Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Ninh đã đưa ra xét xử sơ thẩm và phúc thẩm 571 vụ án với 952 bị cáo liên quan đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Sức khỏe và tính mạng là quyền nhân thân thiêng liêng nhất của mỗi công dân, đã được ghi nhận trang trọng tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển kinh tế nhanh và vị thế cửa ngõ giao thương sôi động của vùng Đông Bắc, tình hình tội phạm xâm phạm thân thể tại tỉnh Quảng Ninh diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng liều lĩnh và manh động.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu tập trung vào việc giải quyết những xung đột, bất cập khi áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 vào thực tiễn xét xử. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về tội danh này, đánh giá toàn diện thực trạng xét xử 571 vụ án tại địa phương, từ đó chỉ ra những vướng mắc pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giảm thiểu tỷ lệ án bị hủy, sửa xuống dưới 1% mỗi năm, bảo đảm nguyên tắc công bằng, chuẩn xác trong công tác xét xử và hiện thực hóa mục tiêu cải cách tư pháp của Nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cấu thành tội phạm của khoa học luật hình sự Việt Nam, bao gồm 4 yếu tố cấu thành bắt buộc: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Khách thể của tội phạm là quyền được bảo vệ sức khỏe của con người đang sống. Về mặt khách quan, hành vi nguy hiểm cho xã hội tác động trực tiếp lên thân thể nạn nhân với hậu quả bắt buộc là tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc 1 trong 10 trường hợp luật định. Về mặt chủ quan, tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp, riêng trường hợp dẫn đến hậu quả chết người mang đặc trưng của loại lỗi hỗn hợp.

Bên cạnh đó, tác giả áp dụng lý thuyết lượng hình và cá thể hóa trách nhiệm hình sự để phân tích cơ cấu hình phạt. Khung lý thuyết cũng xem xét tiến trình lập pháp lịch sử từ Thông tư số 442 năm 1955, Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985, Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 cho đến Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 với 6 khoản phân hóa mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp là toàn bộ 571 hồ sơ vụ án hình sự với 952 bị cáo đã được xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Tòa án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2014 đến ngày 30/12/2018.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu toàn bộ hồi cứu, thu thập 100% các bản án hình sự về tội cố ý gây thương tích trong giai đoạn 5 năm khảo sát để bảo đảm tính đại diện tuyệt đối và tránh sai lệch thống kê.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp thống kê tư pháp và so sánh luật học là nhằm lượng hóa chính xác mức độ nghiêm khắc của hình phạt, phân loại tỷ lệ các nhóm hành vi, đồng thời đối chiếu sự tương thích giữa văn bản pháp luật hiện hành với thực tiễn xét xử. Quá trình nghiên cứu và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục để hoàn thành công trình khoa học vào năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh duy trì ở mức cao với trung bình 114 vụ án và hơn 190 bị cáo mỗi năm trong suốt giai đoạn 2014 - 2018. Đáng chú ý, tỷ lệ các vụ án có từ 2 bị cáo trở lên chiếm tới 54,6%, cho thấy tính chất đồng phạm và tụ tập băng nhóm diễn ra phổ biến.

Thứ hai, về tỷ lệ tổn thương cơ thể, các vụ án thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (thương tích từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% có tình tiết tăng nặng) chiếm tỷ trọng lớn nhất với trên 58% tổng số vụ xét xử. Các vụ án thuộc khoản 4 và khoản 5 có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết người hoặc thương tích trên 61% chiếm khoảng 12% tổng số vụ án.

Thứ ba, cơ cấu áp dụng hình phạt cho thấy hình phạt tù có thời hạn chiếm trên 75% tổng số bị cáo bị kết án, hình phạt cải tạo không giam giữ chiếm khoảng 15%, còn lại là áp dụng án treo và các biện pháp khác. Tuy nhiên, vẫn còn tỷ lệ nhất định khoảng 2,3% các bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp trên sửa hoặc hủy do nhận định chưa chính xác về tình tiết có tính chất côn đồ hoặc nhầm lẫn giữa tội giết người chưa đạt với cố ý gây thương tích.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phạm tội tăng cao bắt nguồn từ những mâu thuẫn xã hội bột phát trong sinh hoạt, cạnh tranh kinh doanh tại các khu vực mỏ than, cảng biển và khu công nghiệp. Các đối tượng phạm tội chủ yếu nằm trong độ tuổi thanh niên từ 18 đến 30 tuổi, chiếm khoảng 67% tổng số bị cáo.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại các tỉnh miền Trung hoặc đồng bằng Bắc Bộ, tỉnh Quảng Ninh có tỷ lệ tội phạm sử dụng hung khí nguy hiểm tự chế cao hơn khoảng 18%.

Để minh họa trực quan xu hướng này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện thông qua Biểu đồ 2.1 biểu diễn tương quan giữa tổng số vụ án hình sự và số vụ án cố ý gây thương tích trong 5 năm, kết hợp với Bảng 2.1 và Bảng 2.2 thể hiện chi tiết phân bổ mức hình phạt và tỷ lệ án bị hủy sửa. Những phát hiện này nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa các tiêu chí định tội danh của Thẩm phán nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẩn trương ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng cụ thể Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2021 - 2022. Nghị quyết cần định nghĩa rõ ràng các khái niệm mang tính định tính như hung khí nguy hiểm, axit nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm và tiêu chí phân định tính chất côn đồ nhằm loại bỏ hoàn toàn việc áp dụng tùy nghi tại Tòa án các địa phương.

