Luận Án Tiến Sĩ Hóa Học: Nghiên Cứu Tổng Hợp Vật Liệu Mới Từ TCNQ Và TCNQF4

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hóa học nghiên cứu tổng hợp vật liệu mới từ tcnq và tcnqf4, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực hóa học tại Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Hóa hữu cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

141
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6. Bố cục của luận án

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Polyme dẫn điện và ứng dụng

1.1.1. Lịch sử phát triển của polyme dẫn điện

1.1.2. Bản chất về tính dẫn điện của polyme dẫn

1.1.3. Cơ chế dẫn điện của polyme dẫn

1.1.4. Cơ chế của Roth

1.1.5. Cơ chế lan truyền pha của K. Phân loại một số polyme dẫn

1.1.6. Polyme oxi hoá khử (Redox polyme)

1.1.7. Polyme dẫn điện (Electronically conducting polymes)

1.1.8. Polyme trao đổi ion (Ion - exchange polymes)

1.1.9. Ứng dụng của polyme dẫn

1.1.10. Polyme dẫn trong dự trữ năng lượng

1.1.11. Thiết bị điều khiển logic, transistor hiệu ứng trường

1.1.12. Thiết bị đổi màu điện tử

1.2. Tổng quan về TCNQ và TCNQF4

1.2.1. Công thức cấu tạo, tính chất

1.2.2. Công thức cấu tạo, tính chất vật lý

1.2.3. Tính chất hóa học của TCNQ

1.2.4. Tính chất điện hóa của TCNQ và TCNQF4

1.2.5. Lịch sử nghiên cứu về TCNQ và TCNQF4

1.2.6. Tổng hợp TCNQ và TCNQF4

1.2.6.1. Tổng hợp TCNQ
1.2.6.2. Tổng hợp TCNQF4

1.2.7. Ứng dụng các hợp chất của TCNQ và TCNQF4

1.2.7.1. Tính chất dẫn điện của hợp chất MTCNQ (M = kim loại)
1.2.7.2. Phân tử dẫn điện trên cơ sở của mạng kim loại hữu cơ (MOF) M+(TCNQ-•)
1.2.7.3. Ứng dụng làm nam châm hữu cơ và các vật liệu từ tính
1.2.7.4. Thiết bị bộ nhớ ổn định
1.2.7.5. Tính hấp thụ chọn lọc, lưu trữ khí
1.2.7.6. Cảm biến sinh học
1.2.7.7. Ứng dụng làm xúc tác
1.2.7.8. Tính chất quang hóa của TCNQ

