MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận văn Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trƣng khí hậu khác nhau giữa các miền. Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng và phong phú về thành phần loài cũng nhƣ số lƣợng.
Sự phong phú và đa dạng của khu hệ động vật đã góp phần tạo nên sự đa dạng này. Động vật không xƣơng sống nói chung, động vật Thân mềm nói riêng vô cùng đa dạng về hình thái, tập tính, sinh lý nên thích nghi với nhiều điều kiện môi trƣờng sống khác nhau. Thân mềm (Mollusca) đƣợc biết đến với khoảng 130.000 loài, phân bố rộng khắp. Trong ngành Thân mềm, lớp Chân bụng (Gastropoda) là lớp đa dạng và phong phú nhất, có khoảng 90.000 loài, chiếm khoảng 70% tổng số loài Thân mềm[1].
Lớp Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) là một trong 7 lớp thuộc Ngành thân mềm (Mollusca) có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái và giá trị thực tiễn đối với con ngƣời. Đặc biệt nhóm ở cạn với các môi trƣờng sống đặc trƣng đã hình thành nên đa dạng cao. Rất nhiều loài trong số chúng là nguồn thực phẩm quan trọng đối với con ngƣời [2]. Trong hệ sinh thái, ốc cạn là thành phần không thể thiếu trong chuỗi và lƣới thức ăn, đặc biệt với một số loài chim, loài thú ăn thịt nhỏ.
Trong chu trình phân giải vật chất, ốc cạn là nhóm ăn thực vật bậc thấp và mùn bã ở tầng thảm mục. Tuy nhiên nhiều loài trong số chúng là vật chủ trung gian, lan truyền gây bệnh cho con ngƣời và động vật. Ngoài ra, một số loài có thể phá hoại mùa màng (ốc sên - Achatina fulica)[3]. Ở Việt Nam các nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng còn hạn chế, nhiều vùng chƣa có dẫn liệu.
Các nghiên cứu tuy từ rất sớm nhƣng kéo dài nhiều thế kỷ, kết quả nghiên cứu chƣa phản ảnh đầy đủ về Luan van 2 đa dạng, đặc trƣng về hình thái, kích thƣớc, phân loại, phân bố, giá trị trong thực tiễn. Các nghiên cứu cho thấy vùng núi đá vôi là nơi tập trung nhiều ốc cạn, kể cả số lƣợng loài cũng nhƣ số lƣợng cá thể. Tam Điệp là thành phố miền núi của tỉnh Ninh Bình, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh. Với địa hình núi đá là chủ yếu nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có các dẫn liệu về loài ốc cạn ở khu vực này.
Vì vậy, nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng góp phần cho thấy sự đa dạng sinh học ở khu vực và những tác động của môi trƣờng xung quanh đến môi trƣờng sống của chúng. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) ở cạn khu vực núi Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình” 2. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc thành phần các loài, đặc điểm phân bố thuộc lớp Thân mềm Chân bụng ở cạn tại khu vực núi Tam Điệp. - Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến Thân mềm Chân bụng ở cạn, đề ra các biện pháp quản lý đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Nghiên cứu thành phần loài thuộc lớp Thân mềm Chân bụng ở khu vực nghiên cứu và tìm hiểu sự phân bố của chúng. Nội dung 2: Nghiên cứu vai trò Thân mềm Chân bụng ở cạn tại khu vực nghiên cứu. Nội dung 3: Đề xuất các giải pháp quản lý đa dạng Thân mềm Chân bụng tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung lý luận khoa học và thực tế cho công tác điều tra đa dạng sinh học Thân mềm Luan van 3 Chân bụng (gastropoda) ở cạn khu vực núi Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, đồng thời tạo cơ sở cho việc nghiên cứu về sự phân bố của chúng trong các kiểu sinh cảnh và độ cao trong khu vực, đặc biệt là phân bố trên các kiểu sinh cảnh thuộc núi đá vôi.
