Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây ăn quả có múi 1. Nguồn gốc, phân loại 1. Nguồn gốc và phân bốn Cây cam sành thuộc nhóm cây ăn quả có múi (Citrus), họ Rutaceace có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya, Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippine, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo đến lục địa châu Úc [1], [2], [31], [32], [33], [34].
Theo một số báo cáo của Raymond P. (1979) [35] và Wakana AKira., (1998) [34] nhận định tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng. Theo các tác giả Bùi Huy Đáp, 1960 [1] và Walter Reuther và cộng sự, 1989 [49], các giống bưởi (Citrus grandis) có nguồn gốc từ Malaysia, Ấn Độ, một thuyền trưởng của người Ấn Độ đã mang giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó giống bưởi này được giới thiệu đến Palestin vào năm 900 sau Công Nguyên và mới đến các nước ở châu Âu. Theo một số nguồn tài liệu khác cho thấy, cam quýt có nguồn gốc miền Nam châu Á.
Sự lan rộng của giống cây cam quýt trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán bằng đường biển và các cuộc chiến tranh của trước đây [6]. Phân loại Theo hệ thống phân loại của Hodgson R. Cam ngọt (Citrus sinensis L. Obsbeck) có nguồn gốc miền Nam Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Indonesia.
Loài này được tìm thấy ở Iran khi Alexander của Macedonia tới châu Á (khoảng 330 năm trước Công nguyên) rối sau đó nhập nội vào châu Âu bởi người La Mã. Cam ngọt được chia thành nhiều nhóm giống như cam Navel, cam Valencia, cam vàng, cam máu… [33]. Cam sành, theo phân loại của tác giả Hume H. năm 1957 [37], thuộc giới Plantae, ngành Anginospermae, lớp Eudicots, bộ Sapindales, họ Rutaceae, chi Luan van 4 Citrus, loài Citrus reticulata × Citrus maxima.
Ở Việt Nam cam sành được coi là một trong những cây ăn quả chủ yếu và được trồng từ Bắc vào Nam, cam sành Bố Hạ (được trồng ở Yên Thế - Bắc Giang, hiện nay cam này đã bị xoá sổ do bị bệnh vàng lá Greening), cam sành Bắc Quang (Hà Giang); cam sành Hàm Yên (Tuyên Quang), đây là một trong những vùng cam chủ yếu của các tỉnh phía Bắc, tuy nhiên còn một số nơi trồng tập trung nhưng quy mô diện tích nhỏ hơn như ở Yên Bái, Bắc Kạn, Nghệ An. Miền Nam, cam sành được trồng nhiều ở một số vùng Vĩnh Long, Tiền Giang, Cần Thơ… [8]. Đặc điểm thực vật cây có múi 1. Đặc điểm rễ Rễ cam quýt nói chung là thuộc dạng loại rễ nấm.
Rễ của cây ăn nông (từ 0- 30cm) với tế bào biểu bì của rễ non có nấm cộng sinh có tác dụng như của lông hút với một số cây trồng khác, cung cấp nước và muối khoáng, một ít lượng nhỏ chất hữu cơ cho cây, cây cung cấp hydrate carbon cho nấm, trên ba loại đất trồng cam gồm đất bazan, đất phiến thạch, đất dốc tụ thì thấy trên đất bazan rễ cam ăn sâu và xa nhất [9], [10], [9]. Như vậy dễ cam quýt phát triển mạnh về thời kì đầu và yếu dần đi, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ cam quýt gồm có: nhiệt độ thích hợp trên dưới 26oC; đất thoáng và đủ ẩm (60%) có pH khoảng 4 - 8 và tối thích là 5 - 6, đủ dinh dưỡng, đủ chất kích thích sinh trưởng. Đặc điểm thân, cành Đặc điểm thân cành của cam quýt tùy thuộc vào từng giống cây, độ tuổi, điều kiện nơi sinh sống, cách nhân giống, chiều cao và hình thái của cây khác nhau, tán cây cam quýt rất đa dạng. Cành cam quýt có thể có gai hoặc không có gai, có thể khi còn non thì có gai và gai bị rụng khi về già… [11].
Cam quýt có thể ra nhiều đợt lộc trong một năm tùy thuộc vào từng vùng sinh thái, tuổi cây và những tác động của biện pháp kỹ thuật… [11], [12]. Thông thường, cam quýt có từ 2 - 4 hoặc 5 đợt lộc mỗi năm. Tuỳ theo từng giống cây, điều kiện sinh trưởng, khí hậu và chăm sóc từ đó lượng cành và thời gian ra của các đợt cành Luan van 5 có sự thay đổi. Cành cây cam có ba loại: cành dinh dưỡng, cành cho ra quả và cành mẹ [13].
Mối liên hệ giữa các loại cành và các đợt lộc khá giống nhau. Cành dinh dưỡng có thể trở thành cành mẹ [14]. Theo kết quả nghiên cứu ở trại cam Xuân mai (hòa bình) cho thấy cành thu là la cành mẹ để cho cành quả của vụ năm sau, vẫn chưa xác định được tuổi cành mẹ [96], [6] 1. Đặc điểm lá Lá thì gồm 3 phần chính: Đó là eo lá, phiến lá và cuống lá.