1.2.8. Cách xác định TCNQ và TCNQF4 và các anion của nó trong các vật liệu

1.2.8.1. Trạng thái chất rắn
1.2.8.2. Trạng thái dung dịch

2. CHƯƠNG 2. NGUYÊN LIỆU– NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Hóa chất, thiết bị, dụng cụ

2.2. Thiết bị, dụng cụ

2.3. Các phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Các phương pháp vật lý

2.3.2. Phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng

2.3.3. Phương pháp phân tích nhiễu xạ tia X

2.3.4. Phương pháp kính hiển vi điện tử quét SEM

2.3.5. Phương pháp phổ hồng ngoại FT- IR

2.3.6. Phương pháp phổ Raman

2.3.7. Phương pháp phổ UV-Vis

2.3.8. Kiểm tra độ dẫn điện của sản phẩm

2.3.9. Phương pháp xác định cấu trúc sản phẩm

2.3.10. Phương pháp tổng hợp hóa học

2.3.10.1. Phương pháp nhiệt dung môi
2.3.10.2. Tổng hợp từ LiTCNQFn
2.3.10.3. Tổng hợp từ TCNQFn

2.3.11. Phương pháp điện hóa

2.3.11.1. Phương pháp tổng hợp điện phân
2.3.11.2. Kết tinh điện hóa trên điện cực ITO

2.4. Nghiên cứu tổng hợp và đặc trưng tính chất các sản phẩm của TCNQ với các ion hữu cơ

2.4.1. TCNQ - N, N- dimetyl –proline este

2.5. Nghiên cứu tính chất điện hoá và tổng hợp các hợp chất của TCNQF4 và các cation kim loại

2.5.1. Tính chất điện hoá của TCNQF4 trong sự có mặt của Cu(CH3CN)4+ và Ag(CH3CN)4+

2.5.2. Tổng hợp các vật liệu của TCNQF4 và Ag+, Cu+ trong CH3CN

2.5.2.1. Điện kết tinh
2.5.2.2. Tổng hợp điện hoá

2.5.3. Tổng hợp M-TCNQF4 (M = Zn, Co, Mn) trong hỗn hợp dung môi CH3CN và DMF

2.5.3.1. Nghiên cứu tính chất điện hoá trong hỗn hợp dung môi CH3CN/DMF (5%)
2.5.3.2. Tổng hợp sản phẩm Zn-TCNQF4 bằng phương pháp điện hoá
2.5.3.3. Tổng hợp hóa học [MTCNQF4(DMF)2]·(DMF)2 (M= Zn, Mn, Co)
2.5.3.4. Tính toán phổ IR của [ZnTCNQF4(DMF)2]·(DMF)2 bằng phương pháp DFT

3. CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Các vật liệu của TCNQ với amino acid

3.1.1. Vật liệu của Prolin với TCNQ

3.1.1.1. Cấu trúc tinh thể
3.1.1.2. Tính chất phổ của ProTCNQ
3.1.1.3. Tính chất điện hóa của ProTCNQ
3.1.1.4. Độ dẫn điện của ProTCNQ

3.1.2. Vật liệu của N,N-dimetyl- Prolin metyl este với TCNQ

3.1.2.1. Cấu trúc tinh thể
3.1.2.2. Tính chất phổ Raman và hồng ngoại IR của ProCH3TCNQ
3.1.2.3. Tính chất điện hóa của vật liệu

3.1.3. Vật liệu của Leucin este với TCNQ

3.1.3.1. Cấu trúc tinh thể [Leu(CH3)3][TCNQ]
3.1.3.2. Tính chất phổ của vật liệu
3.1.3.3. Tính chất điện hóa của vật liệu

3.2. Vật liệu của TCNQF4 với cation kim loại

3.2.1. Nghiên cứu quá trình điện kết tinh AgTCNQF4 và Ag2TCNQF4 trong CH3CN

3.2.2. Đường cong dòng- thế tuần hoàn của các dung dịch chứa TCNQF4 và [Ag(CH3CN)4]+ (CH3CN, 0,1 M Bu4NPF6)

3.2.3. Quét thế vòng tuần hoàn của TCNQF4 trong sự có mặt của [Ag(CH3CN)4]+ trong CH3CN (0,1 M Bu4NPF6)

3.2.4. Nghiên cứu quá trình điện kết tinh của CuTCNQF4 và Cu2TCNQF4

3.2.5. Quét thế tuần hoàn của dung dịch chứa TCNQF4 và [Cu(CH3CN)4]+ trong CH3CN

3.2.6. Sự kết tinh điện hóa của CuTCNQF4 và Cu2TCNQF4 trong CH3CN

3.2.7. Đặc trưng tính chất của vật liệu

3.2.7.1. Phổ của các vật liệu TCNQF4-•
3.2.7.2. Tính chất điện hoá của vật liệu CuTCNQF4
3.2.7.3. Phổ của các sản phẩm TCNQF42-
3.2.7.4. Công thức phân tử của sản phẩm Cu+-TCNQF42-
3.2.7.5. Hình ảnh SEM

3.2.8. Vật liệu của của TCNQF4 với Zn2+

3.2.9. Đường cong dòng – thế tuần hoàn của TCNQF4 trong dung dịch CH3CN/ DMF chứa Zn2+

3.2.10. Ảnh hưởng của thế đảo chiều

3.2.11. Ảnh hưởng của tốc độ quét thế

3.2.12. Ảnh hưởng của nồng độ Zn2+ và TCNQF4

3.2.13. Quét thế tuần hoàn của TCNQF4 trong dung dịch M2+ (M = Co, Mn)

3.2.14. Phổ X-Ray của ZnTCNQF4(DMF)2. Tính chất của vật liệu tạo thành

3.2.15. Các đặc trưng của ZnTCNQF4(DMF)2.2DMF trong dung dịch

3.2.16. Phổ dao động của ZnTCNQF4(DMF)2.2DMF

CÁC KẾT LUẬN CHÍNH CỦA LUẬN ÁN

KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO – PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Luận án tiến sĩ hóa học tập trung vào nghiên cứu tổng hợp vật liệu mới từ TCNQTCNQF4, hai hợp chất hữu cơ có tiềm năng ứng dụng cao trong lĩnh vực vật liệu điện tử và hóa học vật liệu. Mục tiêu chính là tổng hợp các vật liệu từ TCNQTCNQF4 với các amino acid và cation kim loại, đồng thời khảo sát các tính chất lý hóa của chúng. Nghiên cứu này nhằm mở rộng hiểu biết về vật liệu hữu cơvật liệu điện tử, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này.

