Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và mục ruột của keo tai tượng acacia mangium willd trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và mục ruột của keo tai tượng, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

144
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới

1.2. Phân bố tự nhiên Keo tai tượng

1.3. Tình hình gây trồng và sử dụng gỗ Keo tai tượng

1.4. Nghiên cứu cải thiện năng suất, chất lượng thân và gỗ Keo tai tượng

1.5. Nghiên cứu về bệnh hại và bệnh mục ruột các loài keo

1.6. Nghiên cứu chọn giống kháng bệnh

1.7. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

1.8. Tình hình gây trồng và sử dụng gỗ Keo tai tượng

1.9. Nghiên cứu cải thiện năng suất, chất lượng thân và gỗ Keo tai tượng

1.10. Nghiên cứu về bệnh hại và bệnh mục ruột các loài keo

1.11. Nghiên cứu chọn giống kháng bệnh

1.12. Nhận xét chung

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Vật liệu nghiên cứu

2.4. Địa điểm, thời gian khảo nghiệm và biện pháp tác động

2.5. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.7. Phương pháp thu thập số liệu sinh trưởng, chất lượng thân cây

2.8. Phương pháp đánh giá bệnh mục ruột

2.9. Phương pháp xác định các tính chất cơ lý gỗ

2.10. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Biến dị về sinh trưởng, chất lượng thân cây Keo tai tượng trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2

3.1.1. Biến dị về sinh trưởng, chất lượng thân trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại Quỳ Hợp

3.1.2. Biến dị về sinh trưởng, chất lượng thân trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại Bàu Bàng

3.2. Đánh giá bệnh mục ruột Keo tai tượng bằng thiết bị ArborSonic 3D và biến dị bệnh mục ruột Keo tai tượng trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2

3.2.1. Tỷ lệ, mức độ mục ruột 30 cây trung bình Keo tai tượng tại Cầu Hai-Phú Thọ

3.2.2. Tương quan mức độ mục ruột Keo tai tượng theo thiết bị ArborSonic 3D và theo phương pháp của Caroline (2006) trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại Bàu Bàng

3.2.3. Biến dị về mức độ mục ruột và tỷ lệ cây bị bệnh giữa các gia đình Keo tai tượng trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2

3.3. Khả năng di truyền, tương quan giữa các tính trạng và tương tác kiểu gen – hoàn cảnh của một số tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân và bệnh mục ruột ở Keo tai tượng trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2

3.3.1. Hệ số di truyền, hệ số biến động di truyền lũy tích các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây Keo tai tượng

3.3.2. Khả năng di truyền bệnh mục ruột Keo tai tượng trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2

3.3.3. Tương quan giữa các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây, tính chất gỗ, bệnh mục ruột và ảnh hưởng của kiểu gen – hoàn cảnh trong cải thiện giống tại 3 khảo nghiệm hậu thế Keo tai tượng

3.4. Tăng thu di truyền lý thuyết và thực tế của các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây và mức độ mục ruột ở các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 Keo tai tượng

3.4.1. Tăng thu di truyền các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây và mức độ mục ruột

3.4.2. Chất lượng các nguồn hạt giống Keo tai tượng từ vườn giống thế hệ 1 và 1,5 ở Việt Nam

3.4.3. Chọn lọc các gia đình ưu việt có năng suất cao và chống chịu bệnh mục ruột trong các khảo nghiệm hậu thế Keo tai tượng

4. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu Tiếng Việt

Tài liệu Tiếng Anh

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về di truyềnsinh trưởng của keo tai tượng (Acacia mangium) là rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Diện tích rừng trồng keo tai tượng tại Việt Nam đã tăng đáng kể, từ 496.000 ha năm 2010 lên 732.972 ha năm 2015. Điều này cho thấy Acacia mangium đã trở thành một trong những loài cây trồng rừng chủ lực. Tuy nhiên, việc trồng thuần loài với quy mô lớn đã tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển, đặc biệt là bệnh mục ruột. Bệnh này do nấm gây ra, làm giảm năng suất và chất lượng gỗ. Do đó, việc nghiên cứu khảo nghiệm và cải thiện giống cây là cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc chọn giống và quản lý rừng hiệu quả.

II. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án này không chỉ bổ sung kiến thức về biến dịkhả năng di truyền của keo tai tượng mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Kết quả nghiên cứu đã xác định được phương pháp đánh giá bệnh mục ruột bằng thiết bị ArborSonic 3D, giúp nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá tình trạng cây. Ngoài ra, một số gia đình keo tai tượng có sinh trưởng nhanh và chất lượng thân cây tốt đã được chọn lọc, góp phần vào việc cải thiện giống cây. Những phát hiện này sẽ hỗ trợ cho các chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững tại Việt Nam.

III. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định các đặc điểm biến dị, khả năng di truyền của một số tính trạng quan trọng của keo tai tượng. Cụ thể, nghiên cứu sẽ tập trung vào việc xác định đặc điểm biến dị của các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây và bệnh mục ruột. Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ xác định phương pháp đánh giá bệnh mục ruột và khả năng di truyền trong chọn giống. Những mục tiêu này sẽ tạo cơ sở khoa học cho việc cải thiện giống cây, nhằm nâng cao năng suất và khả năng chống chịu bệnh.

IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các gia đình từ các lô hạt cây trội keo tai tượng trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2. Nghiên cứu được thực hiện tại ba địa điểm đại diện cho ba vùng địa lý sinh thái của Việt Nam: Ba Vì (Hà Nội), Quỳ Hợp (Nghệ An) và Bàu Bàng (Bình Dương). Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc đánh giá mức độ biến dịkhả năng di truyền về các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây và bệnh mục ruột ở các tuổi khác nhau. Nghiên cứu cũng sẽ so sánh các phương pháp đánh giá bệnh mục ruột để xác định phương pháp hiệu quả nhất.

V. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự biến dị rõ rệt về sinh trưởng và chất lượng thân cây keo tai tượng trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2. Hệ số di truyền cho các tính trạng sinh trưởng biến động từ thấp đến trung bình, cho thấy khả năng cải thiện giống cây thông qua chọn lọc. Đặc biệt, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bệnh mục ruột có thể được đánh giá chính xác hơn bằng thiết bị ArborSonic 3D, mở ra hướng đi mới trong việc quản lý và cải thiện giống cây. Những phát hiện này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ứng dụng thực tiễn cao trong ngành lâm nghiệp.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới 1. Phân bố tự nhiên Keo tai tượng Theo MacDicken và Brewbaker (1984) [108] Keo tai tượng (có tên khoa học là Acacia mangium Willd.) là loài cây có sinh trưởng nhanh và khả năng thích nghi trên nhiều điều kiện lập địa khác nhau. Keo tai tượng có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia.

Phân bố chủ yếu từ 8 o đến 18o vĩ độ nam (Hình 1.1), độ cao 300 m so với mực nước biển, lượng mưa 1500 – 3000 mm/năm (Doran et al. Gỗ Keo tai tượng có khối lượng riêng 0,45 - 0,50 g/cm3, ở giai đoạn 12 tuổi có thể đạt 0,59 g/cm 3 (Razali and Mohd, 1992) [127], thích hợp cho sản xuất gỗ dán, ván dăm, làm giấy và đồ gỗ gia dụng. Do đó Keo tai tượng đóng một vai trò quan trọng trong các chương trình trồng rừng ở vùng nhiệt đới châu Á. Các nghiên cứu về Keo tai tượng đã được thực hiện bao gồm các nghiên cứu về đặc điểm sinh học đến kỹ thuật gây trồng cũng như khả năng sử dụng.

