CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đ C ĐIỂM CHUNG VỀ CHI TẾ TÂN (ASARUM L.1 Đặc điểm phân bố inh hái và hình hái chung của chi Tế tân Chi Tế tân (hay Hoa tiên, gừng dại – Asarum L.) thuộc họ Nam mộc hƣơng ( ristolochiaceae), bao gồm khoảng 128 loài [1] phát triển đa dạng ở các vùng ôn đới Bắc bán cầu. Chi này có nhiều loài bản địa ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Đài Loan và duy nhất một loài ở châu Âu. Theo một số nghiên cứu chi Tế tân đƣợc tìm thấy chủ yếu ở vùng núi có độ cao từ 700 m trở lên so với mặt nƣớc biển.
Các loài cây Tế tân ƣa thích các khu vực ẩm ƣớt, có nhiều bóng râm và đất giàu mùn, lá có hình tim, mỗi năm lá mọc ra từ các đầu chồi tăng trƣởng trên thân rễ. Các nghiên cứu trong nƣớc cho thấy tuy cây Tế tân phát triển khá tốt trong các khu rừng đặc dụng, nhờ cách thức sinh trƣởng nhƣng cũng bị đe dọa do các hoạt động khai thác quá mức để làm thuốc dẫn đến suy giảm nghiêm trọng trong tự nhiên. Theo các công trình nghiên cứu của GS Phạm Hoàng Hộ trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam, 1999” [2]; công trình nghiên cứu của GS Đỗ Tất Lợi trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 2004” [3]; Sách đỏ Việt Nam, 2007 [4]; cuối năm 2007 ghi nhận đƣợc 7 loài Tế tân; năm 2012 Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự bổ sung thêm 2 loài mới, đến năm 2017 Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự tiếp tục bổ sung thêm loài mới là Tế tân Yên Tử, nhƣ vậy đến năm 2017 Việt Nam ghi nhận 10 loài Tế tân, phân bố ở các tỉnh nhƣ Lai châu, Cao B ng, Ba Vì - Hà Nội, Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Sapa - Lào Cai, Hà Giang, Đảo Cát Bà - Hải Phòng, Hà Tĩnh, Yên Tử - Quảng Ninh. Các loài Tế tân ở nƣớc ta gồm có Tế hoa blume – A.
blumei Duch, đƣợc Duch mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1864: tên gọi khác là Biến hóa Blume [5 ; Thổ tế tân – A. caudigerum Hance, đƣợc Hance mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1881: tên gọi khác là Tế tân, Biến hóa, Quán chì; Biến hóa núi cao – A. balansae Franch, đƣợc Franch mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1898: tên gọi khác là Tế tân nam, hoa tiên [5]; Tế tân Pételot – A.Schmidt mô tả khoa học đầu tiên năm 1931: tên gọi khác là Tế tân Pételot [5]; Hoa tiên – A. glabrum Merr, tên đồng nghĩa A.
maximum Auct đƣợc Merr mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1942: tên gọi khác là Trầu tiên, Dầu tiên, Đại hoa tế tân [2]; Tế hoa mạng – A. reticulatum Merr, đƣợc Merr Luan van 5 mô tả khoa học đầu tiên năm 1942; Vũ Linh Tế tân – A. wulingense Liang đƣợc C.Liang mô tả khoa học đầu tiên năm 1975; A. Fischer và Tế tân Vân Nam – A.
Cheng bổ sung năm 2012 [6], [7] và Tế tân Yên Tử - A. Tuan và cộng sự mô tả khoa học năm 2018 [8]. Trong đó có 3 loài n m trong sách đỏ, đó là A. balansae Franch là cây thuốc dạng quý hiếm, thuộc phân hạng nguy cấp EN 1c,d, B1+2b,c đang đứng trƣớc một nguy cơ rất lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tƣơng lai gần, theo quan sát đã suy giảm ít nhất 50 %; A.
caudigerum Hance và A. cũng là cây thuốc dạng quý hiếm, thuộc phân hạng nguy cấp VU 1a,c,d, và VU 1c,d tuy chƣa phải là rất nguy cấp nhƣng trong một tƣơng lai gần sẽ đứng trƣớc nguy cơ lớn tuyệt chủng ngoài thiên nhiên và đã suy giảm ít nhất 20 % [4].1: Thứ hạng loài Asarum L. theo tiêu chuẩn IUCN trong “Sách đỏ Việt Nam”, 2007. Theo báo cáo “Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP theo Luan van 6 vùng sinh thái” của Tổng cục Lâm nghiệp cuối năm 2010 thêm 2 loài Tế tân n m trong nhóm IIA: nhóm các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm đó là A.