1.1. Lý do chọn đề tài

TCNQTCNQF4 là các hợp chất hữu cơ có khả năng tạo thành các cấu trúc tinh thể đa chiều, mang lại tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực bán dẫn, xúc tác, và cảm biến sinh học. Việc nghiên cứu tổng hợp các vật liệu mới từ hai hợp chất này sẽ góp phần phát triển các ứng dụng thực tiễn trong công nghệ vật liệu.

1.2. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của nghiên cứu là tổng hợp các vật liệu từ TCNQTCNQF4 với các amino acid và cation kim loại, đồng thời khảo sát các tính chất lý hóa của chúng. Nghiên cứu cũng hướng đến việc tạo ra các vật liệu có tính ứng dụng cao trong lĩnh vực lưu trữ điện tử và cảm biến sinh học.

II. Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Luận án cung cấp một cái nhìn tổng quan về polyme dẫn điện và các ứng dụng của chúng, đồng thời tập trung vào các tính chất và cơ chế dẫn điện của TCNQTCNQF4. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm cả lý thuyết và thực nghiệm, với các kỹ thuật như phương pháp tổng hợp hóa họcphương pháp điện hóa.

2.1. Tổng quan về TCNQ và TCNQF4

TCNQTCNQF4 là các hợp chất hữu cơ có cấu trúc và tính chất đặc biệt, cho phép chúng tạo thành các cấu trúc tinh thể đa chiều. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra khả năng ứng dụng của chúng trong lĩnh vực bán dẫn và vật liệu điện tử.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp tổng hợp hóa học và điện hóa để tạo ra các vật liệu mới từ TCNQTCNQF4. Các kỹ thuật phân tích như phổ hồng ngoại, phổ Raman, và phổ UV-Vis được sử dụng để đặc trưng tính chất của các vật liệu tổng hợp.

III. Kết quả và thảo luận

Luận án trình bày các kết quả nghiên cứu về việc tổng hợp các vật liệu từ TCNQTCNQF4 với các amino acid và cation kim loại. Các vật liệu tổng hợp được đặc trưng bằng các phương pháp phân tích hiện đại, cho thấy các tính chất điện hóa và quang học đáng chú ý.

3.1. Vật liệu từ TCNQ với amino acid

Các vật liệu tổng hợp từ TCNQ với các amino acid như ProlinLeucin cho thấy cấu trúc tinh thể đặc biệt và tính chất điện hóa ổn định. Các kết quả phân tích phổ cho thấy sự tương tác mạnh mẽ giữa TCNQ và các amino acid.

3.2. Vật liệu từ TCNQF4 với cation kim loại

Các vật liệu tổng hợp từ TCNQF4 với các cation kim loại như Ag, Cu, và Zn cho thấy tính chất dẫn điện và quang học đáng kể. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra tiềm năng ứng dụng của các vật liệu này trong lĩnh vực điện tử và cảm biến.

IV. Kết luận và kiến nghị

Luận án kết luận rằng việc tổng hợp các vật liệu mới từ TCNQTCNQF4 mang lại nhiều tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực vật liệu điện tử và hóa học vật liệu. Các kiến nghị được đưa ra nhằm tiếp tục nghiên cứu và phát triển các ứng dụng thực tiễn từ các vật liệu này.

4.1. Kết luận chính

Nghiên cứu đã thành công trong việc tổng hợp các vật liệu mới từ TCNQTCNQF4, đồng thời khảo sát các tính chất lý hóa của chúng. Các vật liệu này cho thấy tiềm năng ứng dụng cao trong lĩnh vực điện tử và cảm biến.

4.2. Kiến nghị

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các ứng dụng thực tiễn của các vật liệu tổng hợp từ TCNQTCNQF4, đặc biệt trong lĩnh vực lưu trữ điện tử và cảm biến sinh học.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu tổng hợp vật liệu mới từ tcnq và tcnqf4

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Polyme dẫn điện và ứng dụng 1. Lịch sử phát triển của polyme dẫn điện Tính chất cách điện của polyme đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực quan trọng.

