Tổng quan nghiên cứu

Truyền thông khoa học và công nghệ giữ vai trò huyết mạch trong việc kết nối tri thức học thuật với thực tiễn sản xuất, đồng thời là động lực then chốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Năm 2014 đánh dấu bước tiến vượt bậc của ngành khoa học Việt Nam với hàng loạt thành tựu đột phá như làm chủ công nghệ sản xuất vắc xin Rotavin-M1 hay thương mại hóa dòng sản phẩm vi mạch đầu tiên. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu trong Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, báo chí truyền thông được xác định là giải pháp chiến lược hàng đầu nhằm nâng cao dân trí và khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo quốc gia.

Tuy nhiên, hoạt động truyền thông chuyên biệt về khoa học trên sóng truyền hình quốc gia thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Các chương trình thường gặp rào cản về tính chuyên môn sâu, dễ rơi vào tình trạng khô khan và khó tiếp cận với đại chúng. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện quy trình tổ chức sản xuất, nội dung và hình thức thể hiện của hai chương trình truyền hình tiêu biểu: Công nghệ và Đời sống trên kênh VTV1 và Bảy ngày Công nghệ trên kênh VTV2 trong suốt năm 2014. Phạm vi khảo sát bao gồm 187 số phát sóng chính thức, kết hợp phỏng vấn sâu các nhà quản lý và khảo sát thực nghiệm công chúng xem truyền hình.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá khách quan bức tranh thực trạng, chỉ ra những ưu điểm nổi bật cùng các hạn chế cố hữu trong cách thức truyền tải thông tin kỹ thuật. Từ đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng thực tiễn cao nhằm tối ưu hóa hiệu quả thông tin, giúp các chương trình truyền hình hoàn thành sứ mệnh làm cầu nối bền vững giữa 4 nhà: Nhà nước, Nhà khoa học, Doanh nghiệp và Nhà nông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết truyền thông đại chúng hiện đại kết hợp với các quan điểm chuyên ngành báo chí học. Khung lý thuyết tích hợp mô hình truyền thông đa giác quan của truyền hình, nhấn mạnh sự tương tác giữa âm thanh, hình ảnh động và thông điệp tư tưởng nhằm thay đổi nhận thức xã hội. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa lý thuyết truyền thông khoa học của hai giáo sư Martin W. Bauer và Massimiano Bucchi (2007) từ Trường Kinh tế London, phân tích sự chuyển dịch từ tư duy báo cáo học thuật thuần túy sang chiến lược truyền thông đại chúng hấp dẫn, gắn liền với nhu cầu của công chúng và doanh nghiệp.

Về mặt công nghệ, luận văn vận dụng mô hình cấu trúc Sharif bao gồm 4 thành tố cơ bản: Kỹ thuật (Technoware), Thông tin (Inforware), Con người (Humanware) và Tổ chức (Orgaware). Luận văn làm rõ khái niệm khoa học và công nghệ dựa trên cơ sở pháp lý của Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13, xác định công nghệ là giải pháp, quy trình và bí quyết kỹ thuật biến đổi nguồn lực thành sản phẩm thực tế. Đồng thời, nghiên cứu bám sát định hướng chỉ đạo tại Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Nghị định số 11/2014/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học công nghệ, khẳng định mức đầu tư tối thiểu 2% ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này là đòn bẩy kinh tế chiến lược.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng hệ thống phương pháp liên ngành kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định tính và khảo sát định lượng:

