Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu khu vực Đông Nam Á với 25 loài thú linh trưởng thuộc 3 họ chính. Trong số đó, Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) là loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm, được xếp hạng Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục Đỏ thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) năm 2019, đồng thời thuộc Nhóm IB theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Mặc dù có giá trị bảo tồn toàn cầu to lớn, quần thể loài này đang chịu sức ép nghiêm trọng từ tình trạng phân mảnh sinh cảnh và nạn săn bắt trái phép trên toàn dải Trường Sơn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt các dữ liệu thực địa chuyên sâu về hiện trạng số lượng, cấu trúc bầy đàn và sinh thái phân bố của Chà vá chân nâu tại khu vực đề xuất thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu – Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Mục tiêu cụ thể của công trình là lượng hóa quy mô quần thể, xác định đặc tính phân bố theo không gian và đai cao, đồng thời đánh giá có hệ thống các mối đe dọa nhằm đề xuất phương án bảo tồn bền vững.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 8 năm 2017 trên phạm vi 22 tiểu khu với hơn 20.000 ha rừng tự nhiên thuộc vùng sinh thái đất thấp miền Trung rộng 500.000 ha. Kết quả khảo sát 68 đàn linh trưởng thực tế đã cung cấp luận cứ khoa học then chốt, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý tài nguyên rừng và phục vụ trực tiếp cho tiến trình chuyển hạng thành công Khu Bảo tồn Thiên nhiên Động Châu – Khe Nước Trong.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Công trình được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần thể linh trưởng (Primate Population Ecology) và mô hình đánh giá mối đe dọa sinh cảnh đa tiêu chí theo khung lý thuyết của Margoluis và Salafsky (2001). Về mặt phân loại học, nghiên cứu ứng dụng hệ thống phân loại cập nhật của Christian Roos và cộng sự (2014), xác định khu hệ linh trưởng Việt Nam gồm 25 loài thuộc 3 họ: Họ Cu li (Loridae), Họ Khỉ (Cercopithecidae) và Họ Vượn (Hylobatidae).

Nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm sinh thái cốt lõi:

  • Quần thể sinh học linh trưởng và động thái bầy đàn.
  • Cấu trúc nhân khẩu học phân chia thành 5 nhóm tuổi: con con mới sinh (0 đến 8 tháng), con non (8 đến 18 tháng), con nhỡ (18 tháng đến 3 năm), con bán trưởng thành (trên 2,5 đến 4 năm) và con trưởng thành (trên 3,5 đến 4 năm).
  • Sinh cảnh rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp nguyên sinh trên núi đất.
  • Mật độ và phân bố sinh thái theo đai cao địa hình.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp ngoài thực địa với dữ liệu thứ cấp từ chuỗi quan trắc khí tượng 20 năm của trạm Khe Sanh và số liệu kiểm kê 48.527,16 ha đất lâm nghiệp địa phương.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế khoa học thông qua 30 tuyến khảo sát thực địa với chiều dài dao động từ 2,0 km đến 2,8 km mỗi tuyến, trải rộng trên 16 tiểu khu đại diện. Nhóm điều tra gồm 2 đến 3 thành viên di chuyển với tốc độ ổn định 1,0 đến 1,5 km/h trong khung giờ từ 7h00 đến 17h00. Mỗi tuyến được khảo sát lặp lại 3 ngày liên tục để giảm thiểu sai số quan sát. Đồng thời, phương pháp phỏng vấn bán định hướng được thực hiện với cán bộ kiểm lâm và người dân bản địa giàu kinh nghiệm đi rừng.

Lý do lựa chọn phương pháp điều tra tuyến thẳng (line transect) kết hợp hệ thống thông tin địa lý GIS (phần mềm MapInfo phiên bản 15) là khả năng chuẩn hóa tọa độ không gian chính xác, giúp định lượng trực quan sự phân bố của loài trong địa hình hiểm trở. Phương pháp đánh giá ma trận của Margoluis và Salafsky được áp dụng để chấm điểm định lượng 3 tiêu chí: phạm vi ảnh hưởng, cường độ tác động và tính cấp thiết, loại bỏ tính chủ quan khi phân cấp các nguy cơ.

Tiến trình điều tra thực địa chia thành 2 đợt khảo sát trọng điểm trong năm 2017:

  • Đợt 1 từ ngày 8/6 đến 29/6/2017 tại 8 tiểu khu thuộc khu vực phía Đông.
  • Đợt 2 từ ngày 3/8 đến 30/8/2017 tại 8 tiểu khu thuộc khu vực phía Tây.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp quá trình điều tra thực địa trên 30 tuyến đã đem lại 4 phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, ghi nhận tổng cộng 68 đàn Chà vá chân nâu qua 90 lượt quan sát trực tiếp, với quy mô dao động từ 3 đến 50 cá thể mỗi đàn (trung bình đạt 13 đến 14,5 cá thể/đàn). Cơ cấu quy mô bầy đàn cho thấy: nhóm đàn nhỏ từ 3 đến 10 cá thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,41% (37 đàn); nhóm đàn trung bình từ 11 đến 20 cá thể chiếm 23,53% (16 đàn); nhóm từ 21 đến 30 cá thể chiếm 16,18% (11 đàn); và nhóm đàn lớn trên 30 cá thể chiếm 5,88% (4 đàn).