Indonesi a I J PNG- N PNG- 12 SE oS FN Q QC R Hình 1.1: Vùng phân bố tự nhiên của Keo tai tượng (nguồn: Doran et al. Hầu hết đó là vùng nhiệt đới duyên hải với độ cao so với mực nước biển dưới 800 m. Keo tai tượng còn phân bố kéo dài tới các tỉnh miền tây Papua New Guinea (PNG) và tỉnh Irian Jaya thuộc Indonesia (Awang and Taylor, 1993) [44]. Tình hình gây trồng và sử dụng gỗ Keo tai tượng a) Tình hình gây trồng Với tổng số khoảng 1200-1300 loài, chi keo (Acacia) là một chi thực vật quan trọng đối với đời sống kinh tế và xã hội của nhiều nước, cũng như bảo vệ tài nguyên di truyền thực vật và bảo vệ đa dạng sinh học.

Trong những thập niên gần đây ở vùng nhiệt đới Châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, các loài keo được nhập từ Australia và Papua New Guinea (PNG) đã đóng một vai trò quan trọng trong các chương trình trồng rừng tập trung và trồng rừng phân tán, trong đó nổi bật là Keo tai tượng, Keo lá tràm và các giống lai giữa 2 loài này (Maslin and McDonald (1996) [113]. Keo tai tượng có thân cây thẳng đẹp, rễ có nốt sần có khả năng cải tạo đất và sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm (Razali and Mohd, 1992) [127]. Keo tai tượng là cây sinh trưởng nhanh và xanh quanh năm. Tuổi thọ của Keo tai tượng khoảng từ 30 đến 50 năm.

Keo tai tượng có thể sinh trưởng ở những nơi có độ pH từ 4,5 đến 6,5. Loài này đôi khi có nhiều thân, nguyên nhân chưa được nghiên cứu kỹ, tuy nhiên theo Turvey (1995) [139] có thể do độ phì đất và sự cạnh tranh không gian dinh dưỡng vv… Keo tai tượng đã được sử dụng phổ biến trong các chương trình trồng rừng ở các nước Đông Nam Á. Từ năm 2000 đến năm 2014, diện tích rừng trồng Keo tai tượng ở khu vực luan an 9 này đã tăng từ 1 triệu ha (FAO, 2000) [65] lên 2,6 triệu ha (Harwood and Nambiar, 2014b) [84]. Các dự án nghiên cứu của Tổ chức CSIRO vào những năm 1980 tại các nước Đông Á, Đông Nam Á, Australia và Fiji đã cơ bản xác định được các xuất xứ có triển vọng cho các nước tham gia.

Các xuất xứ PNG được đánh giá là phù hợp với điều kiện lập địa của Trung Quốc, Đài Loan (Harwood and William, 1991) [83]. Trước những năm 1990, ở Trung Quốc các loài keo chỉ được trồng làm cây xanh đường phố, hoặc trồng với diện tích nhỏ. Tuy nhiên do có nhiều ưu điểm mà diện tích rừng trồng keo của Trung Quốc tăng mạnh trong những năm qua, trồng mới hàng năm đạt 200. Tính đến năm 1999, Trung Quốc đã trồng được 3.300 ha Keo tai tượng.

Sau năm 1990 diện tích gây trồng loài Keo tai tượng này đã tăng lên nhiều (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1992) [15]. Cho đến nay đã có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo được khảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130 ha, Keo tai tượng là một trong ba loài keo đã được đưa vào trồng rừng trên diện rộng nhằm cung cấp gỗ (Kyungseok Park, 2007) [95]. Ở Papua New Guinea, từ năm 1950 đã có khoảng 59.450 ha rừng trồng được thiết lập trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15 - 16% tổng diện tích rừng trồng. Sinh trưởng chiều cao của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5m/năm trong 2,5 năm đầu (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [23].