  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập, hệ thống hóa và phân tích 12 văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết chiến lược của Đảng và Nhà nước, cùng hơn 20 công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến truyền thông đại chúng.
  • Phương pháp phân tích nội dung: Khảo sát toàn diện 187 chương trình truyền hình phát sóng trong năm 2014, gồm 52 số chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) và 135 số chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2). Phương pháp này giúp bóc tách chi tiết kết cấu khung giờ, tỷ lệ thể loại báo chí, đề tài phản ánh và phương thức biểu đạt hình ảnh.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện trực tiếp với 9 nhân vật chủ chốt, bao gồm 1 Phó Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam phụ trách nội dung KH&CN, 1 lãnh đạo Ban Khoa giáo VTV2, 2 lãnh đạo phòng sản xuất công nghệ, 2 biên tập viên trực tiếp sản xuất chương trình, cùng 2 chuyên gia nghiên cứu và 1 nhà quản lý cấp cao thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi anket: Thiết kế bảng hỏi cấu trúc gồm 19 câu hỏi chuyên sâu, thu thập dữ liệu từ 200 phiếu khảo sát trực tuyến hợp lệ. Cỡ mẫu phân bổ khoa học theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích, gồm 85 khán giả đại chúng (chiếm 42,5%), 60 nhà khoa học và chuyên gia nghiên cứu (chiếm 30,0%), và 55 phóng viên, biên tập viên chuyên trách mảng KH&CN tại các cơ quan báo chí trung ương (chiếm 27,5%). Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo phản ánh khách quan đa góc nhìn từ người tiếp nhận, người cung cấp tri thức và người sản xuất thông tin.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng trên 187 chương trình truyền hình phát sóng trong năm 2014 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô và tần suất truyền thông duy trì đều đặn nhưng có sự phân hóa rõ rệt giữa hai kênh sóng. Chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) phát sóng định kỳ 52 số mỗi năm với thời lượng trung bình 15 phút mỗi số, tập trung chủ yếu vào các chính sách vĩ mô và mô hình chuyển giao kỹ thuật. Trong khi đó, chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) duy trì 135 số phát sóng với thời lượng khoảng 20 phút mỗi số, mang tính cập nhật nhanh và đa dạng các xu hướng công nghệ số.

Thứ hai, cơ cấu thể loại báo chí còn mất cân đối nghiêm trọng. Dữ liệu phân tích chỉ ra rằng thể loại tin ngắn và phóng sự biên dịch từ nguồn tư liệu nước ngoài chiếm tỷ trọng lên tới 62% tổng số tác phẩm. Ngược lại, các thể loại đòi hỏi đầu tư chiều sâu như phóng sự điều tra, tọa đàm bàn tròn chuyên gia chỉ chiếm khoảng 23%, và phỏng vấn trực tiếp tại hiện trường chỉ đạt mức khiêm tốn 15%.

Thứ ba, mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin thực tiễn của công chúng còn nhiều khoảng trống. Kết quả từ 200 phiếu khảo sát chỉ ra rằng 68,5% người xem mong muốn tiếp cận các giải pháp kỹ thuật ứng dụng trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt. Tuy nhiên, có tới 58,0% khán giả cho rằng rào cản thuật ngữ chuyên môn quá nặng, khiến chương trình trở nên xa vời và khó hiểu.

Thứ tư, mối liên kết thông tin giữa các cơ quan quản lý và đơn vị sản xuất truyền hình bước đầu được cải thiện nhờ Quyết định số 2093/QĐ-BKHCN về quy chế phát ngôn, nhưng tỷ lệ các sáng chế cơ sở của người nông dân hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp được lên sóng truyền hình quốc gia mới chỉ đạt khoảng 18% tổng số đề tài được khai thác.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm giải thích rõ nét tình trạng mà những người làm truyền hình khoa học đúc kết qua cụm từ "3K": Khó, Khô và Khổ. Cái "Khó" nằm ở việc người làm báo phải nắm bắt chuẩn xác bản chất kỹ thuật phức tạp trong bối cảnh hơn 75% phóng viên theo dõi mảng này không có nền tảng đào tạo kỹ thuật chuyên ngành. Cái "Khô" xuất phát từ tư duy truyền thông một chiều, lạm dụng đọc thuyết minh văn bản thay vì xây dựng kịch bản trực quan sinh động. Cái "Khổ" bắt nguồn từ điều kiện tác nghiệp hiện trường tại các vùng sâu, vùng xa trong khi chi phí định mức sản xuất cho phóng sự khoa học còn hạn chế.

