ĐẶT VẤN ĐỀ Khi nền công nghiệp thế giới ngày càng phát triển và nhu cầu sử dụng lâm sản c con người ngày càng cao thì diện tích và tốc độ các rừng trồng. công nghiệp cũng tang lên nhanh chóng. Các rừng trồng công nghiệp đã và đang gây nhiều tranh cãi giữa các nhà lâm nghiệp, các nhà môi trường và các nhà kinh tế. Xuất phát từ nhu cầu về nguyên liệu gỗ, các rừng trồng cây mọc.
nhanh ngày càng được trồng nhiều hơn. Một số nơi đã từng phá rừng tự nhiên để phục vụ cho trồng rừng công nghiệp với luân kỳ ngắn. Các rừng cong, nghiệp cũng có ý nghĩa kinh tế — xã hội không nhỏ, chúng mang lại nhiều lợi nhuận cho các doanh nghiệp và góp phẩn tạo việc làm cho người dân. Các rừng này cũng có những ý nghĩa môi trường nhất định trong việc hấp thụ khí nhà kính nếu việc trồng rừng, cham sóc, bảo vệ, khai thác rừng cũng như sử dụng sản phẩm rừng một cách hợp lý.
Nếu không, chúng sẽ gây tổn hại đến môi trường sống của chúng ta ~ đó là nguy cơ tiém ẩn cho cộng đồng ‘BE cân đối hài hòa giữa các lợi ích ngắn và đài hạn — lợi ích kinh tế — xã hội và lợi ích môi trường, cần phải có các giải pháp thích hợp cho trồng rừng. Đó chính là yêu cầu cấp bách đòi hỏi các nhà nghiên cứu và các nhà sản. xuất cùng hợp tác để xây dựng được những tiêu chuẩn vẻ môi trường cho các rừng trồng cây mọc nhanh phục vụ công nghiệp. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường của một xố loại rừng trồng cây mọc nhanh đại điện là các loài Keo ở vùng đổi và vùng thấp và Thông nhựa là cây bản địa loài còn ít được nghiên cứu vẻ tác động, môi trường của chúng, nhưng cũng đã được nhận định bước đầu là có ý nghĩa về mặt môi trường.
Trên cơ sở điều tra, nghiên cứu dé xuất một số tiêu chuẩn ‘anh giá môi trường thích hop cho các loại rừng này.TONG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 1.1 TĨNH HÌNH NGHIÊN COU TREN THẾ GIỚI. 6 các nước phát triển trên thế giới việc nghiên cứu ảnh hưởng của rừng trồng đến môi trường đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Vai trồ và lợi ích của rừng trong việc phòng hộ và cải thiện môi trường được giới thiệu nhiều trong các tài liệu khoa học và diễn đàn Quốc tế Mấy chục nam gần day, do nhu cầu vé gỗ gi gỗ c các loài cây gỗ mọc nhanh như bạch đàn, Keo đã được gây trồng trên những ign tích lớn ở các nước nhiệt đới. Việc thay thế các rừng rậm nhiệt đới bằng các rừng thuần loại, mọc nhanh, với chu kỳ khai thác ngắn đã gây ra những lo ngại vẻ sự thoái hoá đất và giảm năng, tất ở các luân kỳ sau.
Nghiên cứu của Keeves (1966) [22]đã bước đầu cho thấy sự thoái hóa lập địa do khai thác rừng thông Pinus radiata với chu kỳ ngắn ở Úc. Theo tác giả, có tới 90% chất định dưỡng trong sinh khối bị lấy di khỏi rừng khi khai thác. Turvey (1983) cũng cho rằng sự thay thế rừng bạch đàn tự nhiên ở Úc bằng rừng trồng thông (Pinus radiata) với chu kỳ chặt 15 ~ 20 năm (400mƒ ha) cũng làm giả n độ phì đất do khai thác gỗ. Mat khác tầng thảm mục day và khó phân giả của thông cũng làm chậm sự quay vòng các nguyên tố khoáng và đạm ở các lập địa này Việc trồng rừng có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực khi mà độ phì dit được cải thiện.
