Chương 1 TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CUU 1. Trên thé gi 1.1 Thông tin chung về Keo lá liém Keo lá liềm (Acacia crassicarpa A.) thuộc bộ Đậu (Fabales), họ Đậu (Fabaceae), phân ho trinh nữ Mimosaceae. “Tên khác lả Keo lưỡi liễm, Keo lưỡi mác. Tên t ng Anh: Northern wattle, Papua New Guinea red wattle, red wattle.
Keo liềm có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guin Indonesia (hình 1),với chiều cao khoảng 25m, tối da 30m và đường kính lớn nhất có thẻ đến 50 - 60cm, thân tương đối thẳng, đơn thân và tán lá dày. cây màu xanh bạc, cành nhánh nhỏ và it, lá cong hình lưỡi sm, đài 11 - 20 cm, rộng 2. Hoa thường 5 cánh, cánh mỏng. Quả lớn, hình chữ nhật, hơi cong hình lưỡi liềm, phẳng eứng.
dày, chiều dai 5,0 - 7,5 cm, chiều rộng 2 - 2. Bản đồ phân bố tự nhiên (vùng màu xanh) và vùng trồng (vùng kế caro) của Keo lá liềm trên thé giới (Orwa et al., 2009) Keo lá liềm là loài cây đa tác dụng và có khả năng sinh trưởng nhanh, chịu lửa, chịu gió, cát, cạnh tranh được với cỏ dai (đặc biệt là có tranh), sinh trưởng tốt trên đắt nghèo đỉnh dưỡng (Harwood et al. Đây là một trong 3 loài keo có triển vọng nhất trong các loài thuộc chỉ keo và được g trồng rộng rãi ở nhiều nước (Turnbull et al. Tiềm năng gây trồng và sử dụng của Keo lá liềm Keo lá liễm chịu được mặn ở mức độ nhất định, chịu được đất cát nghèo xấu nên có thé ding ng rừng phòng hộ ven biển, chắn gió, cố định cát.
Trong môi trường sống tự nhiên, các loài keo Acacia sinh trưởng tốt trên nhiều dạng lập địa khác nhan, kế cả các dạng đắt kiểm mặn. Thomson (1994) [78] đánh giá các loài keoA. stenophuylla, vàA, scleroperma v. đều có khả năng gây trồng trên đất kiềm mặn, do chúng chịu được mặn cao va có sinh.
trưởng tương đối nhanh trên loại dat này: “Trong vùng phân bố tự nhiên, như ở Australia, Keo lá liễm được tim thấy ở những đổi cát, sườn dốc của đụn cát cố định, trên dun cát ven biển và chân đổi. Chúng xuất hiện trên nhiều loại dat khác nhau, k‹ sát biển (chứa Canxi và Kali), đất cát vàng phát triển trên đá Granit, đất đô phát triển trên núi lửa, đất đỏ vàng phát triển trên phiến thạch, dat bị xói mòn và đất phù. Ở Papua New Guinea và Indonesia, Keo lá liễm xuất hiện trên địa hình không ồn định của phù sa cổ trên cao nguyên Oriomo. Hau hết Keo lá hềm được tim thấy trên địa hình thoát nước tốt, đất có tính axít mạnh, Tuy nhiền, chúng cũng xuất hiện trên những vùng khó thoát nước, thậm chí cd những vùng bị ting ngập trong mùa mưa và nhanh chóng khô trong mùa khô, dat do vàng glay hoá và đỏ vàng sét (Tumbull et al., 1998) [80] Keo lá liềm lần đầu tiên được giới thiệu như một loài thay thé trong ngành công nghiệp giấy và bột giấy vào những năm 1990 (Turnbull et al.
Ở những ving dat khô han, sự phát triển của Keo nhanh hơn Keo tai tượng. Tuy nhiên, sau khi mở rộng diện tích rừng trồng thành công trên các vùng đất ngập nước, Keo lá liễm đã được phát hiện là một trong những loài keo có khả năng thích nghĩ với dat than bùn. Theo báo cáo, điện tích rừng trồng của loài này là khoảng 700,000 ha, chủ yếu ở Indonesia (Harwood & Nambiar 2014; Turnbull et al. Ở Malaysia, Keo lá liễm còn được trồng trên dat đá có ting mặt mỏng và thé hiện sinh trưởng.
