Tổng quan nghiên cứu

Tương trợ cộng đồng là một trong những cơ chế thích ứng văn hóa và bảo đảm an sinh xã hội bền vững nhất của các tộc người thiểu số vùng cao biên giới phía Bắc Việt Nam. Tại xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, dân tộc Nùng chiếm 74,7% và dân tộc Tày chiếm 25,1% trong tổng số 677 hộ gia đình với 3.125 nhân khẩu. Trong đó, nhóm Nùng Phàn Slình có khoảng gần 1.000 người cư trú tập trung tại 4 bản trọng điểm gồm Thông Cùm, Nà Lẹng, Khon Cuổng và Nà Sla. Nằm cách trung tâm huyện Cao Lộc 11km, cách thành phố Lạng Sơn 14km và cách đường biên giới Việt - Trung 15km, cộng đồng người Nùng Phàn Slình nơi đây vừa bảo lưu các cấu trúc văn hóa truyền thống, vừa trải qua quá trình giao lưu kinh tế - xã hội sâu rộng từ năm 1980 đến năm 2017.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải mã cách thức vận hành của hệ thống tương trợ cộng đồng trong các nghi lễ vòng đời (sinh đẻ, cưới xin, tang ma), đồng thời làm rõ vai trò của các thực hành này đối với sự cố kết tộc người và phát triển cộng đồng trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế. Nghiên cứu xác định ba mục tiêu cụ thể: thứ nhất, phân loại và hệ thống hóa các hình thức tương trợ về vật chất, tinh thần và ngày công lao động; thứ hai, phân tích cơ chế củng cố mạng lưới quan hệ xã hội và sự cố kết tộc người; thứ ba, đánh giá tác động của vốn xã hội đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Về mặt thực tiễn, công trình mang lại giá trị khoa học to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ xác đáng từ thực địa giai đoạn 2015 - 2018. Kết quả nghiên cứu đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao 100% hiệu quả hoạch định chính sách an sinh xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người và hoàn thiện các tiêu chí văn hóa trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại các huyện miền núi biên giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của hai lý thuyết kinh điển trong nhân học và xã hội học:

Lý thuyết Vốn xã hội của Pierre Bourdieu (1986) được sử dụng làm nền tảng lý thuyết chủ đạo. Vốn xã hội được định nghĩa là tập hợp các nguồn lực thực tế hoặc tiềm tàng gắn liền với việc sở hữu một mạng lưới bền vững gồm các mối quan hệ quen biết và thừa nhận lẫn nhau ít nhiều đã được thể chế hóa. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét 3 hình thái vốn cơ bản: vốn kinh tế (tiền mừng, hiện vật đóng góp), vốn văn hóa (tri thức dân gian, phong tục nghi lễ) và vốn biểu tượng (danh dự, uy tín gia đình). Ngoài ra, nghiên cứu còn đối chứng với các luận điểm về mạng lưới xã hội khép kín của James Coleman và Robert Putnam để làm sáng tỏ mức độ gắn kết nội nhóm.

Lý thuyết Biếu tặng của Marcel Mauss (1925/1950) được vận dụng để phân tích bản chất của các luồng trao đổi quà tặng. Mauss chỉ ra rằng hành vi biếu tặng vận hành theo chu trình nghiêm ngặt gồm 3 nghĩa vụ liên hoàn: nghĩa vụ cho đi, nghĩa vụ tiếp nhận và nghĩa vụ đáp từ. Quá trình trao đổi này được điều chỉnh bởi nguyên tắc "có đi có lại" (reciprocity), trong đó sự cân bằng về giá trị trao nhận qua thời gian chính là chất keo kết dính các cá nhân vào mạng lưới tương trợ xã hội.

Các khái niệm then chốt được thao tác hóa trong luận văn bao gồm: Mạng lưới xã hội (social network), Vốn xã hội (social capital), Tương trợ cộng đồng (mutual aid), Nghi lễ vòng đời (life-cycle rituals), Thiết chế Hàng phường (tổ chức tương trợ tang ma truyền thống) và Sổ gia đình (thường gọi là sổ nợ đời).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học/nhân học làm công cụ chủ lực, triển khai liên tục qua nhiều đợt từ năm 2015 đến năm 2018 tại 4 điểm nghiên cứu thuộc xã Thạch Đạn: bản Thông Cùm (23 hộ, 94 nhân khẩu), bản Nà Lẹng (50 hộ, 211 nhân khẩu), bản Khon Cuổng (26 hộ, 120 nhân khẩu) và bản Nà Sla (65 hộ, 291 nhân khẩu).

