phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phƣơng pháp và địa bàn nghiên cứu Chƣơng 2: Nghi lễ vòng đời của ngƣời Nùng Phàn Slình hiện nay Chƣơng 3: Tƣơng trợ trong nghi lễ vòng đời của ngƣời Nùng Phàn Slình Chƣơng 4: Vai trò của tƣơng trợ trong nghi lễ vòng đời với cố kết và phát triển cộng đồng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu về tương trợ cộng đồng trên thế giới và Việt Nam Tương trợ cộng đồng nghĩa là các thành viên sống trong cùng một cộng đồng giúp đỡ lẫn nhau. Hành động giúp đỡ trong cuộc sống diễn ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có thể là hữu hình như tặng quà, mời cơm; hay vô hình như hỗ trợ chỗ ở và giúp đỡ khi cần thiết [92, tr.
Ở Trung Quốc và Singapore người ta quan niệm tương trợ cộng đồng là hành động quan trọng trong nghi lễ vòng đời [95, tr. Người Trung Quốc quan niệm trong nghi lễ vòng đời, khách mời phải cố gắng tham dự và tặng các món quà bằng tiền mặt và hiện vật [91, tr. Tương trợ cộng đồng là cơ sở để nuôi dưỡng các mối quan hệ cá nhân [94, tr. Quà tặng vật chất và tinh thần trong mối quan hệ tương trợ cộng đồng có bốn chức năng: giao tiếp, trao đổi xã hội, trao đổi kinh tế và xã hội hóa [96, tr.
Người ta tặng quà để biểu hiện tình thân, bày tỏ sự quan tâm đến người nhận. Sherry (1983) cho rằng “quà tặng là những biểu hiện hữu hình của các mối quan hệ xã hội” [96, tr. Đồng quan điểm với Sherry, Camerer (1988) phát triển thêm “tặng quà là một trải nghiệm xã hội, văn hoá và kinh tế; trao đổi thông tin vật chất và xã hội có liên quan đến xã hội loài người và là công cụ trong việc duy trì các mối quan hệ xã hội và thể hiện cảm xúc” [94, tr. Theo Mauss (1950) tặng quà diễn ra theo một hệ thống, có thể tóm tắt thành 3 bước như sau: nghĩa vụ tặng, nghĩa vụ nhận và nghĩa vụ tặng lại.
Mối quan hệ tương hỗ cứ diễn ra như thế, vai trò của người cho và người nhận liên tục bị đảo ngược để duy trì mối quan hệ trao đổi qua thời gian [94, tr. Mauss 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho rằng người nhận quà mà không đáp tặng thì sẽ bị cộng đồng đánh giá là người thấp kém, khi thực hiện đáp tặng người được tặng thường tặng bằng hoặc nhiều hơn số lượng họ đã nhận, để thể hiện vị thế của mình [39, tr. Nguyên tắc có đi có lại dường như là phổ quát trong tất cả các nền văn hóa. “Đôi khi những món quà trao đổi chính là cùng một loại.
Người ta có thể tặng đi và nhận lại cùng là một quả bóng sennit, hoặc một gói thức ăn biếu đi và được tặng lại một gói thức ăn khác” [93, tr. Cứ như thế, mỗi quan hệ tương trợ cộng đồng trong nghi lễ vòng đời nói riêng và trong cuộc sống nói chung được duy trì lâu dài. Trong thời gian gần đây các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối quan hệ tương trợ cộng đồng đang biến đổi theo 2 xu hướng: người ta ngày càng thực hiện tương trợ trong nhiều dịp hơn, mối quan hệ tương trợ giữa những người ngoài huyết thống ngày càng trở nên phổ biến hơn [92]. Ở Việt Nam, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây những công trình nghiên cứu của các tác giả Lương Văn Hy, Lương Hồng Quang, Alexander Soucy, Nguyễn Tuấn Anh… đã phần nào làm rõ vai trò của mạng lưới quan hệ xã hội trong việc tương trợ và cố kết cộng đồng.
Trong khi các tác giả Lương Hồng Quang và Nguyễn Tuấn Anh quan tâm nhiều đến hoạt động và mối quan hệ của các thành viên trong các tổ chức xã hội như quan hệ họ hàng, hội đồng niên; thì các tác giả Lương Văn Hy và Nguyễn Hải Hà lại quan tâm đến khía cạnh biếu tặng quà của người Việt ở hai cộng đồng làng Bắc Bộ và Nam Bộ [8; 9; 25; 34; 52; 53; 54]. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên góp phần làm rõ vai trò của dòng quà và sự tương trợ trong việc tạo dựng vốn xã hội của cá nhân, gia đình trong “cuộc chơi có tính xã hội”1. Tuy nhiên, các công trình đó mới chỉ dừng lại ở vùng đồng bằng nơi người Kinh sinh sống, mà chưa mở rộng tìm hiểu mối quan hệ tương trợ cộng đồng ở vùng các dân tộc thiểu số. 1 Từ gọi của Tessier (2010) 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những nghiên cứu về tương trợ cộng đồng trong bối cảnh nghi lễ vòng đời của người Nùng Phàn Slình Trong công trình của mình, các tác giả Lã Văn Lô - Đặng Nghiêm Vạn, Ma Tiến Dũng, Hoàng Nam, Viện Dân tộc học, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn… trình bày một cách khái quát tất cả các nghi lễ trong chu kỳ đời người, rồi đánh giá vai trò của từng nghi lễ đối với từng thời kỳ trưởng thành của con người [37; 17; 40; 86; 84]. Thời kỳ ấu thơ có các nghi lễ đầy tháng, với các thủ tục lập bàn thờ mụ, đặt tên con, đây là nghi lễ khởi đầu của chu kỳ đời người [37, tr. 31 - 32]; thời kỳ trưởng thành có nghi lễ cưới xin, đây là nghi lễ quan trọng, đánh dấu bước ngoặt từ cuộc sống cá nhân sang cuộc sống gia đình, với hàng loạt nghi lễ bắt đầu từ lễ dạm hỏi đến lễ lại mặt [87, tr. 195], về già có nghi lễ tang ma, đây là nghi lễ lớn nhất, hết sức phức tạp và tốn kém, với hàng chục nghi lễ [37, tr.