Cho đến cuối những năm 1950 của thế kỉ trước, polyme vẫn luôn gắn liền với tính chất cách điện. Tuy nhiên, quan niệm này đã thay đổi khi người ta tìm thấy một số polyme có khả năng dẫn điện. Khám phá này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học bởi ứng dụng vô cùng to lớn của polyme so với các vật liệu dẫn điện khác. Đó là tính bền với môi trường, có tỉ trọng nhỏ và dễ gia công, dễ kéo sợi hơn so với kim loại (một chất dẫn điện điển hình).

Hơn nữa, các polyme dẫn được tìm thấy có khoảng độ dẫn điện lớn, đó cũng là một đặc điểm có lợi trong ứng dụng thực tiễn [2]. Polyme hữu cơ dẫn đầu tiên được tìm thấy đó là poliaxetilen (PA) được Natta và các cộng sự tổng hợp vào năm 1958. Đó là hợp chất màu đen, dạng bột, có độ dẫn điện vào khoảng 7. Đến năm 1967, Hideki Shirakawa, Học viện công nghệ Tokyo - Nhật Bản, trong quá trình tổng hợp lại poliaxetilen họ đã tình cờ thu được chất có màu sáng bạc, dạng màng mỏng do đã sử dụng xúc tác Ziegler - Natta với lượng lớn hơn gấp 1000 lần [2, 4].

Màng mỏng này là chất bán dẫn có độ dẫn điện tương đương với độ dẫn điện tốt nhất của poliaxetilen dạng bột màu đen. Những nghiên cứu tiếp sau đó cho thấy khi điều chế PA bằng các tác nhân oxi hoá khác nhau thì thu được sản phẩm có độ dẫn điện khác nhau. Hơn nữa nếu pha tạp PA với một số chất phụ gia thì độ dẫn điện của nó tăng lên hàng tỷ lần [4, 6]. Năm 1968, Dalt Ollio đã sử dụng phương pháp điện hoá để trùng hợp pyrol tạo ra polipyrol có khả năng dẫn điện.

Sau đó một loạt các polyme dẫn của các hợp chất dị vòng như polifuran, polithiophen và các hợp chất thơm như poliphenyl, poliantraxen cũng đã được tổng hợp và nghiên cứu. Các polyme chứa vòng thơm tuy có độ dẫn điện thấp hơn PA nhưng độ bền của chúng thì cao hơn so với PA [4]. Bằng cách thêm các nhóm thế vào vòng benzen, người ta thu được nhiều loại dẫn xuất của các polyme dẫn có thể tan được trong một số dung môi. Những nhóm 4 thế này ảnh hưởng đến màu sắc, tính chất lý, hoá, khả năng dẫn điện và do đó làm đa dạng các ứng dụng của polyme dẫn.

Thông qua các phản ứng làm biến đổi polyme ta có thể tạo ra rất nhiều polyme dẫn khác nhau. Thời gian gần đây người ta đã tổng hợp được một số polyme dẫn tương đối bền và có thể gia công làm vật liệu ứng dụng trong công nghiệp như một số polyme xuất phát từ một số hợp chất như polipirol, polithiophen, polianilin hay poliparaphenyl (Hình 1. NH N n S n n H n POLIPIROL POLITHIOPHEN POLIANILIN POLI (para- PHENYL) Hình 1. Một số polyme hữu cơ tiêu biểu 1.

Bản chất về tính dẫn điện của polyme dẫn Bản chất dòng điện là dòng chuyển dời có hướng của các hạt mang điện. Các vật liệu dẫn điện cơ bản đều có các electron có thể chuyển động tự do. Dưới tác dụng của dòng điện, chúng chuyển động có hướng. Ở trong polyme dẫn cũng vậy, để có khả năng dẫn điện thì chúng cần phải có một hệ electron pi liên hợp, khi đó có các electron có thể chuyển động linh hoạt.

Tính dẫn điện của polyme dẫn có thể được giải thích thông qua thuyết vùng giống như tính dẫn điện của kim loại [2, 4]. Theo thuyết MO về liên kết hoá học, khi các nguyên tử liên kết với nhau thì tất cả các orbital của từng nguyên tử được chuyển thành orbital phân tử. Năng lượng các orbital phân tử được tách thành hai mức là liên kết và phản liên kết. Vùng chứa các electron gây ra liên kết hoá học gọi là vùng hoá trị.