Thứ hai, không gian phân bố có sự chênh lệch rõ nét giữa hai phân vùng: khu vực phía Tây ghi nhận 54 đàn (chiếm 79,41% tổng số đàn), trong khi khu vực phía Đông chỉ phát hiện 14 đàn (chiếm 20,59%).

Thứ ba, phân bố theo đai cao từ 208 m đến 914 m thể hiện sự tập trung không đồng đều: đai cao 400 đến 600 m chiếm mật độ cao nhất với 29 đàn (42,65%); đai cao 200 đến 400 m có 20 đàn (29,41%); đai cao 600 đến 800 m có 16 đàn (23,53%); và đai cao trên 800 m chỉ ghi nhận 3 đàn (4,41%).

Thứ tư, kết quả lượng hóa 4 mối đe dọa sinh cảnh xác định: Săn bắt, bẫy bắt động vật là nguy cơ nghiêm trọng nhất đạt 11 điểm (xếp hạng I); tiếp theo là khai thác gỗ đạt 8 điểm (xếp hạng II); khai thác vàng sa khoáng đạt 7 điểm (xếp hạng III); và thu hái lâm sản ngoài gỗ đạt 6 điểm (xếp hạng IV).

Thảo luận kết quả

Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện được cấu trúc trực quan qua biểu đồ cột thể hiện tần suất quy mô đàn, kết hợp biểu đồ phân bố đai cao và bản đồ số chuyên đề xây dựng trên nền tảng MapInfo nhằm minh họa chính xác các tọa độ điểm bắt gặp cùng 9 vị trí cây ngủ cố định của loài.

Sự vượt trội về số lượng đàn tại phía Tây (79,41%) được giải thích bởi yếu tố sinh cảnh: khu vực phía Tây duy trì diện tích lớn rừng giàu thường xanh với tầng tán khép kín, cây gỗ lớn đường kính trên 40 cm và nguồn quả lá phong phú, đồng thời ít chịu áp lực từ hoạt động dân sinh hơn khu vực phía Đông. Đai cao 400 đến 600 m là vùng chuyển tiếp tối ưu về nhiệt ẩm, cung cấp nơi trú ẩn kín đáo tại các sườn dông thấp gần khe suối.

So với các nghiên cứu tại bán đảo Sơn Trà hay Nam Lào, quần thể Chà vá chân nâu tại Động Châu – Khe Nước Trong có quy mô đàn trung bình 13 đến 14,5 cá thể, phản ánh một quần thể đang phát triển ổn định, chưa bị chia cắt cực đoan. Điều này khẳng định giá trị bảo tồn sinh thái đặc biệt của dải rừng đất thấp nguyên sinh duy nhất còn sót lại ở miền Trung.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững quần thể Chà vá chân nâu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Thiết lập và tuần tra định kỳ 9 tuyến giám sát trọng điểm (các tuyến 12, 13, 16, 19, 22, 25, 26, 28 và 30) đi qua các tiểu khu 515, 517, 531, 532, 534, 535, 536 nơi có các điểm ngủ cố định. Mục tiêu tháo gỡ 85% bẫy thú cơ giới và ngăn chặn người xâm nhập trái phép trong giai đoạn 2020 - 2022. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Lệ Thủy.

  • Triển khai chương trình hỗ trợ sinh kế và giao khoán bảo vệ rừng cho 78,9% đồng bào dân tộc Vân Kiều tại 2 xã vùng đệm Kim Thủy và Lâm Thủy. Mục tiêu giảm 50% áp lực khai thác lâm sản tự nhiên và chấm dứt thói quen đặt bẫy trong vòng 3 năm (2020 - 2023). Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Lệ Thủy phối hợp với các tổ chức bảo tồn trong nước và quốc tế.

  • Ứng dụng công nghệ bẫy ảnh tự động kết hợp phần mềm quản lý dữ liệu tuần tra SMART trên toàn bộ 22 tiểu khu, thực hiện quan trắc định kỳ 6 tháng một lần từ quý II năm 2021 nhằm theo dõi biến động số lượng cá thể. Chủ thể thực hiện: Bộ phận Kỹ thuật và Nghiên cứu khoa học của Khu bảo tồn.

  • Tăng cường cắm mốc ranh giới và lập chốt kiểm soát liên ngành tại các điểm nóng giáp ranh như tiểu khu 527, 532, 536, 538, nhằm triệt xóa 100% tình trạng khai thác gỗ và khai thác vàng sa khoáng trái phép trước năm 2022. Chủ thể thực hiện: Lực lượng Kiểm lâm cơ động phối hợp với Công an và Ban chỉ huy Quân sự địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cán bộ quản lý khu bảo tồn và lực lượng Kiểm lâm: Khai thác bản đồ định vị không gian 68 đàn và ma trận 4 mối đe dọa để thiết kế kế hoạch tuần tra thực địa và bố trí các trạm chốt bảo vệ rừng hiệu quả.

