CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. LICH SU NGHIEN CUU VAN DE 1. Nghiên cứu của các tác gia nước ngoài Nghiên cứu về các cộng đồng sống ven và trong các vùng sinh thái từ lâu đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm tiễn hành dé đánh giá sự tác động của những cộng đồng này với nguồn TNTN hay nói một cách khác là nghiên cứu lối sống và ứng xử với môi trường sống của người dân bản địa. Các tác phẩm tiêu biểu là J.
Spencer với “Du canh ở Đông Nam A” (1966), “Những người nông dân trong rừng: Phát triển kinh té và nên nông nghiệp vùng đất khó canh tác ở Bắc Thái Lan” của B. Johnsin (1978), “Ai đang ăn rừng?: dân số, tính hiện đại và nạn phá rừng ở Đông Nam Á” của Alberto Gomes (1978), “Nóng nghiệp và sử dụng tài nguyên trong một cộng dong người Kenya thuộc vùng rừng mưa miễn xuôi” của See Chung Chin (1980), “Chúng tôi ăn rừng. ` của Georges Condominas (2008). Ngoài ra, trong hệ thông công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về van đề di dân và TDC, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến các chuyên khảo sau: Tham khảo kết luận của Uỷ ban Thế giới về Đập (2000) qua nghiên cứu 125 đập lớn tại 52 quốc gia cho thấy hàng triệu người dân sống ở hạ lưu các đập - phụ thuộc vào hoạt động lũ tự nhiên và thuỷ sản - gặp những tổn thất nghiêm trọng đến cuộc sống.
Số người di dời không được xác định rõ, nên không được đền bù hoặc đền bù thường không đủ. Mức độ di dời càng lớn, cuộc sống của cộng đồng bị ảnh hưởng càng ít có khả năng được phục hồi. Thiếu cam kết chính trị hoặc năng lực của các chính quyền ảnh hưởng bat lợi đến bảo tồn di sản văn hoá, các công trình khảo cổ của các cộng đồng địa phương va sự biến mat của động thực vật. Dân tộc thiểu số và dân sở tại dé bị ton thương và các ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống văn hoá và tinh thần khi đối mặt với các mất mát do di dời.
Trong các cộng đông bị ảnh hưởng, khoảng cách vê giới lớn và phụ nữ 11 thường xuyên phải chịu các chi phí xã hội nhiều hơn và thường bị phân biệt khi phân bồ nguồn lực. Sự tham gia của những người bị ảnh hưởng trong đánh giá tác động xã hội và môi trường thường diễn ra sau, thậm chí thiếu hoặc bị giới hạn về phạm vi. Tham khảo về kết quả nghiên cứu ở 44 trường hợp khác của Scudder (chỉ có 3 trong số 44 (khoảng 7%) là thành công). Do cán bộ thực thi thiếu năng lực (27 trường hợp); Thiếu vốn (22 trường hợp); Thiếu cam kết chính trị (quy hoạch thiếu đất, cơ sở hạ tầng không đầy đủ như dự kiến); Thiếu cơ hội phát triển (tập huấn, khuyến nông, tín dụng.); Số người TĐC dự kiến thấp hơn thực tế; Thiếu sự tham gia của người TDC vào quá trình quy hoạch; Mat dat (86% các trường hợp nghiên cứu); Mất cơ hội việc làm; Ảnh hưởng đến an ninh lương thực (79% trường hợp nghiên cứu phải đối mặt với vấn đề an ninh lương thực).
Hai chuyên khảo về van đề di dân và TDC gồm: “Các phương pháp tiếp cận nhân học về TDC - Chính sách, thực tiễn và lý thuyết” và “TĐC, nguy cơ nghèo hoá các vấn dé sinh kế bên vững” (2002) của Christopher McDowell (Khoa Nhân học, Đại học Macquarie, Sydney). Hai chuyên khảo này đã đề cập đến những vấn đề phương pháp luận liên quan đến TĐC, từ bản chất của TĐC, sự khác biệt giữa TDC tự nguyện và không tự nguyện, đến mối quan hệ giữa TDC với biến đổi kinh tế - xã hội của những cộng đồng di cư, với nguy co ban cùng hoá sau TDC, đồng thời đưa ra những định hướng dé xây dựng các hình thức sinh kế bền vững sau TDC [14, tr. Luan van Thac si cua Cao Thi Thu Yén, bao vé tai Vién Cong nghé Hoang gia Thuy Dién năm 2003, với dé tài: “Hurdng tới sự bên vững của các đập (thuỷ điện) lớn của Việt Nam - Van dé TDC và các dự án thuỷ điện ” (tiếng Anh). Luận văn đã đề cập đến những vấn đề căn bản trong quá trình TĐC liên quan đến các dự án thuỷ điện, những thành công và hạn chế, cũng như những khác biệt giữa chính sách đưa ra với thực tiễn thực hiện.
Thông qua nghiên cứu quá trình TĐC 12 của thuỷ điện Hoà Bình và thuỷ điện Yaly, luận văn đã đề cập đến những bắt cập trong công tác TĐC của các dự án thuỷ điện của Việt Nam và tác động của các dự án đến đời sống của những người thuộc điện TDC [14, tr. Luận văn của Ulrika Bladh và Eva - Lena Nilsson, cũng tại Viện Công nghệ Hoàng gia Thuỷ Điển năm (2005), với đề tài: “Xây dựng kế hoạch TDC không tự nguyện như thế nào - trường hợp dự án thuỷ điện Sơn La ở Việt Nam”. (tiếng Anh) Thông qua luận văn đã cho thay những tác động của quá trình TDC ở công trình thuỷ điện Sơn La đối với những người dân thuộc diện phải di đời, thông qua hệ thống các nghiên cứu điểm trên địa bàn cả ba tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Đặc biệt, luận văn đã đi sâu xem xét van đề sở hữu dat đai, đền bù, xây dựng cơ sở hạ tang, xác định những đối tượng chịu ảnh hưởng của qua trình TĐC, đồng thời xem xét mức độ tham gia của họ trong quá trình xây dựng và triển khai kế hoạch [14, tr.
