tài liệu về cây Sưa không nhiều và chưa chuyên sâu. Những nghiên cứu mớivề cây Sưa: Xác định trình tự đoạn gen tRNA – Leu cho hai loài cây gỗ Sưa (Dalbergia tonkinensis) và cây gỗ Trắc đỏ (Dalbergiacochinchinensis ) phục vụ việc phân loại mẫu vật tại bảo tàng thiên nhiên Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu đã xác định được trình tụ nucleotide thuộc gen tRNA – Leu (trnL) cho loài D.tonkinensis Việt Nam và D.cochinchinensis Việt Nam có độ dài là 476bp và 432bp (tương ứng) và mức độ tương đồng di truyền 99,8%. Mức độ tương đồng di truyền hai loài Dalbergia của Việt Nam với 13 loàiDalbergia khác trên thế giới dao động từ 94,6% (giữa D.tonkinensis Việt Nam và D.cochinchinensis Việt Nam và D. foliolosa) đến 100% (giữa D. Những kết quả nghiên cứu ban đầu về thành phần hoá học isoflavon và dihydrophenanthren của cây Sưa (Dalbergia tonkinensis).
Đây là lần đầu tiên khung dihydrophenanthren được tìm thấy trong chi Dalbergia(Trần Anh Tuấn và cs 2009). Sự phát sinh hình thái thực vật 1. Khái niệm sự phát sinh hình thái thực vật Sự phát sinh hình thái thực vật là quá trình phát triển của cơ thể thực vật, tế bào, mô, cơ quan theo thời gian, thông qua sự phân chia, sự tăng trưởng và sự phân hóa tế bào. Bao gồm các quá trình (Bùi Trang Việt 2000): + Phát sinh mô (histogenesis) + Phát sinh cơ quan (organogenesis) + Phát sinh phôi (embryogenesis) Sự phát sinh hình thái phụ thuộc vào hai quá trình căn bản: sự điều hòa hướng kéo dài tế bào, và sự kiểm soát vị trí và hướng của mặt phẳng phân chia tế 5 bào.
Chính kiểu tăng trưởng của mọi tế bào riêng rẽ quyết định hình thái của cơ quan và cơ thể thực vật (Bùi Trang Việt 2000). Sự phát sinh cơ quan và phát triển phôi hợp tử 1. Mô phân sinh ngọn chồi và sự phát triển chồi Mô phân sinh ngọn chồi ở cây hạt kín thường có đường kính khoảng 100 - 200µm, trừ vài trường hợp cá biệt: 50 hay 900µm. Đặc điểm quan trọng của mô phân sinh ngọn chồi là sự phân lớp và vùng.
Ở bắp, mô phân sinh ngọn chồi có hai lớp: L1 là vỏ (lớp ngoại vi), L2 là thể (bên trong lớp ngoại vi). Ở Arabidopsis, mô phân sinh ngọn chồi có 3 lớp: L1 và L2 tạo nên võ, L3 là thể, và ở giữa là vùng đỉnh (Hình 1. Vỏ cho các lớp biểu bì và dưới biểu bì của thân và lá. Một số ít tế bào từ các phân chia trong vỏ và thể cho sơ khởi lá, thân, nụ nách, và các bộ phận của hoa (nếu là nụ hoa).
Nhiều tác giả chia mô phân sinh ngọn thành ba vùng chính (Hình 1. Sơ đồ tổng quát chỉ các vùng mô phân sinh ngọn (Bùi Trang Việt 2000). Vùng đỉnh được tạo bởi các tế bào tương đối lớn với không bào to, tế bào chất ít rARN, chu kì tế bào rất dài, hoạt tính phân chia thấp; tế bào chủ yếu ở pha G 1. Đó là vùng mô phân sinh chờ, chỉ hoạt động khi mô phân sinh ngọn chuyển sang trạng thái sinh sản.
Vùng bên gồm các tế bào nhỏ hơn với không bào nhỏ, tế bào chất giàu rARN, có hoạt tính phân chia cao và chu kì tế bào (pha G 1 ngắn). Vùng bên thường được gọi là vòng khởi sinh, hay vùngphát sinh cơ quan, nơi phát sinh lá và các mô của thân (bao gồm các mô dẫn). Các chồi nách do đó có nguồn gốc ngoại sinh (ngược với nguồn gốc nội sinh của rễ nhánh). 6 Vùng lõi (mô phân sinh lõi) nằm dưới vùng đỉnh, được tạo bởi vài dải tế bào xếp chồng lên nhau.
Các tế bào có không bào lớn; hàm lượng rARN, hoạt tính phân chia và chu kì tế bào có những đặc tính trung gian so với hai vùng đỉnh và bên. Đây là vùng phát sinh mô, chỉ cho mô lõi. Ở Arabidopsis, L1 cho ra biểu bì của chồi, lá và hoa, L2 sản xuất ra các mô nền và các tế bào mầm (germ cells) và L3 cho ra các mô mạch của thân và hầu hết các mô bên trong của lá và hoa. Tuy nhiên, sự tăng trưởng của mỗi lớp rất linh động và có thể thích ứng với sự tăng sinh tế bào xảy ra trong các lớp tế bào như được thấy trong các nghiên cứu về gen khảm (Carles et al.
Các nghiên cứu vi phẫu thuật dùng laser để cắt chính xác một vùng/lớp tế bào của mô phân sinh ngọn chồi hay xử lý các hóa chất lên mô phân sinh ngọn chồi của cây cà chua kết hợp với sự quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét, các phân tích mô học và kĩ thuật lai in-situ đã cho thấy vai trò cũng như mối liên hệ giữa các vùng và lớp trong mô phân sinh ngọn chồi (Reinhardt et al. Khi cắt một đường qua mô phân sinh ngọn chồi, mô phân sinh ngọn chồi tiếp tục phát triển và hình thành các sơ khởi lá, hai mô phân sinh ngọn chồi mới được hình thành.