Lá thường có 2 mặt (mặt trước lá và mặt sau lá), mặt trước lá có mô dậu, chứa nhiều nhu mô diệp lục làm nhiệm vụ chính là quang hợp cho cây. Mặt sau lá có mô xốp, nhiều khí khổng tập trung, phân bố ở mặt sau lá (mật độ của khí khổng phụ thuộc vào từng giống cây như cây chanh có 650 khí khổng/mm2, cam thì có khoảng 480-500 khi khổng/mm2) [15]. Tác giả Wakana (1998) [34], quýt Ôn Châu có năng suất cao ít nhất có từ 40 lá trung bình cho một quả. (1973) [32] nhận xét: giai đoạn đầu, đủ dinh dưỡng cho hoa đậu quả, cành mẹ đóng vai trò quan trọng, sau khi quả lớn thì lá bình quân trên 1 quả sẽ là yếu tố quyết định năng suất quả.
Đặc điểm hoa, quả - Quả: Cam thuộc loại quả mọng, vỏ quả cam dày và mỏng khác nhau tùy từng loài giống. Khi quả còn xanh thì chứa nhiều axit đến khi quả chín thì lượng axit giảm đi, hàm lượng đường và chất tan tăng lên. Cấu tạo của quả cam gồm hai phần chính đó là phần vỏ quả và phần vỏ thịt [50]. + Về phần vỏ quả: Gồm có vỏ ngoài và vỏ trong.
+ Về phần thịt quả: Bộ phận chủ yếu của thịt quả là tép, đối với mầu sắc của thịt quả thì phải phụ thuộc vào sắc tố vàng da đỏ của quả. Trong dịch nước của quả còn có các hạt dầu thơm quyết định đến hương vị của quả [42]. - Hoa: Là loại hoa lưỡng tính có khả năng tự thụ phấn, tràng hoa thường có màu trắng riêng biệt còn hoa chanh có màu tím. Hoa của cam thường có 5 cánh, nhị nhiều có từ 20-40 nhị [13], [14].
Hoa cam quýt phần lớn có mùi thơm. Xét về hình thái có 2 loại hoa: hoa phát triển đầy đủ và hoa dị hình [40]. Yêu cầu về sinh thái 1. Nhiệt độ Nhiệt độ sinh trưởng phù hợp nhất là độ 24-28oC.
Một số loài có thể chịu được nhiệt độ 4-5oC trong thời gian ngắn. Cây cam ở nhiệt độ 40oC với thời gian kéo dài nhiều ngày, thì cây ngừng sinh trưởng, lá rụng nhiều, cành bị khô hé [33], [41], [42], [18]. Ánh sáng Cây cam có độ sáng phù hợp nhất cho cam quýt là khoảng 1800 - 2000 lux. Ánh sáng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng quả, ở vùng nhiệt đới cường độ ánh sáng quá mạnh cần che bóng cho cây nhằm giảm tác hại cho cây và quả [38].
Nước Ẩm độ không khí cũng là một cái yếu tố rất quan trọng tới sự sinh trưởng của cây cam, khi ẩm độ không khí cao làm cây ít thoát được hơi nước ra ngoài, ít tiêu hoa năng lượng của cây trong quá trình hút nước lên. Tuy nhiên độ ẩm quá cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các sâu, bệnh hại phát triển. Ẩm độ không khí phù hợp nhất rơi vào khoảng 70-75% [19], [38]. Nước là một yếu tố rất cần thiết cho cam quýt, nhất là vào giai đoạn ra chồi, ra hoa và quả đang đậu đến khi giai đoạn phình quả đến khi quả chuẩn bị chín.
Lượng mưa thích hợp quanh năm cho cam quýt từ 1.400 mm/năm, phù hợp nhất là 1. Ở những nơi được áp dụng kĩ thuật chăm sóc cao tỷ lệ đậu quả và chất lượng của quả sẽ cao 1. Đất Các yếu tố như về tầng sâu của đất, dễ thoát nước, mực nước ngầm sâu hoặc mực nước ngầm ổn định là yếu tố đất đai quan trọng khi lựa chọn đất phù hợp để trồng cam quýt. Mực nước ngầm ổn định an toàn cho cây phải tối thiểu sâu 1,5 m dưới mặt đất.
Độ pH thích hợp cho cam quýt sinh trưởng là trong khoảng 5,5 – 6,5. Đất quá chua sẽ rửa trôi nhiều dinh dưỡng và cũng có thể gây ngộ độc do một số nguyên tố như Cu. Đất quá kiềm, cây khó hút một số nguyên tố khoáng và cây Luan van 7 thường có biểu hiện thiếu Zn, Fe. Đất phù hợp với trồng cây ăn quả có múi là đất bồi, đất đỏ bazan, phù sa cổ, đất mùn đá vôi, đất phù sa [20], [38].
Giá trị sử dụng Trong 100 g quả ăn được của quả chứa 88-94 % nước, 6-12% chất khô là đường, axit hữu cơ chiếm 0,4 - 1,4 % chủ yếu như là axit citric; 0,9 % pectin, 40- 90mg% vitamin C; 0,07mg vitamin B1; 0,06mg vitamin B6; 0,1mg vitamin E, 2µg vitamin A [21]. Ngoài ra, quả cam còn chứa các chất khoáng cần thiết như Ca, P, Mg, Fe… và dầu thơm. Trong 100 g thịt quả tươi có chứa tới 0,7-1,3 g protein, nhiều axit amin không thay thế như aspatic (26,8 mg), alanine (6,0 mg), valine (2,2 mg), phenylalanine (3,4 mg), lysine (90,8 mg), leucine (1,2 mg) và ocnithine (3,4 mg) [51]. Ở nước ta cam quýt cũng đã được sử dụng chữa một số bệnh từ lâu đời [23].