- Ý nghĩa thực tiễn : Kết quả và phƣơng pháp nghiên cứu tạo tiền đề cho việc thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về giá trị của các loài Thân mềm, Chân bụng ở các khu rừng núi đá vôi và bổ sung thông tin, tình trạng các loài đƣợc phát hiện phục vụ công tác bảo tồn ốc cạn ở cạn khu vực núi Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Luan van 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về Thân mềm Chân bụng - Đặc điểm phân loại Lớp Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) là một trong 7 lớp thuộc ngành Thân mềm (Mollusca).Trong lớp Chân bụng có 3 phân lớp: phân lớp Mang sau (Opisthobranchia), phân lớp Mang trƣớc (Prosobranchia) và phân lớp Có phổi (Pulmonata). Trong 3 phân lớp này, phân lớp Mang sau hoàn toàn ở biển, phân lớp mang trƣớc tỉ lệ loài sống ở nƣớc chiếm phần lớn còn một số ở cạn, phân lớp Pulmonata sống trên cạn[2].
Hầu hết các loài ốc cạn đƣợc phát hiện có thể xác định dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ, các dấu hiệu đƣợc sử dụng nhiều trong mô tả, sự xoắn của vỏ ốc là tính chất phức tạp trong vỏ ốc. Sự tiến hóa hay thoái hóa của dạng ống đã tạo nên vỏ xoắn quen gọi là vòng xoắn. Các vòng xoắn chụm lại ở giữa trục (axis), trục này chạy xuyên suốt trung tâm gọi là trụ giữa (central pillar) của vỏ. Vòng xoắn có thể rộng nhanh hay chậm và đƣợc tách ra thành đƣờng liên tục gọi là đƣờng xoắn (suture).
Một vài loài vỏ mỏng có đƣờng thứ sinh hay một đƣờng rộng (broad), thêm vào một dãy mờ đục (opaque) bên cạnh đƣờng xoắn nhƣ đƣờng xoắn kép. Hầu nhƣ trong các mẫu vỏ, vòng xoắn rộng nhất là vòng xoắn cuối (last whorl). Đỉnh của vòng xoắn (apex), đối diện với đáy (base). Phần mở ra bên ngoài của vỏ gọi là miệng vỏ (aperture)[4].
Vỏ ốc Vỏ ốc là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn vòng quanh một trục tạo nên các vòng xoắn. Vỏ ốc có thể lớn, trung bình hay nhỏ. Hình dáng vỏ rất đa dạng nên có thể là hình cầu, hình nón, dạng tháp xoắn, hình trụ, dạng con quay, dạng xoắn dài, dạng cuộn trong. Vỏ có thể dày hay mỏng, chắc chắn hay không, trong suốt hay mờ đục.
Vỏ có màu sắc rất đa dạng, mỗi loài, Luan van 5 thậm chí mỗi cá thể trong loài có màu sắc khác nhau. Màu sắc trên vỏ ốc cạn thƣờng đƣợc trang trí ở hầu hết theo kiểu các dãy xoắn màu hẹp hay rộng hay có sọc. Vỏ thƣờng xoắn hình hoặc xoắn trong một mặt phẳng, có khi có nắp vỏ (vẩy), hoặc không có nắp vỏ. Vỏ có thể bị tiêu giảm ở nhiều mức độ : Vỏ không chứa đủ phần thân ( giống Carinaria), vỏ bé và một phần bị vạt áo phủ ( giống Aplysia), vạt áo phủ kín vỏ bé ở trong ( giống Aplysia, sên trần Limax), vỏ tiêu giảm chỉ còn vụn đá vôi rải rác (sên trần Arion) hoặc mất hoàn toàn dấu vết của vỏ[2].
Đỉnh vỏ Đỉnh vỏ là điểm khởi đầu của các vòng xoắn, là nơi hình thành các vòng xoắn đầu tiên của vỏ (còn gọi là vòng xoắn phôi), các vòng xoắn này thƣờng rất nhỏ và nhẵn. Đỉnh vỏ có thể nhọn, tù hoặc tầy. Các vòng xoắn Các vòng xoắn bao gồm các vòng xoắn tính từ đỉnh vỏ tới vòng xoắn cuối cùng, trừ lỗ miệng. Giữa các võng xoắn là rãnh xoắn.