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) nhằm bao quát các dạng thức cư trú thuần nhất Nùng Phàn Slình (Nà Sla, Khon Cuổng) và cư trú cộng cư với người Tày, người Nùng Cháo (Thông Cùm, Nà Lẹng). Cỡ mẫu định tính bao gồm 35 cuộc phỏng vấn sâu với các nhóm đối tượng đại diện cho các thế hệ (từ 18 đến trên 70 tuổi), thầy Tào, trưởng bản, già làng và gia đình thực hiện nghi lễ; 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung (mỗi nhóm từ 5 đến 7 thành viên); cùng với việc thu thập và phân tích định lượng dữ liệu từ hơn 10 cuốn sổ ghi chép quà biếu gia đình và sổ thu chi hàng phường trải dài qua 37 năm (1980 - 2017).

Phương pháp phân tích: Nghiên cứu kết hợp phương pháp quan sát tham gia trực tiếp trong các dịp sinh con, đám cưới và đám tang; phương pháp so sánh lịch sử nhằm đối chiếu sự biến đổi của dòng quà tặng qua các mốc thời gian 1980, 1990, 2004 và 2015 - 2017; kết hợp phân tích thứ cấp các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân xã Thạch Đạn. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này đảm bảo tính xác thực cao nhất nhờ lợi thế tác giả là người bản địa, am hiểu sâu sắc ngôn ngữ và cấu trúc văn hóa địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống tương trợ trong nghi lễ vòng đời của người Nùng Phàn Slình vận hành toàn diện qua 3 dạng thức: vật chất, tinh thần và công sức lao động. Trong nghi lễ thời kỳ sinh đẻ, tục "dương eng" (thăm trẻ) từ sau lễ "slam nâư" (3 ngày) đến lễ "an va" (lập bàn thờ mụ) đóng vai trò hỗ trợ thực phẩm dinh dưỡng và kinh nghiệm nuôi dạy con cái. Trong cưới xin ("kin lảu"), nhà ngoại và họ hàng tương trợ hàng trăm kilogam gạo nếp, lợn thịt và rượu. Trong tang ma, tổ chức "hàng phường" đảm nhận toàn bộ 100% các công việc hậu cần nặng nhọc như đào huyệt, dựng rạp, làm cỗ và khiêng kiệu.

Thứ hai, dòng quà tặng vật chất có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ hiện vật sang tiền tệ hóa. Nếu như vào thập niên 1980 và 1990, quà cưới chủ yếu là gạo nếp, bánh dày và tiền mừng chỉ dao động từ 2 đến 5 đồng, thì đến giai đoạn 2015 - 2017, tiền mừng cưới phổ biến ở mức 200.000 đến 500.000 đồng/khách. Tương tự, trong tục thăm trẻ sơ sinh, hơn 85% các mối quan hệ xã hội ngoài họ hàng thân thích đã chuyển từ tặng gà sống, đường sữa sang phong bì tiền mặt để gia đình chủ động chi tiêu.

Thứ ba, thiết chế hàng phường và sổ gia đình ("sổ nợ đời") duy trì tính pháp lý phi chính thức và sự minh bạch tuyệt đối. Trong một đám tang truyền thống, hàng phường huy động từ 30 đến 50 lao động nam nữ, phân chia công việc theo giới tính và đóng góp cố định từ 1 đến 2 bát gạo/hộ cùng tiền phúng viếng theo định mức. Sự tương trợ này giúp gia đình tang chủ cắt giảm hơn 65% áp lực chi phí nhân công và dịch vụ tổ chức.

Thứ tư, quy mô mạng lưới xã hội tham gia tương trợ mở rộng vượt bậc. Số lượng khách mời trong các đám cưới và đám tang tăng từ mức trung bình 80 - 120 người (giai đoạn 1980 - 1990) lên tới 250 - 400 người (giai đoạn 2015 - 2017). Mạng lưới không còn bó hẹp trong phạm vi quan hệ huyết thống 5 đời mà mở rộng sang quan hệ đồng nghiệp, bạn bè thương mại qua biên giới và các cộng đồng di cư tại Tây Nguyên.

Thảo luận kết quả

Cơ chế nền tảng duy trì tính bền vững của các hoạt động tương trợ chính là nguyên tắc "có đi có lại" được đúc kết qua các câu ngạn ngữ Nùng Phàn Slình: "Bát mưng, bát câu" (Có đi, có lại), "Mưng dèn, câu dài" (Bạn biếu, tôi tặng), "Ngừn xèn tô ky / Tào lỵ tồ păng" (Bạc tiền khắc ghi / Đạo lý đáp đền). Niềm tin xã hội (social trust) đóng vai trò chất bôi trơn giúp các cá nhân sẵn sàng cho vay mượn nguồn lực kinh tế và ngày công mà không cần hợp đồng dân sự bằng văn bản pháp lý.

