MỞ ĐẦU Việt nam là một quốc gia có mức độ đa dạng các loài thú linh trƣởng rất cao ở Khu vực Đông Nam Á. Hiện nay, các nhà khoa học đã xác định đƣợc 25 loài thú linh trƣởng thuộc 3 họ chính: Họ Culi (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vƣợn (Hylobatidae) tại Việt Nam. Ngoài sự đa dạng về loài, Việt Nam là quốc gia có số lƣợng loài thuộc nhóm đặc hữu cao nhất thế giới, bên cạnh một số quốc gia có mức đặc hữu cao nhƣ Brazil, Indonesia, Madagasca. Tuy nhiên, do áp lực săn và bị mất sinh cảnh sống nên các quần thể động vật hoang dã nói chung và các loài linh trƣởng nói riêng đang bị suy giảm nhanh chóng, đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng cao.
Khu vực đề xuất thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nƣớc Trong ( au đây gọi t t là khu vực Động Châu - Khe Nước Trong) nằm ở huyện Lệ Thủy, phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình, giáp với biên giới Việt Nam - Lào và KBTTN Bắc Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Khu vực này có diện t ch khoảng hơn 20.000 ha, bao gồm chủ yếu là rừng nhiệt đới thƣờng xanh còn t nh chất nguyên sinh nằm trong Vùng sinh thái Đất thấp miền Trung rộng lớn (khoảng 500.000 ha) kéo dài dọc biên giới Việt Nam - Lào từ huyện Minh Hóa nối liền với các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình sang huyện Hƣớng Hóa tỉnh Quảng Trị. Đây là một trong những khu vực có diện tích rừng tự nhiên liên tục rộng lớn nhất ở Việt Nam và chỉ còn thấy tồn tại ở một vài khu vực dọc biên giới Việt- Lào. Đặc biệt khu vực Động Châu - Khe Nƣớc Trong còn bảo tồn đƣợc một diện tích lớn kiểu rừng nhiệt đới thƣờng xanh còn tính chất nguyên sinh trên vùng đất thấp.
Kiểu rừng đã trở nên rất hiếm ở Việt Nam do bị tác động mạnh và bị thu hẹp ở các vùng khác. Về động vật bƣớc đầu đã ghi nhận sự tồn tại của nhiều loài động vật quý hiếm nhƣ Bò tót, Sao La, Mang Lớn, Chà vá chân nâu, Thỏ vằn, Trĩ sao, Hồng hoàng vv Về thực vật có nhiều loài qu hiếm nhƣ: Gụ mật, Gụ 2 lau, Lim xanh, Vù hƣơng, Re hƣơng, Dạ hƣơng Khu vực Động Châu - Khe Nƣớc Trong đƣợc tổ chức Bảo tồn Chim Thế giới công nhận là một trong 62 vùng chim quan trọng và đặc hữu của Việt Nam (2002). Chà vá chân nâu là loài đặc hữu của Việt Nam, Lào và Căm Pu Chia, là loài có nghĩa bảo tồn toàn cầu, đƣợc phân hạng ở mức Nguy cấp (EN) trong Danh lục Đỏ các loài bị đe dọa của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN 2019 , Phụ lục I của CITES 2015. Ở phạm vi Quốc gia loài này đƣợc xếp ở mức Nguy cấp EN trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 , và có tên trong nhóm IB của Nghị Định 06/2019/NĐ-CP của Ch nh phủ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ở Việt Nam Chà vá chân nâu phân bố dọc dãy Trƣờng Sơn khu vực giáp biên giới Việt Nam - Lào. Giới hạn phân bố ph a bắc là tỉnh Nghệ n và giới hạn ph a nam là tỉnh Đăk Lăk .Ngoài ra Chà vá chân nâu còn có ở bán đảo Sơn Trà, Đà N ng Van Peenan, 1969. Nằm trong khu vực phân bố tự nhiên của Chà vá chân nâu, KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong là một trong số ít các khu vực đang bảo tồn đƣợc một diện tích lớn rừng nhiệt đới thƣờng xanh còn tính chất nguyên sinh trên vùng đất thấp. Đồng thời khu vực này nằm trong vùng sinh thái đất thấp miền Trung rộng lớn đƣợc đánh giá là một trong các trung tâm đa dạng sinh học của thế giới.
Từ trƣớc đến nay chƣa có cuộc điều tra chuyên sâu nào về loài Chà vá chân nâu đƣợc thực hiện tại khu vực này. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng quần thể loài chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus (Linnaeus, 1771) tại khu vực đề xuất thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nƣớc Trong, tỉnh Quảng Bình”. Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung vào làm cơ sở dữ liệu khoa học đƣa ra các đề xuất, hƣớng giải quyết nhằm quản lý và bảo tồn quần thể loài Chà vá chân nâu nói riêng và các loài động vật hoang dã nói chung tại khu vực Động Châu - Khe Nƣớc Trong. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Phân loại thú linh trƣởng ở Việt Nam 1. Đặc điểm chung của thú linh trưởng Bộ Linh trƣởng (Primates) hay còn gọi là Bộ Khỉ hầu gồm những loài thú có kiểu đi bằng cả bàn chân, sống chủ yếu trên cây, ăn tạp hay ăn thực vật. Ngoài những đặc điểm chung về cấu tạo của động vật có xƣơng sống, của nhóm thú thì sự thích nghi với đời sống trên cây của thú Linh trƣởng đƣợc đặc trƣng bởi hình dạng và cấu trúc các chi. Xƣơng cẳng tay, xƣơng cánh tay khớp động với xƣơng bả vai và có thể quay quanh trục của nó.