  • Nhà khoa học, chuyên gia sinh thái học và bảo tồn linh trưởng: Sử dụng số liệu thực chứng về cấu trúc 5 nhóm tuổi và hành vi bầy đàn của loài Chà vá chân nâu để phục vụ các công trình nghiên cứu so sánh về sinh thái học động vật hoang dã.

  • Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học: Tham khảo khung phương pháp luận điều tra 30 tuyến transect chuẩn mực, kỹ thuật xử lý dữ liệu GIS trên MapInfo và phương pháp đánh giá rủi ro sinh thái Margoluis - Salafsky.

  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ bảo tồn quốc tế: Tiếp cận bộ số liệu khoa học toàn diện về 20.000 ha rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp để xây dựng hồ sơ tài trợ và giải ngân các dự án bảo tồn đa dạng sinh học dải Trường Sơn.

Câu hỏi thường gặp

Quần thể Chà vá chân nâu tại Khu bảo tồn Động Châu – Khe Nước Trong có quy mô như thế nào? Nghiên cứu đã ghi nhận 68 đàn linh trưởng qua 90 lượt quan sát thực địa. Kích thước đàn dao động từ 3 đến 50 cá thể, đạt mức trung bình 13 đến 14,5 cá thể mỗi đàn. Cơ cấu bầy đàn chủ yếu là các nhóm nhỏ từ 3 đến 10 cá thể, chiếm 54,41% tổng số đàn khảo sát.

Tại sao Chà vá chân nâu lại phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực phía Tây? Khu vực phía Tây ghi nhận tới 54 đàn (chiếm 79,41%) nhờ sở hữu trạng thái rừng giàu nguyên sinh với độ tàn che lớn và cấu trúc nhiều tầng tán. Đây là nguồn cung cấp thức ăn dồi dào và nơi trú ẩn an toàn, ít bị con người tác động so với rừng nghèo ở phía Đông.

Loài Chà vá chân nâu thường xuất hiện phổ biến nhất ở đai cao nào? Kết quả khảo sát trên các độ cao từ 208 m đến 914 m cho thấy đai cao từ 400 đến 600 m tập trung mật độ cao nhất với 29 đàn (chiếm 42,65%). Môi trường rừng thường xanh ở đai cao này có độ ẩm thích hợp và nhiều cây gỗ lớn làm nơi ngủ đêm.

Mối đe dọa nào đang tác động nghiêm trọng nhất đến sự tồn tại của loài? Theo ma trận đánh giá của Margoluis và Salafsky, hoạt động săn bắt và bẫy bắt động vật là mối đe dọa nguy hiểm nhất, đạt điểm cao nhất với 11 điểm (hạng I). Tình trạng đặt bẫy dây phanh vẫn diễn ra lén lút tại các tiểu khu giáp ranh, đe dọa trực tiếp tính mạng đàn linh trưởng.

Những giải pháp giám sát thực địa nào được ưu tiên triển khai đầu tiên? Giải pháp ưu tiên hàng đầu là thiết lập và vận hành 9 tuyến tuần tra chuyên đề qua các tiểu khu 515, 517, 531, 532, 534, 535 và 536. Lực lượng kiểm lâm cần tập trung phá hủy các tuyến bẫy cũ và kiểm soát nghiêm ngặt các điểm ngủ cố định của các đàn linh trưởng lớn.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên và toàn diện về quần thể Chà vá chân nâu tại Động Châu – Khe Nước Trong với 68 đàn và quy mô trung bình 13 đến 14,5 cá thể mỗi đàn.
  • Xác định sinh cảnh rừng giàu phía Tây (chiếm 79,41% số đàn) và đai cao 400 đến 600 m (chiếm 42,65% số đàn) là vùng phân bố sinh thái cốt lõi của loài.
  • Định lượng và phân cấp 4 mối nguy cơ sinh cảnh, trong đó nạn bẫy bắt thú rừng được nhận diện là đe dọa cấp bách nhất với 11 điểm rủi ro.
  • Cung cấp cơ sở khoa học then chốt phục vụ việc thành lập và nâng cấp thành công Khu Bảo tồn Thiên nhiên Động Châu – Khe Nước Trong trên diện tích hơn 20.000 ha.
  • Đề xuất hệ thống 9 tuyến tuần tra trọng điểm cùng chiến lược sinh kế bền vững cho 78,9% đồng bào bản địa Vân Kiều trong giai đoạn 2020 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của công trình là giải quyết khoảng trống thông tin sinh thái về loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm tại dải rừng đất thấp miền Trung. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Ban Quản lý Khu bảo tồn cần khẩn trương số hóa dữ liệu giám sát bằng hệ thống SMART và tăng cường hợp tác đa ngành để bảo vệ toàn vẹn nguồn gen quý giá này. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận toàn văn luận văn để ứng dụng trực tiếp vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học thực địa.