Khi so sánh với các nghiên cứu về làng xã người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ của Lương Văn Hy và Nguyễn Tuấn Anh, sự tương trợ của người Nùng Phàn Slình có tính tổ chức và tính liên kết cộng đồng cao hơn thông qua thiết chế hàng phường mang tính tự quản sâu sắc. Cuốn sổ gia đình không đơn thuần là bảng kê nợ mà là một dạng "chứng thư vốn xã hội", ghi nhận mức độ gắn kết và vị thế xã hội của từng gia đình.

Dữ liệu điền dã có thể được trực quan hóa qua biểu đồ so sánh cơ cấu thực đơn cỗ bàn qua các thời kỳ: số lượng món ăn trong đám cưới tại xã Thạch Đạn tăng từ 6 món (năm 1980) lên 12 - 14 món (năm 2017); đám tang tăng từ 4 món lên 8 - 10 món. Bên cạnh đó, bảng phân tích mức tiền phúng viếng giai đoạn 1988, 2004 và 2015 cho thấy đường xu hướng tăng trưởng tuyến tính tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển kinh tế thương mại biên mậu. Tuy nhiên, xu hướng này cũng đặt ra thách thức về áp lực kinh tế khi các nghi lễ có nguy cơ bị thương mại hóa và phô trương hình thức.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thể chế hóa và lồng ghép thiết chế hàng phường vào hương ước nông thôn mới: Ủy ban nhân dân xã Thạch Đạn và Ban công tác Mặt trận cơ sở cần chính thức công nhận và tích hợp mô hình tự quản của tổ chức hàng phường vào quy ước thôn bản tại 8/8 thôn của xã trước quý IV năm 2025, nhằm phát huy năng lực tự quản an sinh xã hội cơ sở.

  2. Chuẩn hóa và tinh giản quy mô thực hành nghi lễ: Ban Văn hóa xã Thạch Đạn phối hợp cùng Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên triển khai cuộc vận động văn minh trong cưới hỏi, tang ma giai đoạn 2024 - 2026; đặt mục tiêu giảm thiểu 25% - 30% tình trạng lãng phí trong cỗ bàn, khống chế số lượng món ăn ở mức hợp lý (dưới 8 món) và xóa bỏ các thủ tục thách cưới nặng về vật chất.

  3. Triển khai dự án số hóa và bảo tồn di sản nghi lễ dân gian: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Cao Lộc chủ trì, phối hợp với các nghệ nhân địa phương thực hiện chương trình ghi âm, ghi hình và tư liệu hóa 100% các bài hát đối đáp "cổ lảu" trong đám cưới cùng các nghi thức cúng Tào Lài truyền thống trước năm 2028, ngăn chặn nguy cơ mai một bản sắc văn hóa phi vật thể.

  4. Chuyển hóa vốn xã hội nghi lễ thành vốn kinh tế hợp tác: Hội Nông dân và Hợp tác xã Nông nghiệp xã Thạch Đạn xây dựng kế hoạch giai đoạn 2025 - 2030 nhằm tận dụng mạng lưới liên kết thôn xóm sẵn có từ các hội tương trợ để thành lập 3 - 5 tổ hợp tác trồng cây ăn quả đặc sản (hồng, lê) và chăn nuôi gia cầm bản địa, phấn đấu nâng cao thu nhập bình quân của các hộ tham gia thêm 15% - 20%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà nghiên cứu Nhân học, Dân tộc học và Văn hóa học: Cung cấp khung lý thuyết mẫu mực về việc ứng dụng lý thuyết vốn xã hội của Pierre Bourdieu và lý thuyết biếu tặng của Marcel Mauss vào phân tích thực tiễn đời sống tộc người thiểu số vùng biên giới.

  2. Cán bộ quản lý văn hóa và hoạch định chính sách dân tộc: Sử dụng dữ liệu thực chứng từ 4 bản nghiên cứu để xây dựng các chương trình bảo tồn văn hóa gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới và chính sách an sinh xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Xã hội: Tài liệu tham khảo hữu ích về phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học, kỹ thuật khai thác tư liệu dân gian qua sổ gia đình ("sổ nợ đời") và thiết kế nghiên cứu so sánh biến đổi văn hóa.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia phát triển cộng đồng: Khai thác cơ chế vận hành của mạng lưới quan hệ xã hội truyền thống để thiết kế các dự án can thiệp phát triển sinh kế, nâng cao năng lực nội sinh và tăng cường vốn xã hội cho người dân nông thôn miền núi.

Câu hỏi thường gặp

Sổ gia đình hay "sổ nợ đời" của người Nùng Phàn Slình có chức năng gì?
Sổ gia đình là văn bản ghi chép chi tiết danh tính khách mừng, số tiền hoặc hiện vật đóng góp trong các nghi lễ cưới hỏi, ma chay từ năm 1980 đến nay. Đây là công cụ minh bạch hóa nghĩa vụ đáp từ theo nguyên tắc "có đi có lại", giúp gia đình quản lý và duy trì mạng lưới vốn xã hội bền vững qua nhiều thế hệ.