tốt hơn cả Keo lá trim và Keo tai tượng (Nor Aini et l. Keo lá liễm rất thích hợp với những nơi có lượng mưa bình quân năm từ 1200 - 2800mminäm, với 4 - 6 tháng mùa khô, nhiệt độ tháng nóng nhất 32 — 38°C và nhiệt độ tháng lạnh nhất từ 12 ~ 21C, Chúng cũng được ghi nhận có khả năng sinh trưởng tốt trên những lập địa có lượng mưa thấp (500 mm ở. Australia) hoặc lượng mưa rat lớn (3500 mm ở New Guinea) (Ryan & Bell, 1989) [73], Cũng như nhiều loài keo khác, Keo lá liễm có bộ rễ lá phát triển với nhiều nốt san chứa nhiều vi khuẩn cộng sinh có khả năng cỗ định đạm nên có. tác dụng cải tạo đất rat tốt.
Keo lá liém có thân thẳng, tán lá day và xanh quanh năm nên được trồng làm cây che bóng cho các cây công nghiệp và nông nghiệp, cây xanh trong công viên, ven đường phố, ng làm băng cản lửa và chắn gió rất tốt. Các loài keo nói chung và Keo lá liềm nói riêng. còn được sử dụng để chồng cát di động. Ở những vùng có lượng mưa cao, Keo lá liém có tấn dày nên có khả năng che phủ dat khá tốt.
Ngoài ra hệ rễ rong, có nhiều nốt sẵn đã giúp giữ cho đất khỏi xói mòn và góp phan cải tạo. đất, Đặc biệt tại các vùng đã qua khai thác mỏ có điều kiện quá khắc nghiệt Keo lá liễm cũng thẻ hiện khả năng sinh trưởng và cải tạo đắt tốt. của Suanto (2008) [76] tại vùng đắt đã qua khai thác mỏ lignite cho thấy đất không trồng Keo lá liềm chỉ cho lượng niter đạt dưới 1 kg/ha, nhưng néu có trồng Keo lá liễm thì lượng nitơ đạt tới 85,3 kg/ha Tuy nhiên, Keo lá liễm cũng một số loại sâu bệnh phá hại. Bồn loại sâu bệnh hại chính đã được ghi nhận ở Keo lá liễm là: (1) Loài Platypus sp., bọ Ambrosia hoặc sâu đục thân.
Chúng gây nên các đường đục tạo điều kiện cho vi khuẩn ám mầu phá huỷ diện mạo bé ngoài của gỗ, có thể làm giảm chiều dai sợi cellulose, đồng thời tốn nhiều chất tẩy trắng hơn trong quá trình sản xuất Loài này đã tàn phá những khu rừng thực nghiệm ở Sabah, ‘Malaysia (Thapa, 1992) [77]. (2) Loài Sinoxylon sp. bọ ăn cảnh và nhánh. Chúng có thể khoanh vòng và làm gãy thân những cây non (dưới 2 tuổi), có kích thước thân nhỏ hơn 3em.
Loài này đã phát hiện tần phá một s ứng trồng ở Thái Lan (Hutaeharern, 1987) [49]. (3) Ngoài ra có một loại nắm lá chưa được biết (có thể là Spilodochium sp. Id nguyên nhân gây nên những đốm ứa vàng 14, làm cho lá trở nên gi i sớm vàI am khả năng, quang hợp. Loài nảy đã phát hiện ở Nam Kalimantan, Indonesia.
những năm gần đây, rừng trồng Keo lá liém ở Indonesia đang phải đối mặt rất lớn với bệnh che héo gây ra bởi các nấm thuộc họ Ceratocystis, đặc biệt là nắm Ceratocystis manginecans làm giảm chất lượng và giá trị gỗ (Tarigan et al., 2015) [90] 'Về tiém năng sử dung, gỗ lõi Keo lá liểm có màu vàng nâu với các ánh đỏ, gỗ giác màu nâu nhạt. Thớ gỗ tương đổi thẳng, nhưng đôi khi bị vặn xoắn. “Gỗ rat khỏe và bén, Với khối lượng khô không khí là 710 kg/m? và khối lượng riêng cơ bản là 620 kg/m’, Gi ủa chúng đã được sử dụng cho cấu kiện chịu lực trong xây dựng, đồ nội thất, đóng tàu thuyền, ván sàn, veneer và gỗ. Gỗ Keo lá liễm cũng được sử dung làm bột giấy, mặc dù kém hơn Keo A.