Dữ liệu phân bố cấu trúc thể loại có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua một biểu đồ tròn (Pie chart), minh họa rõ tỷ lệ áp đảo 62% của tin tức biên dịch so với 38% tổng dung lượng của phóng sự chuyên sâu và tọa đàm. Bên cạnh đó, mức độ hài lòng của công chúng có thể trình bày qua biểu đồ cột (Bar chart) đối sánh giữa 3 nhóm đối tượng khảo sát. Dữ liệu cho thấy trong khi 72% nhà quản lý hài lòng với nội dung tuyên truyền chính sách, thì chỉ có 34% nhà khoa học đánh giá cao chiều sâu học thuật của các chương trình. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Bauer và Bucchi (2007), chỉ ra rằng khi truyền thông đại chúng thiếu các công cụ tương tác số và ngôn ngữ diễn giải phổ thông, khoảng cách nhận thức giữa giới nghiên cứu và cộng đồng sẽ ngày càng bị nới rộng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng và sức hút của các chương trình truyền thông khoa học và công nghệ trên sóng truyền hình quốc gia, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đặt hàng nội dung truyền thông. Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Đài Truyền hình Việt Nam cần thiết lập cơ chế tài trợ chuyên đề dài hạn theo Nghị quyết 46/NQ-CP. Phấn đấu nâng mức ngân sách hỗ trợ sản xuất các phóng sự thực nghiệm lên 15% đến 20% mỗi năm, thực hiện từ quý 1 năm 2016 đến hết năm 2020. Chủ thể thực hiện là Vụ Thi đua và Truyền thông kết hợp với Ban Thư ký Biên tập của Đài Truyền hình Việt Nam.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ phóng viên, biên tập viên khoa giáo. Tổ chức định kỳ tối thiểu 4 khóa tập huấn nghiệp vụ mỗi năm về kỹ năng giải mã thuật ngữ học thuật và kiến thức công nghệ cao cho 100% phóng viên chuyên trách. Đơn vị chủ trì là Trung tâm Đào tạo VTV phối hợp với Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ hình thức thể hiện và đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật đồ họa hiện đại. Đưa công nghệ đồ họa chuyển động 3D, mô phỏng kỹ thuật số và infographic vào 100% các số phát sóng của Công nghệ và Đời sống cùng Bảy ngày Công nghệ. Mục tiêu là giảm 50% thời lượng thuyết minh lý thuyết thuần túy, nâng tỷ lệ thời lượng dành cho hình ảnh trải nghiệm hiện trường thực tế lên trên 45% trong mỗi tập phát sóng, hoàn thành triển khai trong năm 2017.

Thứ tư, phát triển hạ tầng phân phối đa nền tảng và gia tăng tính tương tác với khán giả. Xây dựng kênh tiếp nhận câu hỏi trực tuyến và cổng tương tác đa phương tiện trên nền tảng báo điện tử VTV News và các mạng xã hội. Đích đến là nâng tỷ lệ tương tác phản hồi của người xem lên 30% sau 12 tháng áp dụng, tạo diễn đàn trao đổi mở giữa 4 nhà nhằm thương mại hóa nhanh chóng các phát minh sáng chế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, đội ngũ lãnh đạo, biên tập viên và phóng viên tại các cơ quan truyền hình trung ương và địa phương. Luận văn cung cấp quy trình sản xuất 4 bước chuẩn hóa từ khâu xác định đề tài, lập đề cương tiền kỳ, tổ chức sản xuất hậu kỳ đến nghiệm thu phát sóng. Tài liệu là cẩm nang hữu ích giúp người làm truyền hình khắc phục triệt để tính khô cứng trong các tác phẩm khoa học.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông cùng các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương. Nghiên cứu cung cấp 187 dẫn chứng thực nghiệm và các phân tích pháp lý theo Nghị định số 40/2014/NĐ-CP, hỗ trợ việc xây dựng chiến lược truyền thông chính sách đồng bộ và nâng cao hiệu quả các quỹ hỗ trợ sáng kiến kỹ thuật.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên thuộc chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng và Khoa giáo. Luận văn đóng vai trò là tài liệu giảng dạy học thuật giá trị với khung lý thuyết đa chiều và bộ công cụ khảo sát xã hội học gồm 200 mẫu điều tra thực tế.

