Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội trường đại học 2. Trách nhiệm xã hội Trách nhiệm xã hội đã có một lịch sử lâu dài (Carroll, 1999). Các định nghĩa về trách nhiệm xã hội bắt đầu phổ biến vào những năm 1970 và rất ít bài nghiên cứu về nó vào những năm 1980 (Carroll, 1999).
Trong những năm 1990 và 2000, khái niệm TNXH đã chuyển đổi đáng kể sang một vài chủ đề nổi bật: lý thuyết cổ đông, lý thuyết đạo đức kinh doanh, hiệu quả xã hội của doanh nghiệp, phát triển bền vững, và quyền công dân của công ty (Carroll, 1999). Các nhà nghiên cứu quản lý trong các ngành khác nhau đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để điều tra các tác động của TNXH đối với khách hàng, cổ đông và nhân viên (Annie và cộng sự. Đóng góp quan trọng vào sự phát triển của khái niệm TNXH đã được thúc đẩy bởi Carroll (1979), người đã xác định bốn khía cạnh: kinh tế (có lợi), pháp lý (tuân thủ các tiêu chuẩn và luật pháp), đạo đức (làm điều đúng đắn và điều tốt cho mọi người) và long bác ái (còn được gọi là từ thiện). Một kim tự tháp trình tự có thể đại diện cho điều này mà cơ sở của nó là khía cạnh kinh tế.
Những tài sản lớn của mô hình này tập trung vào khái niệm rằng các mục tiêu kinh tế và xã hội có thể được kết nối với nhau, tức là một công ty có thể có trách nhiệm với xã hội và đồng thời đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận thông qua các hoạt động phát triển xã hội.1: Bốn khía cạnh thúc đẩy trách nhiệm xã hội của Carroll (1979) 9 Trong nghiên cứu của Annie và cộng sự. (2019) đã tổng hợp hàng loạt định nghĩa về TNXH dưới nhiều góc độ khác nhau, như: McWilliams và Siegel (2001) đã định nghĩa TNXH là những hành động mang lại lợi ích xã hội, vượt ra ngoài lợi ích của công ty và luật pháp yêu cầu; trong khi Whetten và cộng sự. (2002) gọi TNXH là kỳ vọng xã hội của hành vi doanh nghiệp; một hành vi được cho là bởi các bên liên quan được xã hội mong đợi hoặc yêu cầu về mặt đạo đức; Carrol (1999) giải thích rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm các kỳ vọng kinh tế, pháp lý, và đạo đức mà xã hội của các tổ chức tại một thời điểm nhất định yêu cầu. Những kỳ vọng này đề xuất rằng các tổ chức nên tham gia đồng thời các trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức.
Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được bắt đầu từ những năm 1917 và dần bổ sung, hoàn thiện thông qua một quá trình lâu dài. Trong thời gian qua, khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đã được hợp lý hóa và trở nên gắn liền với các mục tiêu tổ chức lớn hơn như danh tiếng và quyền lợi của các bên liên quan. Các nghiên cứu trước đây đã tiết lộ rằng các hoạt động CSR của các tổ chức làm tăng nhận dạng công ty của nhân viên dựa trên lý thuyết nhận dạng xã hội, lần lượt hỗ trợ ảnh hưởng tích cực đến mức độ cam kết của nhân viên đến hoạt động của doanh nghiệp mà họ là thành viên (Brammer et al., 2007; Kim, Lee, Lee và Kim, 2010; Kim; et al., 2016) Qua nghiên cứu lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả trình bày lại theo bảng sau đây tóm tắt sự phát triển các quan niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được các tác giả nghiên cứu trước đây theo diễn biến thời gian được trình bày cụ thể như sau: 10 Bảng 2.1: Sự hình thành và phát triển khái niệm về CSR Năm Tác giả Sự phát triển khái niệm về CSR Bowen Trách nhiệm xã hội của doanh nhân, tuyên truyền và kêu gọi người quản lý không làm tổn hại đến quyền lợi của người 1953 khác; kêu gọi lòng từ thiện của doanh nghiệp nhằm bồi hoàn những tổn thất cho xã hội Friedman Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Có 1 và chỉ 1 trách 1970 nhiệm duy nhất đó là tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ luật chơi của thị trường và không bao gồm các hành động dẫn đến sự hiểu lầm và gian lận 1991 Carroll Mô hình kim tự tháp: trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm 4 trách nhiệm: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện Archie CSR bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, 1999 Carroll đạo đức và lòng bác ái đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định Matten và CSR là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác Moon nhau như đạo đức, kinh doanh, doanh nghiệp là từ thiện, công 2004 dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm mội trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù… ISO 26000 Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp gồm 7 nhân tố 2010 cốt lõi: Quản trị doanh nghiệp, quyền con người, đối xử với người lao động, môi trường, quản trị tổ chức minh bạch, người tiêu dùng và đóng góp cộng đồng Schaltegger Việc quản lý sự bền vững của công ty, bao gồm tất cả các biện và Burritt pháp môi trường, xã hội và kinh tế của tổ chức, cho phép công 2018 ty đóng góp cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế và toàn xã hội.
