Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI HIẾP DÂM 1. Những vấn đề lý luận về tội hiếp dâm 1. Khái niệm tội hiếp dâm Theo Đại từ điển tiếng Việt, hiếp dâm là “bắt phải để cho thỏa sự dâm dục”; từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam lại định nghĩa “hiếp dâm là hành vi dùng sức mạnh cưỡng bức người khác để thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình”; bản tổng kết của TANDTC số 329/HS2 ngày 11/5/1967 khái quát “hiếp dâm là hành động bắt buộc người phụ nữ phải giao cấu trái ý muốn của người đó”. BLHS Việt Nam không quy định trực tiếp khái niệm tội hiếp dâm, mà định nghĩa gián tiếp thông qua nội dung các điều luật.
Khái niệm tội hiếp dâm có sự thay đổi theo từng thời kỳ: Năm 1483 dưới triều vua Lê Thánh Tông, bộ “Quốc triều hình luật” được ban bố và thi hành. Đây là bộ luật điển hình, tiến bộ nhất trong lịch sử pháp luật phong kiến của Việt Nam. Bộ luật đã có những quy định hết sức cụ thể về tội hiếp dâm như: Người nào phạm các tội cưỡng ép, hiếp dâm, cưỡng bức đàn bà con gái thì bị xử tội lưu đày hay tội chết cùng với việc nộp tiền tạ cho cha mẹ người con gái (Điều 42); Nếu vì tội này mà làm người đàn bà bị thương hay bị chết thì kẻ phạm tội bị xử nặng hơn tội đánh bị thương (đánh chết) người thường một bậc, điền sản bị tịch thu trả cho bên bị thiệt hại (Điều 403); đặc biệt là việc xử phạt nghiêm khắc những kẻ có hành vi gian dâm với con gái dưới 12 tuổi, dù người con gái có thuận tình hay không thì vẫn xử như tội hiếp dâm vì ở tuổi này con gái chưa trưởng thành, dễ bị lừa gạt khống chế. Tiếp đến là bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của 8 TANDC.
Theo văn bản này thì “hiếp dâm là hành động bắt buộc người phụ nữ phải chịu sự giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý muốn của người đó bằng cách dùng bạo lực về thể chất, hay là uy hiếp về tinh thần, hay là lợi dụng hoặc gây ra tình trạng không thể tự vệ hoặc biểu lộ ý chí của người đó”. Đến thông tư số 03-BTP/TT tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời quy định các tội phạm và hình phạt, hiếp dâm được định nghĩa “là hành vi dùng bạo lực hoặc hành vi uy hiếp về tinh thần để giao cấu của người phụ nữ, không có sự thỏa thuận của người đó; hoặc là hành vi lợi dụng lúc người phụ nữ đang ngủ say, đang bị mê sảng, hoặc có bệnh thần kinh để giao cấu với họ; hoặc là hành vi lợi dụng sự non nớt, sự chưa hiểu biết của vị thành niên dưới 13 tuổi để giao cấu với chúng”. Theo quy định của Điều 112 BLHS năm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1989, 1991, 1992, 1997) thì tội hiếp dâm là hành vi “dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu với người khác trái ý muốn của họ”. Theo quy định của khoản 1 Điều 111 BLHS năm 1999 thì “tội hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ”.
Có thể thấy, trong tất cả các định nghĩa tội hiếp dâm, yếu tố mấu chốt đó là “giao cấu trái ý muốn” của nạn nhân. Khái niệm giao cấu được định nghĩa một lần duy nhất trong Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử số 329- HS2 ngày 11/5/1967. Theo đó, giao cấu được hiểu là “sự cọ sát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức định ấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không” [2, tr2]. Đây cũng chính là quan niệm về giao cấu truyền thống, được sử dụng cho khái niệm “giao cấu” trong 9 quy định tại Điều 111 BLHS năm 1999 và áp dụng thống nhất trong thực tiễn xét xử tội hiếp dâm.
Theo Điều 12 và Điều 141 BLHS năm 2015 thì “tội hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân, được quy định trong BLHS, do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quan hệ quan hệ nhân thân, nhân phẩm, danh dự của con người”. Có thể thấy cách định nghĩa tội hiếp dâm theo BLHS năm 2015 đã khắc phục được những hạn chế trong các quy định trước đây, khái niệm theo quy định tại Khoản 1 Điều 141 là tương đối đầy đủ, rõ ràng, phù hợp với lí luận và thực tiễn tình hình tội phạm xâm hại tình dục nói chung và tội phạm hiếp dâm nói riêng. Để hiểu rõ hơn về tội phạm này cần phân tích những dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm trên cơ sở phân tích và so sánh các quy định của BLHS 1999 với BLHS 2015. Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm Một cấu thành tội phạm được hợp thành bởi bốn yếu tố cơ bản: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan.