Ngược lại nó dem lại ảnh hưởng tiêu cực nếu nó làm mất cân bằng hay cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất. Nhìn chung việc trồng. rừng thi các tính chất vật lý đất. Tuy nhiên việc sử dụng cơ giới hoá trong xử lý thực bì, Khai thác, trồng rừng là nguyên nhân dẫn đến sự s giảm sức sản xuất của đất.
“Trong vùng nhiệt đới, rừng cây mọc nhanh ảnh hưởng đến đất không. chỉ ở việc tiêu thụ dinh dưỡng. Một yếu tố quan trọng hơn là có sự đảo lộn quá trình trao đổi vật chất giữa rừng và đất khi thay các hệ sinh thái tự nhiên đa dang, bằng một hệ sinh thái nhân tạo độc canh. “Trong những năm gây đây Trung tâm Lâm nại quốc tế (CIFOR ) đã tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới.
CIFOR đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng là bạch đàn, thông, keo trồng thuần loại trên các dạng lập dia ở các nước Brazil, Công Go, Nam Phi, Indonesia, Trung Quốc „ Ấn Độ và nay bất đầu nghiên cứu ở Viet Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp xử lý lập địa khác nhau loài cây trồng khác nhau đã có ảnh hưởng rất khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước, sự phân huy thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM © Việt Nam, vấn dé môi trường rừng đã được khởi động từ khá lâu. Tuy nhiên do nhiều lý do. Các nghiên cứu về môi trường rừng chưa duge chú ý xứng đáng với vị tí của nó.
Những năm gần day, vấn dé môi trường rừng mới được xem xét nghiêm túc trở lại. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế của nước ta cũng như khó khan chung của toàn xã hội. Vấn để nghiên cứu môi trường nói chung và moi trường rừng nói riêng vẫn còn rất nhiều bất cập và cần thiết phải có nhiều công trình nghiên ci * Những Lịch sử nghiên cứu về Thông Nhựa và Keo ở Việt nam 1. Thong nhựa (pinus merkusii): Mặc dit đến nay diện tích trồng Thông nhựa cũng khá lớn, nhưng số công trình nghiên cứu về Thông nhựa thi còn ít, lặc biệt là nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng Thông nhựa tới môi trường, mặc dù đây không là vấn để mới mẻ, Năm 1965, Nguyễn Kha [2]với luận văn Tiến sĩ "Động thái đất dưới rừng Thông ba lá fa Thông nhựa trong quan hệ thảm thực ở cao nguyễt “Trung phần Việt Nam” cũng mới chỉ mô tả một số phẫu diện và đưa ra một số nhận xét rất sơ bộ.
Năm 1971, Tổng cục Lâm nghiệp đưa ra Quy trình trồng Thông nhựa dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm trong một số năm trồng rừng, chủ yếu là VỀ tạo cây con và chăm sóc. Nam 1977, Lâm Công Định [I]viết cuốn "Trồng rừng Thông”, trong đó tác giả để cập các kết quả c sắc cơ sở sản xuất và nghiên cứu từ tạo cây con đến tỉa thưa, cham sóc và chích nhựa. Tác giả cũng đưa ra các điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai) để phát triển Thông nhựa cả các đặc điểm thuận lợi và. khó khăn tuy vẫn chưa thật cụ thé.