Ở Malaysia Keo tai tượng đã được nhập trồng đầu tiên vào Sabah năm 1967 (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [23] với hạt giống thu được từ một cây mẹ duy nhất ở vùng Mission Beach, bang Queensland, Australia. Từ nguồn hạt giống này, diện tích rừng trồng đã được mở rộng và do đó năng suất rừng các thế hệ sau đó đã bị giảm thiểu đáng kể. Chính vì vậy, từ năm 1981 Malaysia đã phải nhập thêm nhiều nguồn hạt vào khảo nghiệm và gây luan an 10 trồng để mở rộng nền tảng di truyền của loài. Đến 2002 Malaysia đã trồng tới gần 125.000 ha tại Peninsular, Sabah và Sarawak (FAO, 2002) [66].

Đến năm 2017 riêng tại Sarawak rừng trồng các loài keo đã đạt trên 230.000 ha, chủ yếu là Keo tai tượng (Ismail Jusoh et al. Ở Indonesia, năm 2002 diện tích rừng trồng Keo tai tượng được ghi nhận chiếm tới 67% diện tích rừng trồng Keo tai tượng trên thế giới (FAO, 2002) [66]. Khoảng 1,3 triệu ha Keo tai tượng đã được trồng ở nước này để cung cấp gỗ giấy (Ministry of Forestry, 2003). Dự án trồng rừng của công ty MHP - Indonesia với tổng diện tích 193.500 ha, trong đó diện tích trồng Keo tai tượng chiếm 90% (Phạm Quang Thu et al.

Năm 1990 công ty đã thiết lập được khu rừng giống 17 ha bằng hạt của 79 cây trội. Trong 2 năm 1991 – 1992, Công ty đã trồng 92,9 ha rừng giống gồm các xuất xứ là Claudie River, Gubam, Wipim - Oriomo, Derideri… với số lượng cây mẹ từ 15 đến 140 cây mẹ do Trung tâm hạt giống Australia cung cấp. Giai đoạn 1993 - 1997 công ty đã xây dựng được 35,6 ha vườn giống thế hệ 1. Tổng sản lượng hạt giống từ năm 1995 đến 2005 của các vườn giống là 5143,4 kg và của các rừng giống là 6532,6 kg.

Sau đó công ty đã trồng được 42,5 ha vườn giống thế hệ 2 từ năm 2000 đến 2005. Diện tích rừng trồng Keo tai tượng ngày càng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây ở Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và Việt Nam. Indonesia là nước trồng Keo tai tượng nhiều nhất thế giới, với diện tích khoảng 1,2 triệu ha vào năm 2004 (Nirsatmanto et al. Ngoài ra Keo tai tượng còn được trồng tại các nước Bangladesh, Lào, Malaysia, Sri Lanka, Congo, Bờ biển ngà, Kenya, Zimbabwe, Brazin, Costa Rica, Cuba, Mỹ vv.

Thông thường rừng Keo tai tượng thường được trồng bằng cây con có bầu, và mật độ trồng từ 1. Độ sâu luan an 11 tầng đất và địa hình có ảnh hưởng rất rõ rệt đến sinh trưởng của cây. Khi trồng Keo tai tượng ở đất phù sa dưới chân đồi cho khối lượng gỗ lớn gần gấp đôi ở đỉnh đồi, mặc dù hai nơi chỉ cách nhau khoảng 100 m (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [23]. Ứng dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh (như tỉa cành và tỉa thưa) đã được nghiên cứu làm tăng tỷ lệ gỗ xẻ/ha và giảm khuyết tật gỗ (Mead and Miller, 1991) [115].

Việc áp dụng bón phân trong trồng rừng Keo tai tượng cũng đã được nghiên cứu sâu và đa dạng. Mead và Miller (1991) [115] đã nghiên cứu bón phân trong trồng rừng Keo tai tượng và khuyến cáo nên dùng 100g triple superphophate để bón lót và bón thúc 150g/cây sau 6 tháng và những nơi đất xấu nên bón thêm phân đạm. b) Sử dụng gỗ Keo tai tượng có thân cây thẳng và đẹp. Gỗ Keo tai tượng có màu sáng, lõi màu vàng nâu với khối lượng riêng trung bình biến động từ 0,45 đến 0,5 g/cm3, ở giai đoạn sau 12 tuổi khối lượng riêng có thể tăng tới 0,6 g/cm 3 (Razali and Mohd, 1992) [127], do vậy thích hợp để làm gỗ xẻ, gỗ dán, ván dăm và ván MDF, ván ghép thanh.