Vùng tự do có mức năng lượng cao hơn, phân bố phía trên vùng hoá trị gọi là vùng dẫn. Tuỳ thuộc vào cấu trúc và mạng tinh thể mà hai vùng đó có thể xen phủ vào nhau hoặc cách nhau một khoảng ΔE nào đó, khoảng này gọi là vùng cấm. Chất cách điện có ΔE lớn hơn 3,0 eV. Chất bán dẫn có ΔE vào khoảng 0,1 đến 3,0 eV.

Nếu tất cả các mức năng lượng trong một vùng đều đã bị electron chiếm hết thì các electron đó không thể chuyển động tự do trong vùng mà chỉ có thể chuyển động giới hạn trong phạm vi orbital phân tử của chúng. Kim loại dẫn điện là do electron ở vùng hoá trị dễ dàng chuyển động lên vùng dẫn. Khi đó các electron có thể chuyển động tự do trong toàn bộ khối kim 5 loại. Dưới tác dụng của điện trường chúng chuyển động theo phương của điện trường ngoài và phát sinh ra dòng điện.

Độ dẫn điện của một kim loại phụ thuộc vào mật độ electron trong kim loại và cấu trúc mạng tinh thể của kim loại. Khi tăng nhiệt độ, các ion dương ở các nút mạng dao động mạnh hơn làm cho sự chuyển động có hướng của các electron khó khăn hơn. Vì vậy tính dẫn điện của kim loại giảm khi nhiệt độ tăng [2, 4]. Đối với chất bán dẫn và polyme có hệ electron pi liên hợp thì vùng hoá trị và vùng dẫn không xen phủ với nhau mà cách nhau một mức ΔE vào khoảng 0,1 eV đến 3,0 eV.

Các electron trong vùng hoá trị đã ghép đôi nên không thể chuyển động tự do. Do sự chênh lệch năng lượng mà chúng cũng không thể tự chuyển động lên vùng dẫn. Tuy nhiên, khi được nhận năng lượng các electron có thể chuyển lên vùng dẫn như kim loại và khi đó polyme dẫn có thể dẫn điện. Khi nhiệt độ tăng, số lượng electron chuyển mức càng nhiều và từ đó khả năng dẫn điện càng cao.

Vì vậy khác với kim loại, độ dẫn điện của polyme dẫn tăng lên khi nhiệt độ tăng. Tính chất này tương tự như chất bán dẫn nên có thể vận dụng một số quy luật của chất bán dẫn đối với polyme dẫn. Tính dẫn điện của polyme dẫn phụ thuộc vào liên kết giữa các mắt xích trong phân tử và các tác nhân kích thích. Khi thêm chất oxi hoá, do quá trình doping hóa, độ dẫn điện của polyme dẫn tăng lên một cách đáng kể.

Tính chất này cũng không giống kim loại. Điều này được giải thích là chất oxi hoá đã làm biến dạng mạch liên hợp. Khi polyme mất đi (hoặc nhận thêm) một electron sẽ tạo thành cation gốc (hoặc anion gốc) được gọi là polaron. Nếu polaron mất đi một electron ta sẽ thu được cấu trúc mới gọi là bipolaron.

Các polyme đó có độ dẫn điện không phụ thuộc nhiều vào tác nhân kích thích bên ngoài. Đó là các loại polyme dẫn điện được cho thêm chất phụ gia. Polyme dẫn điện do chất phụ gia có độ dẫn điện lớn. Tuy nhiên, tính dẫn điện của chúng chủ yếu không xuất phát từ polyme nên không được nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực điện hữu cơ.

Polyme dẫn điện thuần là loại polyme trung tính. Khả năng dẫn điện tốt của polyme dẫn điện thuần là do năng lượng vùng cấm rất nhỏ, các electron rất dễ dàng 6 chuyển động từ vùng hoá trị này lên vùng dẫn. Loại polyme này có ưu điểm là tránh được quá trình kích thích phức tạp, khó điều khiển [5]. Cơ chế dẫn điện của polyme dẫn Hiện nay có hai thuyết dẫn điện được nhiều người công nhận: cơ chế dẫn điện của Roth và cơ chế dẫn điện của K.

