Chương I (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) thì nay quy định tại Chương XVI (các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế). Việc thay đổi tên chương không đơn thuần chỉ là sự thay đổi về tên gọi, mà nó có ý nghĩa quan trọng về nội dung và bản chất của các tội phạm trong chương này. Tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ, trước đây được quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985, thì nay được tách thành hai tội khác nhau, quy định tại Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả) và Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác). Trong quy định của khoản 2, Điều 98, Bộ luật hình sự năm 1985 thì vì tội làm séc giả được quy định chung với tội làm tiền giả nên hình phạt cao nhất của tội chung này là tử hình.
Nhưng sau khi được tách thành hai loại tội và được quy định chuyên biệt ở Điều 180 và Điều 181, Bộ luật hình sự năm 1999 thì bị cáo phạm tội làm séc giả không còn phải chịu khung hình phạt cao nhất là tử hình nữa. Quy định này của Bộ luật hình sự năm 1999 là hoàn toàn đúng đắn vì "xét về tính chất trong mối tương quan với các tội phạm khác trong Bộ luật hình sự thì đây là những tội phạm mà tính nguy hiểm cho xã hội của chúng không thể so sánh được với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội giết người hoặc một số tội phạm khác. Hơn nữa, suy cho cùng thì người phạm tội khi thực hiện những tội phạm này thường vì động cơ tư lợi vì mục đích xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chế độ sở hữu…(những quan hệ xã hội bị gây thiệt hại có hậu quả có thể khắc phục được) do đó không cần quy định hình phạt tử hình với tội này [8, tr. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sở dĩ Nhà nước phải sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1985 và ban hành quy định mới về tội phạm này do kỹ thuật lập pháp thể hiện tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 bộc lộ những hạn chế cần phải khắc phục: Thứ nhất, khách thể của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ là chế độ quản lý nhà nước về sản xuất, lưu thông tiền tệ.
Chế độ quản lý nhà nước về việc phát hành, tàng trữ, lưu thông, thu hồi và thay thế tiền tệ là bộ phận của chế độ quản lý nhà nước về kinh tế. Như vậy, khách thể loại của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ là trật tự quản lý kinh tế chứ không phải là an ninh quốc gia. Do vậy, việc quy định Điều 98 về tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ tại chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia là không phù hợp. Thứ hai, đối tượng của tội phạm được quy định ở tên tội danh chỉ là tiền gồm: tiền giả và tiền thật, nhưng đối tượng của tội phạm được liệt kê ở nội dung của điều luật lại bao gồm cả séc giả, phiếu công trái giả.
Như vậy, ở đây thiếu đi sự thống nhất giữa tên tội danh và nội dung của điều luật. Thứ ba, hành vi phá hủy tiền tệ là hành vi tự gây thiệt hại cho người có hành vi phá hủy. Do vậy, việc Bộ luật hình sự năm 1985 quy định hành vi tự gây thiệt hại cho bản thân mà không gây thiệt hại cho xã hội là tội phạm là không cần thiết. Bởi vì nếu phá hủy tiền tệ của người khác thì đã bị xử lý theo quy định tại Điều 138 hoặc Điều 160 Bộ luật hình sự năm 1985 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công dân.
Nếu chiếm đoạt trái phép tiền của người khác rồi mới có hành vi phá hủy tiền tệ thì bị xử lý về tội chiếm đoạt tương ứng (tham ô, trộm cắp, cướp, công nhiên chiếm đoạt…). Tiền cũng là một loại tài sản trong giao lưu dân sự. Vì vậy, trong phạm vi quyền của chủ sở hữu đối với một số tiền nhất định thuộc quyền sở hữu của mình thì hành vi phá hủy tiền tệ cũng chỉ phản ánh tính chất quyền định đoạt của chủ sở hữu với tài sản của mình mà thôi. Cho nên, nếu phá hủy tiền của mình (thuộc quyền sở hữu của mình) thì không thể là tội phạm.
21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ tư, cùng một đối tượng là tiền giả nhưng Bộ luật hình sự năm 1985 lại quy định hai tội là: tội làm tiền giả và tội tàng trữ, lưu hành tiền giả. Do vậy, một người thực hiện tội phạm có ba hành vi làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả thì khi xét xử tòa án phải xử họ hai tội và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự. Trong khi đó tại các điều 95, 96, 96a Bộ luật hình sự năm 1985 thì lại chỉ quy định là một tội với nhiều hành vi là chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép, chiếm đoạt một đối tượng. Điều này không đảm bảo sự công bằng trong chính sách hình sự xét trên phương diện hoạt động lập pháp.