Một số công trình nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp về Thông nhựa chủ yếu ở giai đoạn vườn ươm như "Hỗn hợp ruột bầu để tạo cây con ‘Thong nhựa" của Nguyễn Xuân Quát và Ngô Đình Quế (1973-1976) [8], nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng vi lượng, chế độ nước; Nghiên cứu bệnh rơm lá, bệnh vàng còi cây con Thông nhựa của Trương Thị Thảo, Nguyễn Ngọc Tân, Nguyễn Sỹ Giao, Nguyễn Tiến Đạt (1973-1978)[14]; và "Tiêu chuẩn cây con đem trồng” ia Nguyễn Xuân Quát và cong sự (1982)(9] Nhiều kết quả nghiên cứu của các Trạm thực nghiệm như Trạm Lam sinh Yen Lập (Quảng Ninh) chủ yếu ở giai đoạn cây con và một số thí nghiệm về thâm ccanh rừng, tái sinh rừng. Việc trồng rừng Thông nhựa có theo doi kết quả sinh trưởng được thực hiện ở nhiều chương trình, dự án như dự án trồng rừng Việt - Đức tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh. Các nghiên cứu của Hoàng Minh Giám & CS (2001), chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các biện pháp lâm sinh để có rừng Thông nhựa đạt sản lượng nhựa cao. “Dac điểm sinh thái va phân bốThông Nhựa ở Việt Nam: ‘Thong nhựa là cây gỗ cao 25-30m và có thể cao hơn, đường kính 50- 60cm, có cây tới Im.
Thông nhựa thích hợp ở những vùng có nhiệt độ trung bình năm °C. Lượng mưa trung bình 1500mmjnăm. Là loài cây dễ tính, mọc tự nhiên trên đất xấu, khô kiệt. Thích hợp với đất có thành phản cơ gi nhẹ (sa thạch), thoát nước va thoáng.
Khong tra dat sét nặng, đất kiểm và đất đá vôi. Cay ưa sáng hoàn toàn, rẻ có nấm cộng sinh. Thông nhựa sinh trưởng chậm, đặc biệt lúc nhỏ, sau 4-5 năm cây chỉ cao khoảng 1,5-2m, đường kính 3-4em, Sau 10 tuổi thì mọc nhanh hơn. Bắt đầu ra hoa từ 10-12 tuổi.
Đất trồng rừng Thông nhựa là đất feralit vùng đổi và trung du ở độ cao <200m ở miễn Bắc và miễn Trung, và 600-800m ở miền Nam có đặc điểm: ‘at chua (pH3-5,5). thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, thoát nước tối, độ day tầng dat sản xuất >20cm; hàm lượng dinh dưỡng trung bình trở lên. Khoảng 30 năm trở lại đây, Thông nhựa được gây trồng trên phạm vi rộng ở các tỉnh vùng trung du miền Bắc và khu IV cũ với điện tích trên 105.000 ha, nhiều nơi trồng thành rừng. Sinh trưởng rừng Thông nhựa rất khác nhau ở các vùng và có ảnh hưởng khác nhau đến môi trường.
Ở Việt Nam, Thông nhựa có phân bố ở cả miền Bắc và Nam từ Lâm. Đông tới Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Hà Tính, Nghệ An. ở vùng Bắc Trung Bộ, Thông nhựa được tréng chủ yếu. Diện tích trồng rừng “Thông ở Bác Trung Bộ và khoảng 00.863 ha, chiếm tới 39,7% diện tích và trữ lượng bằng khoảng 46,1% trữ lượng Thông trong cả nước.
Theo số liệu kiểm ke rừng Việt Nam năm 1999 (Ban chỉ đạo kiểm kê rừng trung ương, 2001) thì cdiện tích và trữ lượng rừng trồng Thông nhựa như sau Bảng I.1: Diện tích trồng và trữ lượng rừng Thông các loại theo cấp tuổi (By: ha, mẺ) Cap tuổi Tổng Vũng ' " m Ww v Điệ | Trữ |Điện Trừ | Dien Trừ Điện Trừ Điện Trừ | Dien | Trữ ch | lượng | tích lượng| tích lượng “tích lượng títh lượng | tích | lượng Bắc |90863| 3784407 | 3387 147 | 406366 20. LS717HR | 4287| 481145 Trung Bộ ‘Tom lại, hầu hết các nghiên cứu vẻ Thông nhựa ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng rừng trồng đạt năng suất cao, sản lượng tốt, chứ ít quan tam đến việc nghiên cứu đánh giá các tác động, môi trường của rừng trồng Thông nhựa 1.