Các báo cáo và nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu A (ADB) về quá trình TDC phục vụ các dự án phát triển nói chung, kết hợp với các hướng dẫn của ADB và WB về di dân và TĐC như: “TDC không tự nguyện ” và “Sổ tay về TDC - hướng dan áp dụng vào thực tiễn ” (ADB) và “Sách hướng dẫn về TĐC không tự nguyện - việc hoạch định và thực hiện các dự án phát triển” và “Chính sách hoạt động đối với vấn dé TDC không tự nguyện ” (WB) [14, tr. Nghiên cứu của các tác giả trong nước Trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi đã tiếp cận các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về các van dé di dân, TĐC, bảo tồn và PTBV ở VQG. Cac nghién cuu về di dan TDC va chính sách di dân tai Việt Nam đã được tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây. Cùng với tốc độ đầu tư và phát triển nhanh cơ sở hạ tầng, di dân TĐC trong các dự án phát triển đang trở 13 thành một vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Đặc biệt là sự tác động đến đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của cộng đồng TĐC, có thể kế đến những công trình sau: Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Bá Thuỷ (2002) với đề tài: “Di dan tự do của các dân tộc Tay, Ning, Dao, Hmông từ Cao Bang, Lạng Sơn vào Dak Lak giải đoạn 1986 - 2000”. Luan án đã tập trung nghiên cứu thực trạng di dân tự do nói chung và di dân tự do nói riêng từ địa bàn Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đăk Lak trong thời gian từ 1986 - 2000. Phân tích những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng di dân nói trên. Đánh giá tác động của quá trình di dân đối với đời sống tộc người đồng thời đưa ra các kiến nghị và giải pháp có giá trị ứng dụng cao trong công tác di dân va TDC.
Tuy nhiên, luận án mới chi đề cập tới hình thức di dân tự do ma chưa đề cập tới các hình thức di dân, TDC khác. Năm 2005, đoàn nghiên cứu thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam đã tiến hành dự án “Khảo sát nghiên cứu tiến độ và kết quả bước dau quá trình thực hiện TĐC, công trình thuỷ điện Sơn La”. Được tiến hành ở 5 huyện Mường La, Thuận Châu, Quỳnh Nhai (Sơn La), Phong Thổ và Sìn Hồ (Lai Châu). Nhằm tìm hiểu diễn biến của quá trình thực hiện di dân TĐC, những tác động về kinh tế - xã hội, văn hoá, môi trường và sức khoẻ của cộng đồng di chuyén va cong đồng so tại.
Từ đó, nhận diện những tác động tích cực vả rủi ro của quá trình TĐC; Tiếp tục tìm hiểu diễn biến tâm tư, nguyện vọng, quan hệ dân tộc của cộng đồng TDC và cộng đồng sở tại; Thu thập các tư liệu cơ bản còn thiếu về sinh kế, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số tạo cơ sở dữ liệu cho phân tích, dự báo chương trình TĐC trong tương lai. Dự án đã đưa ra những tham vấn nhằm góp ý kiến và giải pháp giảm thiểu nhăm cải thiện những vấn đề đang đặt ra của quá trình TĐC. Tuy nhiên, nghiên cứu có những hạn chế như về cơ bản chỉ phản ánh thực trạng vào thời điểm nghiên cứu, do số liệu điều tra, khảo sát theo cách cắt ngang, 14 không tránh khỏi tình trạng thông tin phản ánh chưa đầy đủ (đặc biệt là về mảng vệ sinh, y tế). Việc đánh giá về môi trường chưa kết hợp với kết quả phân tích mẫu đất, nước và không khí tại các điểm nghiên cứu.
Chủ yếu sử dụng số liệu quan sát, phỏng vấn và tài liệu sẵn có, bởi hạn chế về thời gian, kinh phí và ngôn ngữ giao tiếp của đối tượng khảo sát đã ảnh hưởng đến chất lượng thông tin bang hỏi soạn sẵn. Đoàn Béng và Nguyễn Đức Anh (2007) với đề tài: “Bước dau đánh giá chất lượng cuộc sống người dân TPC của dự án hô Tả Trạch (Thừa Thiên Huế) ” Đề tài khảo sát, tìm hiểu công tác thực hiện TDC và phục hồi sinh kế của người dân theo kế hoạch của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế; Khảo sát chất lượng Cuộc song hiện tai của người dân sống ở các vùng TĐC thuộc dự án hồ Tả Trạch và bước đầu đề xuất giải pháp và kiến nghị dé hoàn thiện công tác di dân TDC. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học của tac giả Khúc Thị Thanh Vân bảo vệ tại Viện Xã hội học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam với đề tài: “Ảnh hưởng của chính sách TDC doi với cuộc sống người dân sau TDC: Nghiên cứu trường hợp thuỷ điện Bản Vẽ” (2008). Luận văn đã cho thay ảnh hưởng của chính sách TDC có tác động tới khả năng hoà nhập cộng đồng hoặc giữ gìn bản sắc văn hoá của người dân.
Luận văn cũng đề xuất những khuyến nghị cho việc lập chính sách hoặc bô khuyết các hoạt động trong quá trình thực hiện xây dựng phương án TĐC, chương trình khôi phục cuộc sống trong một dự án phát triển.