Các vòng xoắn có thể là thuận hay ngƣợc chiều kim đồng hồ, có nhiều loài ốc xoắn ngƣợc( ví dụ: Netunea angulate) và có nhiều loài có cả hai kiểu xoắn (Amphidromus perversus); tròn đều, phồng lên hay phình ra ở phần dƣới. Các vòng xoắn có khi nhẵn, có khía; gờ dọc, gờ vòng hay gờ hình cánh cung. Trên các vòng xoắn có thể có hay không có hoa văn trang trí, đƣờng viền có gai hay nốt sần, có lông hoặc không. Miệng vỏ Miệng vỏ là nơi vỏ ốc thông với bên ngoài.
Ở vùng miệng vỏ có thể phân biệt bờ trục và vành miệng ngoài, có thể phân biệt góc trên và góc dƣới lỗ miệng vỏ. Bờ viền của miệng là môi, đƣợc chia thành bốn khu vực : Bên ngoài môi, gốc môi, trụ môi, và môi trong vách. Miệng có thể có một hay Luan van 6 nhiều hơn các mấu chìa ra gọi là răng, tên của nó có thể tùy theo vị trí của chúng. Gờ vành miệng ngoài có thể liên tục hay ngắt quãng ở bờ trụ.
Lỗ miệng có nắp miệng hay không. Trụ ốc và lỗ rốn Trụ ốc là do các vòng xoắn chập lại với nhau tạo nên. Trụ ốc có thể rỗn và mở ra ngoài gần miệng tạo thành lỗ rốn, có khi trụ ốc lại đặc không tạo lỗ rốn. Lỗ rốn có thể rộng hay hẹp, có thể nông hay sâu.
Trong định loại và nhận dạng có thể phân biệt 3 dạng lỗ rốn : Dạng đóng, dạng vết lõm và dạng mở. - Đặc điểm sinh học và sinh thái học Thân mềm Chân bụng ở cạn phân bố rộng ở nhiều dạng địa hình và sinh cảnh khác nhau. Trên môi trƣờng cạn, ốc và sên trần thƣờng ƣa sống ở những nơi ẩm ƣớt, giàu mùn bã thực vật, rêu và tảo. Kích thƣớc cơ thể của ốc cạn dao động trong khoảng từ một hoặc vài mm( ở họ Vertiginidae, Euconulidae ) đến hàng chục mm ( ở giống Camaena, Achatina, Amphidromus)[2].
Đặc điểm phân bố theo vành đai độ cao của ốc cạn phụ thuộc vào điều kiện sống nhƣ nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn, nguyên liệu tạo lớp vỏ. Ở vùng núi, phần lớn các loài ốc cạn tập trung phân bố (cả số lƣợng loài và số lƣợng cá thể trong mỗi loài và số lƣợng cá thể trong mỗi loài) ở khu vực chân núi và sƣờn núi, tính đa dạng giảm rõ rệt ở khu vực đỉnh núi. Các sinh cảnh tự nhiên nhƣ rừng, núi đá vôi, hang động. có rất nhiều yếu tố thuận lợi cho ốc cạn sinh sống.
Ngƣợc lại, môi trƣờng tán nhân nhƣ nƣơng rẫy, khu dân cƣ, đất trồng trên nền rừng, đất trồng cây lâu năm. tính đa dạng sinh học giảm đi do tác động của con ngƣời thƣờng theo hƣớng bất lợi cho sinh vật. Đây là các loài động vật thân mềm chân bụng sống trên cạn (Mollusca: Gastropoda) Luan van 7 GIỚI ĐỘNG VẬT (ANIMALIA) NGÀNH THÂN MỀM (MOLLUSCA) LỚP CHÂN BỤNG (GASTROPODA) Ở dƣới nƣớc (Water) Ở trên cạn (Land) Nƣớc ngọt (Fresh water) Có vỏ (Land snail) Không vỏ (Land Nƣớc mặn (Sea) slug) Có vỏ (Sea snail) Không vỏ (Sea slug) Bảng 1.1: Sơ đồ phân chia các nhóm thân mềm chân bụng Luan van 8 Hình 1.