Bảng 1: Danh mục xếp hạng các loài Tế tân (Asarum L.) ở Việt Nam Nghị định Số Tên chi Tế tân Tên khoa học 32/2006 thứ tự ND-CP 1 Biến hóa núi cao A. balansae Franch IIA 2 Thổ tế tân A. caudigerum Hance IIA 3 Đại hoa Tế tân A. glabrum Merr IIA 4 Tế hoa mạng A.
reticulatum Merr IIA 5 Tế tân Pételot A. Schmidt IIA 6 Tế hoa blume A. blumei Duch - 7 Tế tân Vũ Linh A.Liang - Nguồn: Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp Viện Điều tra Quy hoạch Rừng. Về đặc điểm hình thái Tế tân là cây lá nhỏ có vị cay, các loài thuộc chi Tế tân đều thân cỏ cao 10 cm - 30 cm tùy loài, mọc thấp thành đám nhỏ ở những nơi đất mùn, thƣờng mọc thành từng đám theo bờ khe suối, không tìm thấy dƣới tán cây lớn, chƣa thấy mọc trên đỉnh núi, thƣờng sống ở nơi có khí hậu mát mẻ, ẩm ƣớt quanh năm, nơi thƣờng xuyên có mây mù bao phủ và độ cao trên dƣới 1000 m, nơi có độ ẩm không khí trung bình năm trên 80 % và nhiệt độ trung bình năm từ 15 °C – 18 °C.
Mỗi năm cây phát triển thêm 1 – 4 lá tùy loài, phiến lá dài 10 cm – 18 cm, rộng 8 cm – 12 cm, lá mềm mỏng màu xanh lục, mặt trên nhẵn, mặt dƣới hơi có lông, hình tim hoặc hình quả thận, mép nguyên, chóp lá nhọn, cuống lá dài, có lông tơ nhẵn mịn thƣờng có màu tím nhạt. Thân rễ dƣới đất, bò ngang, đầu thân rễ có phân nhánh, đƣờng kính thân rễ 4 – 5 mm, thân rễ n m rồi đứng, có rế sái vị, rễ nhỏ và dài, vê ở tay có mùi thơm [3]. Loài Tế tân Thanh Thành (A. splendens) còn gọi là gừng dại Trung Quốc (Chinese wild ginger) trƣớc đây còn gọi là A.
Cây có tốc độ phát triển chậm, mỗi năm chỉ ra 1 lá, cuống lá dài 15 cm - 18 cm có Luan van 7 màu tím đậm hơn so với loài khác trong chi Asarum L., lá sớm rụng vào mùa đông và đến mùa xuân lá mới lại mọc ra từ các đầu chồi rễ n m dƣới đất, nên ngƣời địa phƣơng còn gọi là cây1 lá. Lá mỏng cỡ 13 cm x 18 cm có màu xanh đậm lốm đốm bạc ở mặt trên hai bên phiến lá khác biệt so với các loài trong chi Asarum L., lá hình tim nhọn ở chóp lá, 2 thùy gốc lá rộng (Xem hình 1.2: Tế tân Thanh Thành (Asarum splendens F.) (Hình vẽ theo Legacy.org) [10] Hoa xuất hiện vào mùa xuân, mọc đơn giữa các gốc lá, ở mặt đất, hoa có màu nâu tía hình cái bát, kì dị nhƣ cái ấm nhỏ, nên có biệt danh là “Little Brown Jug” (cái ấm nâu nhỏ) (Xem hình 1. Luan van 8 Hình 1.3: Tế tân Thanh Thành (Asarum splendens F.) (Hình ảnh theo Alamy.2 Những nghiên cứu về h ạ ch inh học ng chi Tế n Dựa trên các thành phần hợp chất phong phú, các loài trong chi Asarum L. cũng đƣợc các nhà khoa học quan tâm tới các hoạt tính sinh học của chúng trong những năm gần đây, mặc dù các loài này đã đƣợc ghi nhận trong các bài thuốc dân gian từ lâu.