Trong bài viết về “Hôn nhân truyền thống của người Nùng Phàn Slình”, tác giả Lê Minh Anh trình bày diễn trình nghi lễ cưới xin từ khi dạm hỏi đến khi lại mặt [2, tr. Về tang ma, các tác giả Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn Anh Tuấn ngoài mô tả chi tiết về đám tang truyền thống đã bước đầu trình bày những biến đổi của tang ma trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, như đã nói ở trên hầu hết các công trình nghiên cứu về nghi lễ vòng đời đã công bố mới chỉ tập trung nghiên cứu diễn trình nghi lễ, mà chưa đi sâu vào tiếp cận khía cạnh tương trợ cộng đồng của nghi lễ vòng đời trong bối cảnh hội nhập hiện nay [42; 45; 79]. Có thể coi các tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Lê Minh Anh là những người đầu tiên đề cập đến tương trợ cộng đồng, khi nghiên cứu về tương trợ cộng đồng ở vùng miền núi, mà cụ thể ở đây là người Nùng Phàn Slình.
Trong bài viết của mình Nguyễn Anh Tuấn sử dụng khung lý thuyết vốn xã hội, làm cơ sở 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để tìm hiểu những ghi chép về mối quan hệ vay mượn dịp cưới xin và tang ma của người Nùng Phàn Slình trong cuốn “sổ nợ đời”2. Cuốn sổ này được xem xét như một minh chứng cho những mối quan hệ tương trợ giữa người cho và người nhận. Bài viết phân tích cuốn “sổ nợ đời” từ những góc cạnh: “sổ nợ đời” phát huy tác dụng lúc nào, những ai được ghi danh trong cuốn sổ và tiếp cận cuốn sổ dưới góc nhìn nhân học liên chủ thể. Tiếp theo, tác giả rút ra những nhận xét về mối liên hệ của liên mạng xã hội, tính gắn kết liên chủ thể trong mạng lưới quan hệ xã hội của các chủ thể.
Từ đó, tác giả khẳng định cuốn sổ là một minh chứng khẳng định sự cam kết giữa các cá nhân trong mạng lưới xã hội mà họ tham gia [81, tr. Khác với Nguyễn Anh Tuấn, trong nhiều bài viết đề cập đến quan hệ dòng họ và tương trợ cồng đồng của người Nùng Phàn Slình ở vùng cao biên giới Việt - Trung, nhà nghiên cứu Lê Minh Anh đã vận dụng lý thuyết vốn xã hội để xem xét yếu tố tương trợ cộng đồng trong các nghi lễ vòng đời như cưới xin, tang ma, làm nhà và lao động sản xuất. Tác giả nhận định rằng, khác với tương trợ trong đám cưới khi mối quan hệ tương trợ chủ yếu dường lại ở quan hệ họ hàng và hàng xóm thân thiết thì quan hệ tương trợ trong tang ma có phần mở rộng hơn về đối tượng và được tổ chức quy củ hơn. Thông qua những nghiên cứu của mình, tác giả đưa ra nhận định dưới tác động của nền kinh tế thị trường, đi đôi với đó là sự biến đổi về mặt kinh tế, văn hóa - xã hội, quan hệ tương trợ của người Nùng Phàn Slình ngày càng biến đổi theo xu hướng tăng cả về số lượng người tham gia và số lượng vật chất biếu tặng.
Trong các nghiên cứu của mình, tác giả cho rằng họ hàng đóng vai trò rất quan trọng trong mối quan hệ tương trợ, mối quan hệ càng thân thích thì vai trò tương trợ càng lớn [4; 5; 6]. Khác với hai tác giả trên, trong các công trình của mình tác giả Lý Viết Trường tập trung vào các khía cạnh của vốn xã hội, như tổ chức tương trợ cộng 2 Từ gọi của Nguyễn Anh Tuấn (2011). Chúng tôi gọi là sổ gia đình. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng trong tang ma là hàng phường.
Trong một bài viết về tổ chức hàng phường, tác giả ngoài trình bày cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành của tổ chức này còn đi sâu vào tìm hiểu vai trò tương trợ và cố kết cộng đồng của hàng phường [73; 75]. Bên cạnh việc tìm hiểu tổ chức tương trợ cồng đồng, tác giả cũng quan tâm tìm hiểu mối quan hệ biếu tặng có đi có lại và sự biến đổi của dòng quà tặng trong một số nghi lễ vòng đời như sinh đẻ, sinh nhật [74; 76]. Ngoài ra, tác giả còn đi sâu vào tìm hiểu cuốn sổ gia đình và sổ hàng phường, hai cuốn sổ được coi là bằng chứng ghi chép lại những mối quan hệ biếu tặng, sự biến đổi của dòng quà và mạng lưới xã hội từ trong truyền thống đến hiện tại [78]. Tuy nhiên, các tác giả trên mới chỉ dừng lại ở khía cạnh tương trợ vật chất, mà chưa đi sâu vào tìm hiểu khía cạnh tương trợ tinh thần và công sức.
Mặc dù vậy, những công trình của các tác giả trên đã góp phần gợi mở hướng tiếp cận tương trợ cộng đồng bằng lý thuyết nhân học. Một số khái niệm và lý thuyết nghiên cứu 1.