Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của tu tập bát quan trai. Nội dung chương này chúng tôi trình bày các sự kiện được đề cập liên quan đến tu tập BQT trong Tam tạng (Kinh, Luật, Luận) Phật giáo trong tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Hán. Sau đó là trình bày về nguồn gốc, phương thức và lợi ích của tu tập BQT và một số khái niệm sử dụng trong luận văn.
Thực trạng tu tập BQT của tín đồ Phật giáo tại đạo tràng Vĩnh Nghiêm, Phổ Quang và Ấn Quang hiện nay. Đây là chương chính của luận văn, trình bày đặc điểm, tình hình có liên quan đến phương thức tu tập BQT ở ba đạo tràng đã chọn tại Tp.HCM hiện nay; những yếu tố ảnh hưởng đến tu tập của tín đồ Phật giáo tại ba đạo tràng BQT đã chọn; thực trạng về tu tập BQT; thực trạng về tổ chức tu tập BQT. Một số khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả tu tập của tín đồ Phật giáo tại ba đạo tràng đã chọn hiện nay. Chương này chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả tu tập BQT của tín đồ Phật giáo tại ba đạo tràng đã chọn.
10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TU TẬP BÁT QUAN TRAI 1. Tam tạng nói về tu tập Bát quan trai Bát quan trai giới là pháp tu đức Phật chế cho các Phật tử tại gia (Tín đồ Phật giáo) tu tập trong một ngày một đêm. Hoạt động tu tập BQT cũng bắt đầu từ khi đức Phật còn ở đời, được đề cập trong Tam tạng của Phật giáo: 1. Tam tạng tiếng Pali Trước tiên, đối với Phật giáo nam truyền, trong Tam tạng hệ Pali có kinh đề cập đến BQT, đó là Kinh Tăng Chi Bộ, Tập II, V.
Phẩm Ngày Trai Giới, (I) (41) Các Trai Giới [8] có đề cập đến tám trai giới. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì tại Jetanava, khu vườn ông Anàthapindika, ở đấy Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo: ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn; ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Và tám chi phần (Tám trai giới) được đề cập trong kinh như sau : Chi phần thứ nhất: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành trai giới. Ðây là chi phần thứ nhất được thành tựu”. Chi phần thứ hai: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự 11 sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp.
Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ hai được thành tựu”. Chi phần thứ ba: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ.
Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ ba được thành tựu”. Chi phần thứ tư: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời.
Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ tư được thành tựu”. Chi phần thứ năm: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.
Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ năm được thành tựu”. Chi phần thứ sáu: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời.
Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ sáu được thành tựu”. 12 Chi phần thứ bảy: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang.
Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ bảy được thành tựu”. Chi phần thứ tám: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn.
Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu” [8, tr. Kết thúc phần này đức Phật nói với các Tỷ-kheo rằng, ngày trai giới thành tựu tám chi phần được thực hành như vậy, sẽ chứng quả và được lợi ích lớn. Kinh này cũng được Tỷ-khưu Bodhi trích dịch và in trong tác phẩm Những lời Phật dạy (Trích lục các bài giảng trong kinh điển Pali), Bình Anson dịch sang tiếng Việt và xuất bản năm 2016 [3].
Tiếp theo là phần (II) (42) Ngày Trai Giới. Phần này đức Phật cũng trình bày về: Ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Tám chi phần được đề cập giống ở phần (41). Phần sau là nói về lợi ích của tu Bát quan trai sẽ được sanh lên các cõi trời: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên Bốn thiên vương, chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, chư Thiên cõi trời Yàma, chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu- Xuất), chư Thiên cõi trời Hóa lạc, chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại”[8, tr.
Phần cuối, đức Phật nói rõ lợi ích bằng hình thức kệ tụng. 13 (III) (43) Visàkhà, đức Phật dạy BQT cho nữ thí chủ Visàkhà ở Sàvavatthì, tại Ðông Viên, lâu đài mẹ của Migàrà: ngày trai giới đầy đủ tám chi phần được thực hành, thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn. (IV) (44) Vàsettha, Phật dạy giới BQT cho nam cư sĩ Vàsettha ở Vesàli, tại Mahàvana. Đức Phật nhấn mạnh với nam cư sĩ, ai cũng có thể thực hành tám giới này và đạt được lợi lạc.
“Này Vàsettha, nếu tất cả các Sát-đế-lỵ thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu tất cả Bà-la-môn. các Thủ-đà thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Thủ-đà sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu thế giới chư Thiên, với các ác ma, các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, như vậy, thế giới chư Thiên, các ác ma, các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài” [8, tr.
(V) (45) Bojjhà, Phật dạy giới BQT cho nữ cư sĩ Bojjhà ở Sàvavatthì, tại Jetanava. Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Tập II, Chuơng 10, V. Phẩm Mắng Nhiếc, đức Phật đề cập đến BQT cho các Thích tử trong ngày trai giới Uposatha. Câu chuyện tại Kapilavatthu, Thế Tôn ở giữa các Thích tử trong khu vườn Nigrodha.
Thế Tôn dạy các Thích tử nếu thực hành trai giới đầy đủ tám chi phần và sống nhiệt tâm, tinh cần, không phóng dật thì có thể chứng được quả Nhất-lai, quả Bất-lai và quả Dự-lưu [8, tr. Kinh Nhựt Tụng của Phật giáo Nam truyền có trình bày nghi thức truyền thọ giới BQT. Tín đồ phát nguyện thọ tám giới như sau: 14 1. Pānātipātā veramamī sikkhāpadam samādiyāmi.
Adinnādānā veramanī sikkhāpadam samādiyāmi. Abrahmacariyā veramanī sikkhāpadam samādiyāmi. Musāvādā veramanī sikkhāpadam samādiyāmi. Surāmerayamajjappamādatthānā veramamī sikkhāpadam samādiyāmi.
Vikālabhojanā veramanī sikkhāpadam samādiyāmi. Naccagītavāditavisūkadassanamālāgandhavilepanadhāranamand anavibhūsanatthānā veramanī sikkhāpadam samādiyāmi. Uccāsayanamahāsayanāveramanī sikkhāpadam samādiyāmi. Tam tạng tiếng Phạn (Sanskrit) Trong kinh điển của hệ tiếng Phạn có đề cập về nội dung tám giới BQT và lợi ích của tu tập BQT giới: Trước hết, Kinh Trung A Hàm III, Phẩm Bô Đa Lợi, 202.
Kinh Trì Trai, ghi lại việc nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư đến xin thọ giới BQT với đức Phật ở nước Xá-vệ trong Đông viên, tại giảng đường Lộc-tử-mẫu. Tại đây đức Phật nói có ba loại trai: Thứ nhất là loại trai của mục đồng; thứ hai là loại trai của Ni-kiền; thứ ba là Thánh trai tám chi. 15 Loại trai của mục đồng và loại trai của Ni-kiền, đức Phật dạy rằng, nếu ai trì loại trai này thì sẽ không lợi ích, không có công đức và không đạt được đại quả. Thứ ba là Thánh trai tám chi, đức Phật trình bày tám chi phần tương tự như Kinh Tăng Chi Bộ, Tâp II, V.
Phẩm Ngày Trai Giới, (I) (41) Các Trai Giới. Phần cuối kinh nói về phước do trì trai, nếu người hành trì Thánh trai tám chi phần này sẽ được sanh lên các cõi trời: Tứ-vương thiên, Tam-thập- tam thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hóa-lạc thiên, Tha-hóa-lạc thiên.