Thứ tư, các nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Công trình giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ quy luật tiếp nhận của báo chí truyền hình, từ đó trau dồi kỹ năng phát ngôn và chuyển giao kết quả nghiên cứu thành các thông điệp truyền thông đại chúng dễ thu hút nhà đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn khảo sát cụ thể những chương trình truyền hình nào và trong khoảng thời gian bao lâu?

Luận văn tiến hành khảo sát toàn diện 187 số phát sóng trong trọn vẹn năm 2014 trên Đài Truyền hình Việt Nam. Trong đó bao gồm 52 chương trình Công nghệ và Đời sống phát sóng trên kênh VTV1 và 135 chương trình Bảy ngày Công nghệ phát sóng trên kênh VTV2.

Điểm nghẽn lớn nhất trong các chương trình truyền hình khoa học công nghệ hiện nay là gì?

Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối thể loại và rào cản thuật ngữ. Thể loại tin tức biên dịch nước ngoài chiếm tới 62% thời lượng, trong khi các phóng sự phân tích sâu chỉ chiếm 23%. Thêm vào đó, 58,0% khán giả được khảo sát nhận định ngôn ngữ truyền hình còn nặng tính hàn lâm, thiếu tính ứng dụng đời sống.

Mô hình 4 thành tố Sharif được tác giả ứng dụng như thế nào trong nghiên cứu?

Tác giả sử dụng mô hình Sharif để đánh giá công nghệ qua 4 yếu tố: Kỹ thuật, Thông tin, Con người và Tổ chức. Trong truyền hình, mô hình này giúp các nhà báo tiếp cận toàn diện một phát minh khoa học, từ thiết bị máy móc đến quy trình chuyển giao và năng lực vận hành của con người trong thực tiễn.

Cơ sở pháp lý trọng tâm nào định hướng cho công tác truyền thông khoa học tại Việt Nam?

Nền tảng pháp lý cốt lõi gồm Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13, Quyết định số 418/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Trung ương Đảng, cùng Nghị định số 11/2014/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động thông tin và truyền thông khoa học.

Phương pháp chọn mẫu điều tra xã hội học trong luận văn có điểm gì nổi bật?

Luận văn đã triển khai khảo sát 200 mẫu trực tuyến theo phương pháp phân tầng đại diện cho 3 nhóm đối tượng: 85 khán giả đại chúng (42,5%), 60 nhà khoa học (30,0%) và 55 nhà báo chuyên trách (27,5%). Cấu trúc mẫu này đảm bảo đánh giá khách quan hiệu quả truyền thông từ cả ba chiều cung cấp, xử lý và thụ hưởng thông tin.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận báo chí và hành lang pháp lý về truyền thông khoa học và công nghệ tại Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW và Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.
  • Khảo sát thực chứng 187 số phát sóng của hai chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) và Bảy ngày Công nghệ (VTV2), chỉ ra sự thống trị của thể loại tin biên dịch chiếm 62% và sự thiếu hụt các tọa đàm chuyên sâu.
  • Phân tích dữ liệu thực nghiệm từ 200 phiếu anket và 9 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia, làm rõ nguyên nhân của rào cản "3K" (Khó, Khô, Khổ) trong hoạt động tác nghiệp truyền hình.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện cơ chế tài trợ đặt hàng, chuẩn hóa đào tạo nhân sự, ứng dụng đồ họa 3D hiện đại và phát triển kênh tương tác đa nền tảng.
  • Khẳng định vai trò xung kích của truyền hình quốc gia trong việc làm cầu nối liên kết 4 nhà, thúc đẩy lộ trình kinh tế tri thức đến năm 2020.

Về lộ trình thực hiện tiếp theo, các giải pháp cần được đưa vào triển khai thí điểm ngay trong giai đoạn 2016-2018 tại các ban biên tập nòng cốt của Đài Truyền hình Việt Nam, sau đó nhân rộng ra toàn bộ hệ thống 67 đài phát thanh truyền hình cả nước đến năm 2020. Các cơ quan quản lý, đơn vị truyền thông và viện nghiên cứu cần chủ động phối hợp chặt chẽ, khai thác triệt để các đề xuất của luận văn nhằm tạo bước chuyển biến đột phá cho bức tranh truyền thông khoa học nước nhà.