MỞ ĐẦU TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Mối Macrotermes Holmgren là một trong những giống mối có vườn cấy ni thuộc họ phụ Macrotermitinae. Cũng như nhiều loài côn trùng, mối hay cu thể là n Macrotermes phát triển rất phong phú va đa dạng ở những vùng nhiệt đới gió mùa n ở Việt Nam. Chúng là đối tượng có ý nghĩa không những đối với cây trồng (Nguy Đức Kham, 1971, 1976 [13], [14]; Vũ Văn Tuyển 1991) [38], đối với công trình x dựng (Nguyễn Đức Kham, Vũ Văn Tuyển, 1985; Nguyễn Chí Thanh, 1996) [15], [: mà trong nhiều trường hợp còn gây hậu quả nghiêm trọng cho các công trình đê d (Vũ Văn Tuyển, 1982; Vũ Văn Tuyển & Nguyễn Tân Vương, 1993) [36], [40]. T vậy, về khía cạnh sinh thái, giống mối Macrotermes nói riêng có vai trò tích cực g phần phân giải mảnh vụn hữu cơ có nguồn gốc thực vật để trả lại mun cho đất (Lee a Wood, 1971; Collin, 1981;) [96], [69].
Mối là một đối tượng gay hại nghiêm trọng, do đó đã có nhiều biện pháp kt nhau được áp dụng để phòng trừ mối nói chung và mối có vườn cấy ni Macrotermitinae nói riêng. Tuy vậy, việc phòng trừ mối do phải dùng chất độc hại n đang gây ra những lo ngại về bảo vệ môi trường va bảo tồn đa dang sinh học. Hau | các loại thuốc hóa học được sử dụng để phòng chống mối đều có độ độc cao, có th gian tồn lưu lâu dài ở trong đất và đều thuộc vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật c: sử dụng ở Việt Nam (Cục bảo vệ thực vat, 2001) [5]. Trong tình hình thực tế hiện nay, việc điều tra đầy đủ về thành phần loài mối 1 chung và mối Macrotermes nói riêng, cũng như việc nghiên cứu các đặc điểm sinh hi sinh thái học làm cơ sở cho việc xác định, lựa chọn biện pháp phòng chống hợp lý độc hoặc không độc, ít gây ô nhiễm cho môi trường va con người, đồng thời hạn ‹ khả năng làm suy giảm đa dạng sinh học của mối là một yêu cầu cấp bách cho phá triển bền vững nông lâm nghiệp và các lĩnh vực kinh tế khác.
Trong thời gian gần đây, giống mối có ý nghĩa kinh tế này đã được Nguyễn Tâ Vương (1997) tiến hành điều tra khảo sát ở toàn khu vực miền Nam Việt Nam. miền Bắc Việt Nam sau 30 năm kể từ khi công trình nghiên cứu về khu hệ mối (1971 của Nguyễn Đức Khảm được công bố, hầu như các công trình điều tra, nghiên cứu v mối Macrotermes còn rất tản mạn và chưa có hệ thống. Hơn nữa, nghiên cứu về qu trình thu nhận, chế biến thức ăn, mối quan hệ giữa mối và nấm Termitomyces, một khí cạnh quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của mối vẫn chưa được nghiên cứu đầy đ ở Việt Nam. Từ nhận thức đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Ng“zên cứu thành phần, pha bố của mối Macrotermes (Isoptera: Termitidae)va đặc điểm sinh học, sinh thái học củ loài Macrotermes annandalei (Silvestri) ở miền Bắc Việt Nam” nhằm đáp ứng nhữn đòi hỏi của khoa học và thực tiễn trong phát triển lĩnh vực nghiên cứu về mối ở Việ Nam.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Kiểm kê, cập nhật, bổ sung và lập danh sách các loài của giống Macrotermes: miền Bắc Việt Nam. - Nghiên cứu đặc điểm phân bố của giống Macrotermes ở khu vực nghiên cứ như theo khu vực địa lý, dải độ cao và kiểu sinh cảnh - Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài M. amnandz/e là mẹ trong những loài mối phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt chú ý đến tỷ lệ đẳng cấ trong quần thể; sự phân công lao động trong quá trình kiếm ăn, xây tổ và xây dựn vườn nấm; vai trò của vườn nấm đối với sự tồn tại và phát triển của mối M. annandalei - Trên cơ sở các đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính học của mé Macrotermes góp phần đề xuất biện pháp phòng trừ hợp lý mối có vườn cấy nấm ở Việ Nam.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI Ý nghĩa khoa học của dé tài: - Góp phần cung cấp những dẫn liệu đầy đủ hơn về da dạng sinh học của m nói chung và giống Macrotermes nói riêng ở Việt Nam. - Bé6 sung các dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học như: tỉ lệ đẳng cấp, : phân công lao động của mối M. annand2ie¡ trong các hoạt động kiếm ăn ' xây dung, sửa chữa tổ; mối quan hệ giữa mối và nấm Termitomyces trong : tồn tại và phát triển của tổ mối. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là: - Cung cấp cơ sở khoa học cho việc nhân nuôi mối có vườn cấy nấm phục ' các thí nghiệm nghiên cứu sinh học và sinh thái học có hiệu quả.