Nguồn: Tác giả tổng hợp 11 Theo Carina và cộng sự. (2019), việc quản lý TNXH hay sự bền vững của công ty, bao gồm tất cả các biện pháp về môi trường, xã hội và kinh tế của tổ chức cho phép công ty đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế và toàn xã hội. Điều này bao gồm các nhân viên sẽ đóng góp cho sự bền vững công ty thông qua việc hoàn thành công việc (Norton và cộng sự., 2014; Paillé và Mejía-Morelos, 2014; Muster, 2011, theo Carina và cộng sự. Khi xem xét TNXH theo khía cạnh của lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984, theo Carina và cộng sự., 2019), các tổ chức cần có sự tham gia của các nhân viên với tư cách là các bên liên quan chính trong chương trình TNXH của công ty (De Roeck và cộng sự., 2014; Muster, 2011; Morsing và cộng sự., 2008; Carina và cộng sự.
El Akremi et. (2018) phát hiện rằng nhân viên nhận thấy những lợi ích nhất định từ việc tham gia các hoạt động TNXH và do đó, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Do đó, lợi ích của nhân viên về nhu cầu thỏa mãn rất có thể là động lực của họ khi tham gia vào các hoạt động TNXH. Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về trách nhiệm xã hội, theo tác giả: trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết thực hiện trách nhiệm pháp lý, kinh tế, đạo đức và từ thiện vượt qua mong đợi của xã hội góp phần cho xã hội phát triển hài hòa, bền vững.
Trách nhiệm xã hội trường đại học Với vai trò là một trong những tổ chức quan trọng trong xã hội, trường đại học đã tồn tại hàng thế kỉ nay như là một nền tảng giáo dục cho tất cả và cho sự phát triển bền vững của nhân loại, câu hỏi về trách nhiệm xã hội của trường đại học được đặt ra và nhận được mối quan tâm ngày càng lớn. Khi các nguồn tài trợ công đang ngày càng trở nên khan hiếm, trường đại học đang mở rộng các mối quan hệ hợp tác hơn, thương mại hóa hơn và cạnh tranh hơn trên khía cạnh thu hút sinh viên và tiếp cận rộng rãi hơn, tiếp cận thông tin dễ hơn và nhiều hơn, nguồn thông tin đa dạng và sẵn có hơn trong một xã hội tri thức. Những thay đổi và thách thức mà các trường đại học đang phải đối mặt đang ảnh hưởng tới viễn cảnh tương lai của các trường đại học đã được thảo luận bởi Vukasovic (2008) và Felt (2003) xét ở góc độ mở rộng nhanh chóng của giáo dục đại học, quốc 12 tế hóa, tiếp cận của sinh viên và tính linh động của sinh viên, giảm chi phí công, đa dạng hóa giáo dục đại học, thương mại hóa giáo dục đại học và tác động của công nghệ thông tin. Theo Vasilescu và cộng sự (2010), khái niệm USR bắt nguồn từ khái niệm TNXH và liên quan đến đạo đức, cách tiếp cận của trường đại học trong sự tương tác với xã hội.
Trường đại học là dạng doanh nghiệp đặc biệt với quy trình, tổ chức, chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế riêng, nhằm tạo ra nguồn nhân lực trí thức chất lượng cao. Do đó, xác định TNXH cũng có những nét đặc thù. Theo Wigmore-Álvarez và cộng sự (2020), sự khác biệt cơ bản giữa TNXH và USR nằm ở khía cạnh chức năng đào tạo chuyên môn và xây dựng phát triển tri thức mới của trường đại học. Chức năng này tạo ra những kết quả có những tác động rất khác biệt so với kết quả của doanh nghiệp.
Trong trường đại học, TNXH là một định hướng được tích hợp vào nhiệm vụ và chương trình dạy học, không nên tách rời khỏi hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của nhà trường (Vallaeys, 2011; Parsons, 2014). TNXH lúc này là một đặc điểm của trường đại học, thể hiện cách thức tổ chức nội bộ và mối quan hệ với bên ngoài. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định rằng các cơ sở giáo dục đại học phải hoạt động có nguyên tắc về TNXH, và tạo nên bản sắc hoặc thậm chí tạo nên thành công và danh tiếng của nhà trường (Kotecha, 2010; Watson, 2003). Trong nhiều định nghĩa về USR, định nghĩa của Vallaeys được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng học thuật (Amber Wigmore-Álvarez, 2012).
Theo đó, USR là “chính sách về đạo đức trong các hoạt động của trường đại học (sinh viên, giảng viên, nhân viên hành chính), thông qua quản lý có trách nhiệm đối với giáo dục, nghiên cứu và môi trường, có sự tham gia của xã hội để thúc đẩy phát triển con người bền vững” (Vallaeys, 2007; Wigmore-Álvarez, 2020). Vallaeys (2011) đã xem xét các tác động đối với xã hội của trường đại học và phân nhóm thành bốn lĩnh vực: tác động giáo dục, tác động nhận thức và nhận thức luận, tác động xã hội và hoạt động của nhà trường. Sự hình thành và phát triển khái niệm về USR .