Nhìn chung, các nghiên cứu ở chi này thƣờng chỉ tập trung ở một số loài phổ biến nhƣ A. Chi Tế tân n m trong nhóm 10 chi giàu loài cây Luan van 9 thuốc có chứa tinh dầu nhất [12], lƣợng tinh dầu thƣờng ở khoảng 2 % - 3 % tùy thuộc vào loài. Nghiên cứu trƣớc đây của Yu Jing và cộng sự 2017 đã đánh giá hoạt tính kháng viêm của 37 hợp chất trên loài A. mandshuricum gồm các loại nhƣ lignans, neoasarinin, monoterpene, asarincin (Jing Y và cộng sự.
Trong năm 2001, Zhang và cộng sự đã sử dụng phƣơng pháp sắc ký để phân lập và phát hiện nhiều hợp chất mới từ rễ và thân rễ của loài A. Ngoài ra, còn một số nghiên cứu đơn lẻ của các nhà khoa học Trung Quốc và Nhật Bản về thành phần hóa học của các loài Asarum L., chủ yếu phân lập và chiết xuất các dẫn chất flavonoid glycosid. Theo Feng Zhang 2005, tinh dầu lá ở mô lá của cây A. forbesii chứa hai thành phần chính là methylisoeugenol (33.3 %) và alpha-asaron (19.2 %); còn ở rễ tỉ lệ lần lƣợt là 58.
Vào năm 2008, Shao-Qing Cai và cộng sự đánh giá hoạt tính gây độc của các cây trong chi Tế tân, ghi nhận một số chiết xuất có chống lại một số dòng tế bào ung thƣ nhất định; đáng chú ý trong đó có chiết xuất 95 % với ethanol hoặc nƣớc của A. splendens cũng thể hiện khả năng gây độc tế bào một cách có chọn lọc [16]. Năm 2017, Wenting Ji và cộng sự đã đánh giá khả năng điều tiết quá trình viêm của một loại thuốc có nguồn gốc Tế tân lên tế bào tua [17]. Một nhóm nghiên cứu khác sử dụng kỹ thuật sắc ký khối phổ để tìm hiểu về độc tính in vitro của các loài Tế tân lên tế bào thận ngƣời (HK-2) [18].
Kết quả cho thấy không có độc tính lên tế bào ở nồng độ trong nghiên cứu, tuy nhiên các cơ chế khác liên quan tới gây độc ở thận và hình thành ung thƣ do aristolochic acid có thể xảy ra. Công bố năm 2018 của nhóm khoa học Trung Quốc cho thấy các yếu tố viêm có liên quan tới độc tính trên phổi của Asarum, mở ra những hƣớng nghiên cứu tiếp theo về cơ chế phân tử của độc tính ở chi này [19]. Gần đây nhất, trong năm 2021, có hai nghiên cứu mới của các nhóm nhà khoa học Trung Quốc về đánh giá về hoạt tính và mức độ gây độc của thuốc có nguồn gốc Tế tân và khả năng bảo vệ tế bào khỏi virus cúm H1N1, giảm các tác động của quá trình viêm [20]. Các nhà khoa học Nga trong năm 2020 về hóa thực vật và dƣợc dân tộc học của chi Asarum L.
lần nữa khẳng định sự có mặt của tinh dầu cùng các hợp chất thứ cấp cũng nhƣ hoạt tính sinh học rất phong phú [21]. Cũng trong năm này, tìm hiểu của Seol Luan van 10 Jang và cộng sự ghi nhận 6 thành phần gây dị ứng của loài A. sieboldii b ng phƣơng pháp HPLC [22].3 Công dụng theo y học cổ truyền của các loài Tế tân Tế tân đã đƣợc khai thác và sử dụng từ lâu trong nền Y học cổ truyền để chữa bệnh, là loại thuốc có vị cay, tính ôn, quy vào kinh tâm, kinh can, kinh phế và kinh thận.