Nghi lễ "Slam nâư" và tục "Dương eng" trong sinh đẻ thể hiện tính tương trợ như thế nào?
Nghi lễ "Slam nâư" (làm lễ ngày thứ 3 sau sinh với lễ vật bắt buộc gồm 3 con gà) mở đầu cho thời kỳ thăm nom "Dương eng". Người thân và xóm giềng mang gà, gạo nếp, chân giò hoặc tiền mặt đến bồi bổ cho sản phụ, đồng thời trao đổi kinh nghiệm chăm sóc trẻ sơ sinh, giúp gia đình vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu.

Tổ chức "hàng phường" hỗ trợ tang ma tại xã Thạch Đạn hoạt động ra sao?
Hàng phường là tổ chức tương trợ xóm bản tự nguyện với 100% hộ dân trong xóm tham gia. Khi có tang lễ, hàng phường cử người phân công lao động chặt chẽ theo giới tính: nam giới phụ trách đào huyệt, khiêng kiệu, đóng quan tài; nữ giới lo nấu cỗ, phục vụ khách, giúp gia đình tang chủ giảm hơn 65% gánh nặng công việc.

Cơ cấu sính lễ cưới xin truyền thống gồm những thành phần vật chất cụ thể nào?
Sính lễ cưới hỏi chính thức ("khả cay") bao gồm 1 con lợn quay, 120kg thịt lợn, 1 con gà trống thiến, 3 đôi gà trống hoa, 20kg gạo nếp, 100 lá trầu và 40 đến 60 quả cau. Toàn bộ đồ lễ đều mang tính biểu trưng cho sự sinh sôi nảy nở và được chuẩn bị nhờ sự hỗ trợ kinh tế của cả dòng họ.

Kinh tế thị trường và hội nhập đã làm biến đổi tương trợ cộng đồng tại Thạch Đạn như thế nào?
Quá trình hội nhập khiến dòng quà tặng chuyển dịch mạnh sang tiền mặt hóa (chiếm hơn 85% quà thăm hỏi và mừng cưới), quy mô khách tham dự tăng gấp 3 lần (từ 80 lên 400 người), đồng thời mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội ra ngoài phạm vi huyết thống sang đối tác giao thương và bạn bè liên tỉnh.

Kết luận

  • Hệ thống tương trợ trong nghi lễ vòng đời của người Nùng Phàn Slình là một cấu trúc văn hóa hoàn chỉnh, kết hợp nhuần nhuyễn giữa trợ giúp vật chất, nâng đỡ tinh thần và tương trợ ngày công lao động.
  • Nguyên tắc "có đi có lại" và niềm tin liên chủ thể là hai trụ cột cốt lõi duy trì sự bền vững của mạng lưới xã hội và vốn xã hội cộng đồng.
  • Thiết chế "hàng phường" và "sổ nợ đời" là những sáng tạo xã hội độc đáo, đóng vai trò như hệ thống an sinh xã hội phi chính thức nhưng có hiệu lực thực thi tuyệt đối.
  • Biến đổi tương trợ dưới tác động của kinh tế thị trường thể hiện qua xu hướng tiền tệ hóa và mở rộng quy mô mạng lưới, vừa tạo thuận lợi cho giao lưu vừa đặt ra yêu cầu kiểm soát tính thực dụng.
  • Vốn xã hội tích lũy qua các nghi lễ vòng đời là nguồn lực nội sinh quan trọng thúc đẩy sự cố kết tộc người và phát triển kinh tế bền vững tại vùng cao biên giới.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã vận dụng thành công lý thuyết vốn xã hội của Bourdieu và lý thuyết biếu tặng của Mauss để giải mã toàn diện cơ chế tương trợ cộng đồng của người Nùng Phàn Slình, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu nhân học tại vùng biên giới Lạng Sơn.

Kế hoạch hành động và ứng dụng tiếp theo: Giai đoạn 2024 - 2026 tập trung hoàn thiện việc tích hợp thiết chế hàng phường vào hương ước văn hóa xã Thạch Đạn; giai đoạn 2027 - 2030 mở rộng mô hình chuyển hóa vốn xã hội sang phát triển các hợp tác xã nông nghiệp đặc sản trên toàn địa bàn huyện Cao Lộc.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và các tổ chức phát triển hãy chủ động ứng dụng những phát hiện và đề xuất của luận văn vào thực tiễn quy hoạch chính sách dân tộc, nhằm bảo tồn trọn vẹn di sản văn hóa truyền thống gắn liền với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số.