Hơn nữa, khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 là từ năm năm đến mười lăm năm. Điều này có nghĩa là nếu một người thực hiện hai trong số ba hành vi nêu trên nếu không được áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật quy định thì tối thiểu cũng bị phạt tới mười năm tù (tổng hợp hai tội phạm mỗi tội năm năm tù). Trong khi thực tiễn xét xử các tội phạm quy định tại Điều 95, 96 Bộ luật hình sự năm 1985 cho thấy nếu chỉ thực hiện hai trong số năm hành vi đối với một đơn vị đối tượng thì cũng chỉ bị xử phạt tối đa là ba năm tù. Để khắc phục những hạn chế trên thì Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 được chuyển thành các Điều 180 và 181 Bộ luật hình sự năm 1999 và đặt ở chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Đồng thời Bộ luật hình sự năm 1999 không quy định tội phá hủy tiền tệ là tội phạm. Khi Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời năm 2009 thì Điều 180 và Điều 181 được giữ nguyên không có sự sửa đổi bổ sung nào. NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 1. Khái niệm séc, các giấy tờ có giá khác Séc (Cheque) là phương tiện thanh toán quen thuộc và phổ biến ở phần lớn các quốc gia trên thế giới.
Theo Công ước Geneve 1930, séc được định nghĩa là "mệnh lệnh trả tiền vô điệu kiện do một chủ tài khoản mở tại ngân hàng ra 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lệnh cho ngân hàng (nơi mở tài khoản) trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình mở ở ngân hàng này trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên tờ séc". Theo Từ điển Tiếng Việt thì "séc" là lệnh viết của chủ tài khoản để ngân hàng trích tài khoản chi trả cho người nào đó [30, tr. Theo Luật các Công cụ chuyển nhượng Việt Nam năm 2005 thì "Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản cung ứng của mình để thanh toán cho người thụ hưởng" [43]. Như vậy, một cách khách quan, séc là một lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản mở tại ngân hàng yêu cầu ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người hưởng lợi séc hoặc cho người cầm séc.
Séc được sử dụng thay thế tiền làm chức năng thanh toán và lưu thông. Séc bắt đầu được sử dụng phổ biến trên thế giới từ thế kỷ 18, khi mà hệ thống ngân hàng phát triển mạnh dưới dạng tờ lệnh chi tiền. Năm 1912, cùng với hối phiếu, séc cũng được đem ra thảo luận tại Hội nghị quốc tế ở Haag, nhưng do chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra làm gián đoạn sự phê chuẩn Luật séc quốc tế. Mãi tới năm 1931 Hội nghị quốc tế về séc tại Geneve đã được ba mươi nước thông qua luật thống nhất về séc quốc tế (Uniform Law on Cheque - ULC 1931).
Ở Việt Nam, do tình hình kinh tế chưa mấy phát triển nên tình trạng sử dụng séc chưa phổ biến như tiền. Tại các ngân hàng thương mại, hình thức thanh toán bằng séc chiếm tỉ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau, còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá nhân, giữa cá nhân với cá nhân rất hiếm khi xảy ra. Nguyên nhân của thực trạng này trước tiên là do Việt Nam có nền kinh tế chưa phát triển. Bên cạnh đó, chính sách pháp luật về séc chưa hoàn chỉnh cũng ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ giao dịch bằng séc trong quá trình thanh 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cụ thể, hiện nay ở nước ta chưa có quy định về hạn mức phải thanh toán bằng séc mà chỉ "động viên" dùng séc. Trong thanh toán nếu người mua và người bán có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi người bán đến ngân hàng để nộp séc ngân hàng sẽ ghi có trên tài khoản của người bán và ghi nợ trên tài khoản của người mua. Còn nếu người mua và người bán không cùng hệ thống ngân hàng thì buộc các ngân hàng thương mại phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước. Việc kiểm tra séc ở ngân hàng nhà nước chủ yếu vẫn là hoạt động thủ công cho nên nếu ngân hàng phát hành vài chục nghìn tờ séc mỗi ngày thì việc thanh toán bù trừ đương nhiên gặp nhiều khó khăn.
Về phía người bán rất lo ngại tài khoản của người mua không có tiền hoặc bị séc giả nên có tâm lý ngại giao dịch bằng séc.