Hàm lượng bột trong gỗ Keo tai tượng cũng khá cao, khoảng 255 kg/m3, và đặc biệt gỗ Keo tai tượng dễ tẩy trắng. Vì vậy, Keo tai tượng được coi là loài cây làm nguồn nguyên liệu rất quan trọng để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy (Lê Đình Khả, 2003) [20]. Ở Indonesia, việc trồng Keo tai tượng đã được triển khai từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha để cung cấp nguyên liệu cho dăm gỗ và gỗ xẻ (Warren, 1991) [143]. Tới năm 2006, sản lượng bột giấy Keo tai tượng ở Indonesia đã đạt tới 9 triệu m3/năm, trong khi sản lượng gỗ xẻ của loài này cũng đạt được 165.000 m3/năm (Nirsatmanto et al.

luan an 12 Ở Trung Quốc, trước đây gỗ keo chỉ được dùng làm củi và than củi, vì dạng thân xấu và nhiều cành nhánh. Từ những năm 1990, nhờ có các hoạt động cải thiện giống mà gỗ keo đã có thể sử dụng làm gỗ dán, ván sàn, đồ mộc…Lợi nhuận thu được từ rừng trồng keo cũng đã tăng lên đáng kể, ví dụ năm 1980 giá của gỗ keo chỉ là 8 USD/m 3, đến giai đoạn 1993 – 1995 giá gỗ rừng trồng từ nguồn giống đã được cải thiện là 18 USD/m3 và đến giai đoạn 2002 - 2003 giá gỗ là 55 USD/m3 (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [23]. Tóm lại, từ các kết quả nghiên cứu đã xác định được điều kiện gây trồng phù hợp đối với Keo tai tượng cũng như cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp sản xuất dăm gỗ và gỗ xẻ, tuy nhiên chất lượng gỗ rừng trồng còn thấp do việc sử dụng giống chưa được cải thiện hoặc cải thiện ở mức độ thấp (Xuất xứ). Nghiên cứu cải thiện năng suất, chất lượng thân và gỗ Keo tai tượng a) Cải thiện các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây Tăng trưởng của các giống Keo tai tượng biến động rất khác nhau ở các nước trên thế giới, từ 20 đến 44 m 3/ha/năm phụ thuộc vào giống, lập địa và biện pháp kỹ thuật lâm sinh (Turnbull et al., 1998; Nirsatmanto and Kurinobu, 2002; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [138] [118] [23].

Keo tai tượng sinh trưởng nhanh hơn ở những nước gần xích đạo và chậm hơn ở các nước xa xích đạo (Awang and Taylor, 1993) [44]. Như vậy, để có được các giống tốt công tác cải thiện giống Keo tai tượng cũng đã được chú trọng ngay từ đầu ở nhiều nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về di truyền và sinh trưởng của keo tai tượng Acacia mangium trong khảo nghiệm thế hệ 2" của tác giả La Ánh Dương và Đoàn Ngọc Dao, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa và TS Phí Hồng Hải, được thực hiện tại Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích di truyền và sự phát triển của giống keo tai tượng Acacia mangium trong điều kiện khảo nghiệm thế hệ thứ hai. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về di truyền học cây trồng mà còn mở ra hướng đi mới cho việc cải thiện giống cây lâm nghiệp, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực di truyền và chọn giống cây trồng, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, nơi nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững, hay Luận án tiến sĩ về nghiên cứu các dòng bố mẹ thơm cho giống lúa lai chất lượng cao, cung cấp thông tin về di truyền trong cây lúa. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu phát triển giống ngô nếp lai chất lượng cao và hàm lượng anthocyanin, một nghiên cứu khác trong lĩnh vực di truyền cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp và ứng dụng trong di truyền học cây trồng.