Chi có 5 ngón, ngón 1 (ngón cái) nằm đối diện với 4 ngón còn lại. Hệ xƣơng đai ngực luôn có xƣơng đòn, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cử động ngang của chi trƣớc một thể loại vận động rất cần thiết cho đời sống leo trèo. Nhờ cấu tạo đặc biệt này nên chi trƣớc giảm đáng kể vai trò nâng đỡ cơ thể trong vận chuyển và khả năng cầm nắm tốt hơn gọi là tay. Thân chuyển dần tƣ thế nằm ngang của nhóm thú thành chiều thẳng đứng, đồng thời sự thay đổi đó cũng đã làm thay đổi vị trí của nhiều nội quan và não.
Hộp sọ tăng theo chiều cao và giảm nhiều chiều dài. Đáy hộp sọ nằm vuông góc với cột sống. Hai hố mắt gần nhau, mắt hƣớng về trƣớc tạo nên kiểu nhìn lƣỡng hình. Thể tích hộp sọ tƣơng đối lớn so với cơ thể và phát triển đồng thời với sự tăng thể tích não bộ.
Tăng thể tích não bộ là đặc điểm rất tiến hoá tiến bộ của thú Linh trƣởng. Trong não, áo não mới phát triển mạnh cả về thể tích và khối lƣợng. Thùy khứu giác giảm nhiều. Cùng với sự phát triển áo não mới là sự phát triển số lƣợng khe rãnh trên bán cầu não.
Não trƣớc có hai bán cấu với k ch thƣớc lớn và trùm lên nhiều phần não khác. Liên quan đến sự phát triển áo não mới là sự 4 phát triển các phản xạ thần kinh có điều kiện và các đặc điểm tâm sinh lý (Phạm Nhật, 2002). Phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam Cho đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học trong nƣớc và quốc tế nghiên cứu về khu hệ thú Linh trƣởng ở Việt Nam và đƣa ra nhiều quan điểm phân loại thú Linh trƣởng khác nhau, các quan điểm này thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1. Chẳng hạn, Phạm Nhật (2002) cho rằng thú Linh trƣởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ; trong khi đó Groves 2004 chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài.
Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh 2009 cũng đã liệt kê 25 loài thú linh trƣởng thuộc 3 họ khác nhau đƣợc ghi nhận ở Việt Nam Năm 2010 Van Ngoc Thinh et al, căn cứ vào dữ liệu phân tích về gen, âm học và hình thái đã mô tả loài vƣợn mới ở dãy Trƣờng Sơn. Tên Vƣợn má hung trung bộ (Nomascus annamensis Van Ngoc Thinh, Mootnick, Vu Ngoc Thanh, Nadler, Roos, 2010). Trong khi đó hệ thống phân loại thú linh trƣởng của Blair et al (2011), thì khu hệ linh trƣởng của Việt Nam gồm 26 loài và phân loài thuộc 3 họ. Hai loài mới so với danh lục của Groves (2004) là Khỉ đuôi dài côn đảo (Caenolestes condorensis Albuja and Patterson, 1996) và Vƣợn má hung Trung Bộ (Nomascus annamensis, Van Ngoc Thinh, Mootnick, Vu Ngoc Thanh, Nadler, roos, 2010).
Nadler (2012) đã liệt kê hệ thống phân loại linh trƣởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Theo Christian Roos et al, 2013 thì khu hệ linh trƣởng Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Mới đây nhất là theo phân loại linh trƣởng Châu Á của Roos et al (2014) thì khu hệ thú linh trƣởng Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. So với hệ thống phân loại của Marye.
Blair và cộng sự (2011) thì hệ thống 5 phân loại này không có Khỉ đuôi dài côn đảo (Caenolestes condorensis Albuja and Patterson, 1996). Tuy có sự khác nhau về số lƣợng loài, nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú Linh trƣởng ở Việt Nam có 3 họ ch nh: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ Cercopithecidae và họ Vƣợn Hylobatidae). Tổng kết về phân loại thú Linh trƣởng ở VN theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) 2011 3 26 Blair et al (2011) 2013 3 25 Roos et al (2013) 2014 3 25 Roos et al (2014) Trong luận văn này, việc sử dụng hệ thống phân loại thú Linh trƣởng sẽ theo hệ thống phân loại của Roos và cộng sự 2014 vì đây là hệ thống phân loại mới nhất, phản ánh đầy đủ phân loại học của thú Linh trƣởng Việt Nam và đƣợc các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi. Theo hệ thống phân loại này, khu hệ thú Linh trƣởng Việt Nam đƣợc trình bày ở bảng 1.
Phân loại thú Linh trƣởng ở Việt Nam theo Christian Roos (2014) Tên Việt Nam Tên khoa học I Họ Cu li Loridae 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis (Lacepede, 1800) 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus (Bonhote, 1907) II Họ khỉ Cercopithecidae 3 Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides (I.