aulacocarpa, Keo lá tram và Keo tai tượng (Clar et k al. Vai trò của một số tính chất gỗ tới chất lượng gỗ xẻ Droestoion giống cần phải dựa trên các định hướng rõ ring về các thông số kinh tế quan trọng để năng cao năng suất và chất lượng sản xuất. Các thông số kinh tế quan trọng thường được xác định cho gỗ xẻ là tỷ lệ lợi dụng sổ, độ ổn định kích thước, độ bền của gỗ và khuyết tật sau sấy (Raymond, 2002; Raymond, 2000)|68] [69]. Các mối quan hệ giữa cây đứng, gỗ tròn và các đặc tính gỗ được xem xét trong luận án này và các yếu tố quyết định tới lợi nhuận, cũng như khả năng di truyền của các đặc tính gỗ được tóm tắt trong.
bảng 1 và thảo luận dưới đây. Đường kính khúc gỗ, độ thẳng than và độ nhỏ cành Đường kính khúc gỗ là rất quan trọng đối với người chế biến gỗ (Steele, 1984) [75]. Nhìn chung, gỗ tròn có đường kính lớn thì cho khả năng tạo ra lượng gỗ xẻ cao hơn, với chỉ phí cổ định thắp hon, và tỷ lệ ván xẻ chất lượng cao hơn (Walker, 2006) [81]. Những khúc gỗ tron lớn hơn có thể dễ 1g bS trí sơ đồ xé thích hợp hơn và cỏ thé ít bị ảnh hưởng bởi ứng suất sinh trưởng hơn (St cle, 1984) [75] Hai trong số những tính trạng dễ dàng thực hiện nhất trong nỗ lực cải thiện giống cho ing rừng gỗ xé là độ thang của thân và độ nhỏ cành, vì ảnh hưởng của chúng đến chất lượng gỗ và sẵn lượng gỗ là rất rõ ràng.
Hệ di truyền của chúng cũng đạt mức thấp tới trung bình và dễ đo đếm hơn khi so. sánh với các tính trạng gỗ khác (Zobel & Jett, 1995) [89]. Cây thân thẳng tạo ra gỗ ft khuyết tật bắt thường hơn và cho lượng gỗ xẻ cao hơn so với cây cong có kích thước tương tự. Do đó, độ thẳng thân là một trong những thông số chính được xác định là tính trạng mục tiêu trong chiến lược chọn giống phục.
vụ công nghiệp chế biến gỗ. Cành nhỏ và góc cành cao là hai đặc tính quan. trọng khác cũng được coi là tính trạng mục tiêu trong các chương trình chọn giống, một phần là do các cành nhỏ có góc cành lớn so với thân chính (tức là các cành gần nằm ngang) để lại kích thước mắt nhỏ, khi cắt tỉa cảnh cũng tạo ra vết hương nhỏ hơn và do đó ít bị ảnh hưởng nặng né bởi nhiễm vi sinh vật hơn so với các vết thương lớn (Pinkard, 2002) [67]. Thông thường, độ thẳng thân và góc phân cành được đánh giá trên thang điểm định tính (tức là sử dụng phương pháp cho điểm trực quan) (Cotterill & Dean, 1990) [35] 1.
Khối lượng riêng co bản của g Khổ lượng riêng cơ bản (wood basic density) của gỗ được biểu thị bằng khối lượng khô tuyệt đối trên một đơn vị thẻ tích gỗ tươi, được đo bằng. g/cm’ hoặc kg/m’, Khối lượng riêng cơ bản gỗ là một ong những tinh trạng quan trọng nhất cần xem xét trong sản xuất gỗ xẻ (Rozenberg & Cahalan, 1997) [72]. KI lượng riêng cơ bản thường có r ¡ quan hệ thuận chỉ (tường quan dương) với các tính chất cơ lý mong muốn của gỗ (Evans & Hi 2001; Zobel & Jett, 1995; Hillis & Brown, 1984) [42] (89 [47]. Nó có tương quan thuận và chặt với độ co rút và trương nở của gỗ, nhưng ít ảnh hưởng trực tiếp hơn so với các tính chất cơ lý gỗ khác (Barnett & Jeronimidis, 2003) 29).