Cơ chế của Roth Roth và cộng sự cho rằng quá trình chuyển điện tích vĩ mô trong các mạng polyme dẫn là sự tập hợp các cơ chế vận chuyển cục bộ. Đó là sự vận chuyển các dạng mang điện trên các mạch sợi có liên kết liên hợp và từ sợi này sang sợi khác. Nếu coi polyme là tập hợp các bó sợi thì còn có sự vận chuyển các dạng mang electron từ bó sợi này sang bó sợi khác [4]. Các quá trình vận chuyển này được minh họa ở Hình 1.

Cơ chế dẫn điện Roth của polyme dẫn [4] [AB] dẫn trong một chuỗi [BC] dẫn giữa các chuỗi [CD] dẫn giữa các sợi [AD] quá trình chuyển điện tích vĩ mô Khi điện tử chuyển từ điểm A đến điểm B trên cùng một chuỗi polyme, người ta nói điện tử được dẫn trong một chuỗi. Trong trường hợp điện tử dịch chuyển từ điểm B sang điểm C trong đó B và C thuộc hai chuỗi polyme khác nhau, ta nói điện tử di chuyển giữa các chuỗi. Khi điện tử chuyển từ A, B D ta nói điện tử chuyển giữa các sợi. Rolh đã giải thích cơ chế dẫn điện như sau: Điện tử chuyển động trong một chuỗi là do các liên kết  linh động chạy dọc theo chuỗi.

Do đó điện tử có tính linh động và có thể di chuyển dọc theo chuỗi. 7 Điện tử chuyển động qua lại giữa các chuỗi là do các sợi polyme tạo thành do các chuỗi xoắn lại với nhau, khi đó nguyên tử ở 2 chuỗi rất gần nhau thì các orbital của chúng có thể lai hoá với nhau và do đó điện tử có thể chuyển động từ chuỗi polyme nay sang chuỗi polyme khác thông qua obital lai hoá. Trường hợp điện tử chuyển động giữa các chuỗi được giải thích giống như trên. Cơ chế lan truyền pha của K.Aoki trong pha của polyme có những chuỗi có khả năng dẫn điện và những chuỗi không có khả năng dẫn điện hay nó tạo ra vùng dẫn và vùng không dẫn.

Sơ đồ cơ chế lan truyền pha K.AoKi [4] Khi chuỗi polyme ở trạng thái oxy hoá, khi đó thì nó dư các orbital trống do đó nó có thể nhận điện tử. Thông thường nó được phân bố ngẫu nhiên trong màng polyme. Dưới tác dụng của điện trường áp vào thì các chuỗi này có xu hướng duỗi ra theo một chiều nhất định. Khi điện thế áp vào đủ lớn thì xảy ra hiện tượng lan truyền pha, có nghĩa là các pha không dẫn trở nên dẫn điện [4].

Trong giai đoạn đầu thì chỉ những đoạn polyme ở trạng thái oxy hóa tiếp cận gần với bề mặt điện cực sẽ định vị lại và trở thành vùng dẫn cục bộ (a-b). Sau đó thì vùng dẫn này đóng vai trò như một điện cực mới để oxy hóa tiếp vùng không dẫn ở ngay phía trên nó. Nhờ đó thì vùng này lại trở thành vùng dẫn. Và cứ như thế theo thời gian thì vùng dẫn lan truyền đến mặt ngoài cùng của màng polyme.

Cơ chế này đề cập đến phản ứng chuyển điện tích tại bề mặt phân chia pha giữa vùng dẫn và vùng không dẫn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ hóa học với tiêu đề "Nghiên cứu tổng hợp vật liệu mới từ TCNQ và TCNQF4" tập trung vào việc phát triển các vật liệu tiên tiến dựa trên hợp chất hữu cơ TCNQ và TCNQF4. Nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong lĩnh vực hóa học vật liệu mà còn có tiềm năng ứng dụng cao trong các ngành công nghiệp như điện tử, năng lượng và công nghệ nano. Độc giả sẽ được tiếp cận với những phương pháp tổng hợp hiện đại, phân tích chi tiết về cấu trúc và tính chất của vật liệu, cũng như những đóng góp quan trọng cho khoa học và công nghệ.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu hóa học liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp phân tích hóa học trong đánh giá môi trường. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về ứng dụng hóa học trong bảo vệ tài nguyên nước. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam sẽ giúp bạn khám phá thêm về các phương pháp phân tích hóa học hiện đại và tác động của chúng đến sức khỏe con người.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan, từ đó mở rộng hiểu biết và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.