Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƢỚP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm tội cƣớp tài sản 1. Khái niệm xâm phạm sở hữu, xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Sở hữu là khái niệm rộng đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong phạm vi luận văn chúng tôi nghiên cứu sở hữu là quan hệ kinh tế được pháp luật điều chỉnh tạo nên ba quyền: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Để đảm bảo chủ sở hữu thực hiện những quyền này, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận và được cụ thể hóa trong Bộ luật dân sự năm 2005.
Quyền sở hữu đối với tài sản là quyền quan trọng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Như vậy quyền sở hữu về tài sản bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản hợp pháp được pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng ghi nhận và bảo vệ. Xâm phạm được hiểu là động đến chủ quyền của người khác. Xâm phạm sở hữu có thể là chiếm đoạt tài sản hoặc hủy hoại làm mất đi giá trị của tài sản đối với chủ sở hữu.
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm: “Xâm phạm sở hữu là hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc hủy hoại làm mất đi giá trị hoặc làm giảm giá trị của tài sản đối với chủ sở hữu hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ”. Còn “các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan tổ chức và của công dân” [34, tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan hệ sở hữu là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, còn tài sản là đối tượng tác động của tội phạm. Người phạm tội mong muốn có được tài sản và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp được gọi là hành vi chiếm đoạt.
Khái niệm “chiếm đoạt tài sản” lần đầu tiên được ghi nhật trong 2 Pháp lệnh ban hành ngày 21/10/1970 đó là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân. Đến năm 1985 BLHS đầu tiên ra đời quy định các tội xâm phạm sở hữu Xã hội chủ nghĩa tại Chương IV và các tội xâm phạm sở hữu của công dân tại Chương VI. Đến BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các tội xâm phạm sở hữu tại Chương XIV. Trong khoa học pháp lý hiện nay, nói về khái niệm chiếm đoạt có nhiều quan điểm được đưa ra như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng “chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình” [40, tr.s Thái Chí Bình (Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang) cho rằng: “chiếm đoạt là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình.
Chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội” [3]. Còn Võ Khánh Vinh cho rằng: “chiếm đoạt tài sản (XHCN hoặc của công dân) và biến nó thành tài sản của mình hoặc chuyển cho người khác, được thực hiện bằng những hình thức quy định trong luật với mục đích vụ lợi” [25 tr. Theo Đinh Văn Quế thì “chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái phép tài sản thuộc sở hữu của người khác thành sở hữu của mình” [34, tr.s Đặng Quang Dũng đưa ra khái niệm “Xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là làm mất đi quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu trên thực tế do có sự chuyển dịch bất hợp pháp tài sản thuộc quyền sở hữu của họ” [12, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt là “chiếm của người khác làm của mình, bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế” [24].
Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó. Quá trình này xét về mặt pháp lí không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu. Qua nghiên cứu vấn đề xâm phạm sở hữu và dấu hiệu chiếm đoạt, chúng tôi đưa ra khái niệm về xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như sau: “Xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là hành vi dịch chuyển bất hợp pháp tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ tài sản thành sở hữu của mình”. Xét về mặt tội phạm, Bộ luật hình sự năm 1999 qui định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” có 13 tội được quy định từ Điều 133 đến Điều 145.
Căn cứ vào tính chất của mục đích phạm tội, khoa học luật hình sự chia các tội xâm phạm sở hữu thành: (1) nhóm các tội có mục đích tư lợi (bao gồm 10 tội từ Điều 133 đến Điều 142 BLHS) và (2) nhóm các tội không có mục đích tư lợi (từ Điều 143 đến Điều 145 BLHS). Đối với nhóm các tội có mục đích tư lợi, dựa vào dấu hiệu chiếm đoạt, chúng lại được chia nhỏ ra thành (a) nhóm có tính chiếm đoạt (bao gồm 8 tội từ Điều 133 đến Điều 140) và (b) nhóm không có tính chiếm đoạt (gồm các Điều 141, 142) [3]. Tùy thuộc vào đặc trưng của từng tội do BLHS quy định mà dấu hiệu chiếm đoạt trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là khác nhau. Nhưng chúng chỉ biểu hiện dưới 02 dấu hiệu nhất định hoặc là mục đích chiếm đoạt hoặc là hành vi chiếm đoạt: Thứ nhất, về mục đích chiếm đoạt: là yếu tố bắt buộc trong cấu thành các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Tuy nhiên, biểu hiện mục đích chiếm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạt của các tội này không phải đều giống nhau. Tùy thuộc vào từng tội cụ thể mà mục đích phạm tội xuất hiện trước khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội, trong khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Thứ hai, về hành vi chiếm đoạt: là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội từ Điều 136 đến Điều 139 BLHS. Tuy nhiên, hành vi chiếm đoạt, xét về mặt khách quan là hành vi làm cho chủ tài sản “mất hẳn khả năng” thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt “có thể thực hiện được” việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó.
Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó. Quá trình này xét về mặt pháp lí không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu. Hành vi chiếm đoạt với nội dung là quá trình như vậy được thể hiện ở những dạng hành vi cụ thể khác nhau, tuỳ thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người chiếm đoạt và tài sản chiếm đoạt cũng như vào hình thức chiếm đoạt cụ thể. Để phân biệt tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt với vi phạm pháp luật khác, tiêu chí đầu tiên là xác định có hay không dấu hiệu chiếm đoạt và định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt.
Vấn đề này, BLHS năm 1999 đã cơ bản đáp ứng được so với BLHS 1985. Khái niệm tội cướp tài sản “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự (tức là hành vi bị pháp luật hình sự cấm), do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)” [7, tr. Như đã phân tích ở trên thì tội cướp tài sản thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Nhưng hiện nay có nhiều quan điểm về khái niệm tội cướp tài sản trong khoa học pháp lý hình sự.s Trần Đình Hải thì: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ nhân thân thông qua việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người bị hại và xâm hại đến quyền sở hữu tài sản [18, tr.s Đinh Văn Quế có quan điểm “Cướp tài sản là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể tự vệ được nhằm chiếm đoạt tài sản” [34, tr.
Tác giả Nông Thị Liên Hương đưa ra quan điểm của mình “Tội cướp tài sản là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” [21, tr. Còn theo pháp luật hình sự Liên bang Nga thì “Tội cướp là dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe để tấn công nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác” [41], còn trong luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định “Người nào dùng vũ lực, cưỡng ép hoặc thủ đoạn khác để cướp tài sản công hoặc tư…” [16]. Nhìn chung tất cả các quan điểm trên và pháp luật hình sự một số nước trên thế giới thì có thể thấy một số dấu hiệu chung của tội cướp tài sản, đó là: hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc thủ đoạn khác làm cho người bị hại rơi vào tình trạng không chống cự được và mục đích là chiếm đoạt tài sản.