- _ Góp thêm dẫn liệu làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ phục hồi của hệ sir thái rừng, đồng thời góp thêm cơ sở khoa học cho việc đề xuất phương ph: phòng trừ mối ở Việt Nam. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI - - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài mối thuộc giống Macrotermes miền Bắc Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thành phần loài của giối Macrotermes, sự phân bố của chúng theo sinh cảnh, độ cao và khu vực dia | Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của mối M. annandale1 CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 TINH HINH NGHIEN CUU VE MOI MACROTERMITINAE 6 NUGC NGOAI Tất cả các loài mối là côn trùng thuộc bộ cánh đều (Isoptera), chúng phân bố | vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và bán khô han, trong phạm vi 45° vi độ Bac và Nar bán cầu; ước tính vùng phân bố của mối chiếm khoảng 2/3 bề mặt trái đất (Wooc 1976; Wood and Sands, 1978) [151], [153].
Đến nay đã biết có khoảng 2000 loài mê thuộc 7 họ: Kalotermitidae, Termopsidae, Hodotermitidae, Termitidae Rhinotermitidae, Serritermitidae va Mastotermitidae (Abe, 1987) [47]. Sáu trong số ba ho được xếp vào “mối thấp” với đặc điểm có khu hệ vi sinh vat cộng sinh trong ruột | trùng roi. Trong số các họ phụ củ Termitidae, Macrotermitinae là họ phụ duy nhất có kha năng cộng sinh với nar Termitomyces, chúng bao gồm 13 giống, phân bố ở châu Phi và Đông phương, nhưn không có mặt ở châu Úc và châu Mỹ (Roonwal, 1970) [127]. Cũng giống như cá giống mối có vườn cấy nấm khác, giống Macrotermes Holmgren, có tập tính xã hc phức tạp với sự phân công lao động sâu sắc đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiê cứu mối trên thế giới (Noirot, 1969; Veiver et al.
Quá trình nghiên cứu mối Macrotermes được gắn liền với quá trình nghiên cứ họ phụ Macrotermitinae và có thể chia thành 3 giai đoạn (Thakur, 1983) [141]: WM ế 20. Mối được con người biết đến từ rất lâu, nhưng mãi đến 1778 Trước thky công việc nghiên cứu khoa học đầu tiên về mối trên thế giới mới được König, nhà tu nhiên học người Đức công bố (theo Thakur, 1983) [141]. Tác giả đã mô tả 3 loài mối (Termes variarum, Termes convuisionarrus va Termes monoceros) được tìm thấy tại An Độ va Srilanca, sau này loài Termes convulsionarius được xác định là Macrotermes esthera (theo Snyder, 1949) [135]. Như vậy, ngay từ báo cáo khoa học đầu tiên về mối trên thế giới, Macrotermes đã được phát hiện mặc dù dưới tên gọi khác.