Khách thể của tội hiếp dâm Theo quy định của BLHS năm 1999, tội hiếp dâm được xếp vào nhóm các tội xâm phạm quan hệ nhân thân (nhân phẩm, danh dự) của con người. “Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự là những hành vi cố ý xâm phạm đến quyền được tôn trọng về nhân phẩm, danh dự” [ 45, tr. Hiện nay có nhiều nghiên cứu và ý kiến về vấn đề khách thể của tội hiếp dâm, như “khách thể của tội hiếp dâm là quan hệ nhân thân mà nội dung là 10 quyền tự do tình dục của con người. Đối tượng tác động của tội phạm là phụ nữ”.TS Cao Thị Oanh) [31, tr.
Theo đó, theo quan niệm truyền thống và thực tiễn áp dụng pháp luật thì khách thể của tội hiếp dâm chính là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ. Điều 20 Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 quy định rõ: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”. Vì vậy, quyền bất khả xâm phạm về tình dục là quyền được bảo vệ và ghi nhận bởi pháp luật, mà bất cứ ai, có hành vi xâm phạm đến quyền này, đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. So sánh với BLHS 2015 dễ dàng nhận thấy có sự thay đổi về khách thể của tội hiếp dâm.
Khoản 1 Điều 141 Bộ luật này quy định : tội hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân”. Như vậy khách thể của tội hiếp dâm theo quy định mới này là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của con người mà đối tượng tác động là cả nam giới và nữ giới. Nam giới cũng có thể là nạn nhân của tội hiếp dâm và kể cả khi cùng giới giao cấu với nhau cũng có thể bị coi là tội phạm. Sự thay đổi này thể hiện một dấu hiệu tích cực trong tình hình xã hội hiện nay khi mà không chỉ phụ nữ mà cả nam giới cũng là đối tượng có thể bị xâm phạm về tình dục và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của nam giới cũng cần được bảo vệ.
Chính vì vậy, cần có sự thay đổi trong quan niệm về khách thể của tội hiếp dâm, để phù hợp với tình hình xã hội và diễn biến ngày càng phức tạp của tội phạm. Bởi lẽ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp kéo theo việc xuất hiện ngày càng nhiều hình thức quan hệ tình dục, quan hệ đồng giới,… Việc trước kia pháp luật bỏ ngỏ vấn đề này đã gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động xét xử. Mặt khách quan của tội hiếp dâm Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm các dấu hiệu biểu hiện tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan. Mặt khách quan của tội phạm bao gồm bốn nhóm dấu hiệu, đó là: Hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội; những dấu hiệu khác biểu hiện sự thực hiện hành vi và gắn liền với hành vi (các dấu hiệu không bắt buộc như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội,…).
Trong đó, hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu trọng tâm, dấu hiệu bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm cơ bản. - Dấu hiệu thứ nhất: Hành vi khách quan. Điều 111 BLHS 1999 mô tả hành vi hiếp dâm khách quan đầy đủ và cụ thể giúp cho việc áp dụng dễ dàng, thuận lợi hơn. Người phạm tội có thể có một trong các thủ đoạn sau: + Hành vi dùng vũ lực; + Hành vi đe dọa dùng vũ lực; + Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân; + Thủ đoạn khác.
Hành vi dùng vũ lực: Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân, mục đích chủ yếu là làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân để người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu, như: xô ngã, vật lộn, giữ chân tay, bịt mồm, trói, bóp cổ, đánh đấm nạn nhân,…. Hành vi đe dọa dùng vũ lực: “Hành vi dùng lời nói hoặc hành động hoặc cả hai dọa sẽ dùng vũ lực nếu chống lại hành vi giao cấu. Hành vi này gây uy hiếp tinh thần người khác, khống chế ý chí làm nạn nhân sợ hãi nên buộc phải giao cấu trái ý muốn. Vũ lực đe dọa nhằm vào chính nạn nhân nhưng cũng có thể là những người có quan hệ thân thuộc với nạn nhân.
Bằng hành 12 vi đe dọa người phạm tội đã khiến nạn nhân phải giao cấu trái ý muốn của họ” [45, Tr15].