Thứ hai, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh cần phối hợp với Viện kiểm sát và Công an tỉnh tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng phân định tội danh giữa tội Giết người (Điều 123) và tội Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (khoản 4 Điều 134). Mục tiêu đặt ra là kéo giảm tỷ lệ án sơ thẩm bị hủy hoặc sửa do lỗi chủ quan của Hội đồng xét xử xuống dưới mức 0,5% mỗi năm.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực của các tổ chức giám định pháp y trên địa bàn tỉnh, phấn đấu bảo đảm 100% kết luận giám định thương tích xác định chính xác tỷ lệ tổn hại sức khỏe và cơ chế hình thành vết thương, giảm tỷ lệ khiếu nại giám định xuống dưới 2%.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân và Công an tỉnh Quảng Ninh cần triển khai các đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát và thu hồi vũ khí thô sơ, hung khí tự chế tại các địa bàn trọng điểm như Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, hướng tới mục tiêu giảm 15% số vụ án cố ý gây thương tích có tổ chức trong vòng 3 năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Kiểm sát viên tại các cơ quan tiến hành tố tụng: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu thực chứng phong phú cùng 571 vụ án thực tế, giúp nâng cao kỹ năng đánh giá chứng cứ, xác định tình tiết định khung tăng nặng và quyết định mức hình phạt chuẩn xác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nhóm Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý: Nghiên cứu hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng luận cứ bào chữa, tranh tụng sắc bén về các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm, lỗi cố ý gián tiếp, quyền phòng vệ chính đáng hoặc trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

Nhóm Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự: Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ và phương pháp tiếp cận nghiên cứu án lệ cấp tỉnh.

Nhóm Cơ quan điều tra và lực lượng Công an cơ sở: Nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện về thủ đoạn phạm tội và nguyên nhân phát sinh hành vi bạo lực, phục vụ thiết thực cho công tác lập hồ sơ điều tra ban đầu và phòng ngừa tội phạm trên địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

Làm thế nào để phân biệt tội Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người và tội Giết người?

Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở ý thức chủ quan và vị trí tấn công. Tội giết người có lỗi cố ý tước đoạt tính mạng, tấn công quyết liệt vào các vùng trọng yếu như đầu, ngực. Trong khi đó, tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người chỉ có lỗi cố ý gây tổn hại sức khỏe nhưng vô ý đối với hậu quả tử vong, tấn công vào các vị trí ít nguy hiểm như tay, chân.

Hành vi gây thương tích có tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% bị xử lý hình sự trong trường hợp nào?

Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, người gây thương tích dưới 11% vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc 1 trong 10 tình tiết định khung cơ bản, ví dụ như dùng hung khí nguy hiểm, dùng axit, có tính chất côn đồ, phạm tội có tổ chức hoặc gây thương tích cho người đang thi hành công vụ.

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 có điểm mới nổi bật nào về tội danh này?

Điều 134 đã được cấu trúc lại thành 6 khoản với các khung hình phạt rõ ràng hơn. Điểm mới quan trọng nhất là bổ sung quy định xử lý hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 với mức phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm, đồng thời thay thế quy định dùng axit sunfuric thành dùng axit nguy hiểm để mở rộng phạm vi xử lý.

Tại sao hành vi chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích lại bị xử lý hình sự?

Quy định tại khoản 6 Điều 134 thể hiện tính răn đe sớm của luật hình sự. Người có hành vi chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, hóa chất độc hại hoặc thành lập băng nhóm nhằm gây thương tích cho người khác đã tạo ra nguy cơ đe dọa trực tiếp đến an toàn xã hội nên cần phải bị ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Tình hình xét xử tội danh này tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 có đặc điểm gì nổi bật?

Trong 5 năm, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã xét xử 571 vụ án với 952 bị cáo. Tội phạm có xu hướng tập hợp thành nhóm đông người, sử dụng hung khí tự chế tại các đô thị phát triển và trên 75% số bị cáo bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn nghiêm khắc.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Công trình đã phân tích sâu sắc thực tiễn xét xử 571 vụ án với 952 bị cáo tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018, chỉ ra các đặc điểm tội phạm học mang tính đặc thù của vùng kinh tế trọng điểm Đông Bắc.
  • Nghiên cứu đã làm rõ các sai sót thực tế dẫn đến việc bản án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy hoặc sửa, chủ yếu liên quan đến việc phân định ranh giới giữa tội giết người và tình tiết có tính chất côn đồ.
  • Tác giả đã đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện văn bản hướng dẫn luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đến nâng cao năng lực xét xử và quản lý an ninh địa phương.
  • Bước phát triển tiếp theo của nghiên cứu là tiếp tục đánh giá tác động của các bản án lệ mới và chuẩn hóa cẩm nang nghiệp vụ xét xử cho Tòa án các địa phương.

Quý độc giả, cán bộ tư pháp và học viên có thể khai thác các số liệu và giải pháp trong công trình này để phục vụ nghiên cứu học thuật cũng như ứng dụng vào hoạt động thực tiễn tố tụng hình sự.