Sau đó nhiều công trình nghiên cứu về phân loại học mối nói chung và phân loại Macrotermitinae nói riêng được công bố. Nổi bật là chuyên khảo về mối của Hagen được xuất bản năm 1858. Tác giả đã ghi nhận 98 loài thuộc các vùng địa lý động vật khác nhau trên thế giới, trong đó Macrotermitinae của vùng Đông phương có 7 loài với 4 loài mới (2 loài Macrotermes, 2 loài Odontotermes) được ghi nhận cho đến thời điểm này. Tiếp theo, Wasmann (1893) đã mô tả loài Termes redemani thu được ở Srilanca, Termes azarelli (sau nay là Macrotermes azarelli (Snyder, 1949)), Termes feae va Termes xennotermitis thu được ở Burma (nay là Myanma).
Haviland (1898) đã bổ sung thêm 3 loài (sau này được xác định là: Macrotermes gilvus maduensis, Macrotermes malaccensis va Microtermes pallidus) cho khu hệ mối Macrotermitinae ving Đông phương. Nhu vậy, tính đến cuối thé kỷ 19, đã phát hiện 14 loài thuộc Macrotermitinae ở vùng Đông phương, trong đó Macrotermes có 6 loài dưới các tên giống khác (theo Thakur, 1983) [141]. Nửa dâu thế kỷ 20 (1901-1949). Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của các nghiên cứu phân loại học hình thái mối.
Vào thời gian này đã có 84 loài mối thuộc họ phụ Macrotermitinae được phát hiện mới cho khoa học. Nhiều tên tuổi các nhà khoa học nghiên cứu về mối xuất hiện trong giai đoạn này và được xem như những người đặt nền móng cho các nghiên cứu về phân loại học mối như: Bugnion (1912-1914), Desneux (1904), Holmgren (1911-1914), Kemner (1925-1939), Light (1921-1927), Silvestri (1914-1923), Snyder (1934-1934, 1949) (theo Thakur, 1983) [141]. Chính nhò phát triển mạnh mẽ của các nghiên cứu phan loại hoc mối. mà nhiều taxon bậc cao đã được tu chỉnh sắp xếp vào các vị trí hợp với tự nhiên hơn trong chủng loại phát sinh củ chúng.
Tên gọi của giống Macrotermes duoc Holmgren tách ra từ giống Termes vài năm 1909 (Thakur, 1983) [141] dựa trên loài chuẩn là Termes Jilljeborgi (Sjöstedt) Nam 1911 cũng chính tác giả lại đưa xuống thành phân giống nằm trong giống Terme: Tất cả 5 loài mối vùng Đông phương (M. malaccensis) được tác giả xếp vào phân giống Macrotermes, còn các loa châu Phi (M. nigertensis) duo đặt trong phân giống Termes. Sau nay Fuller (1922) đã phát hiện thấy tên Termes d được đặt trước đó và chi giữ lại tên giống là Macrotermes.
Nhu vay sau một thời k biến đổi, cuối cùng Macrotermes lại được trả về bậc phân loại “giống” mà Holmgren đ đặt ban đầu (theo Thakur, 1983) [141]. Trong các nghiên cứu phân loại hoc có liên quan đến giống Macrotermes còi phải kể đến công trình của Kemner (1934) [94]. Tác gia đã mô tả 20 loài mối thuộc. giống Macrotermes, Odontotermes và Microtermes, đã được phát hiện trên quần đả: Indonesia, trong đó có 6 loài Macrotermes.
Silvestri (1914-1923) đã công bố kết qu phân tích từ các bộ sưu tập mối thu được tại một số vùng thuộc Ấn Độ và góp thêm. loài mới cho khoa học: Macrotermes (1 loài), Odontotermes (3 loài) và Euscasioterme (1 loài). Cho đến 15 năm sau, khi tổng hợp các nghiên cứu mối của nhiều tác gi Snyder (1949) [135] đã xuất bản công trình “Danh lục mối của thế giới”, đánh dấu mệ giai đoạn hoạt động nghiên cứu mạnh mẽ về phân loại học mối nửa đầu thế kỷ 2( Danh lục này có 49 loài và phân loài mối Macrotermes, trong đó có 32 loài phân bố : châu Phi và 17 loài cho vùng Đông phương.