Luận văn thạc sĩ về tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam tại TP.HCM

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls tội cướp giật tài sản theo luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu địa bàn thành phố hồ chí, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

106
10
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

1.2. TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO ĐIỀU 136 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

1.2.1. Khái niệm Tội cướp giật tài sản

1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý của Tội cướp giật tài sản

1.2.3. Đường lối xử lý đối với Tội cướp giật tài sản

1.3. PHÂN BIỆT TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI KHÁC

1.3.1. Phân biệt Tội cướp giật tài sản với Tội cướp tài sản

1.3.2. Phân biệt Tội cướp giật tài sản với Tội cưỡng đoạt tài sản

1.3.3. Phân biệt Tội cướp giật tài sản với Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1.3.4. Phân biệt Tội cướp giật tài sản với Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ 2008 ĐẾN 2012

2.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.2. THỰC TIỄN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ 2008 ĐẾN 2012

2.2.1. Đánh giá chung về tình hình tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ 2008 đến 2012

2.2.2. Phân tích, đánh giá tình hình Tội cướp giật tài sản so sánh với tổng số tội phạm nói chung và các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói riêng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

2.2.3. Tình hình điều tra, truy tố, xét xử Tội cướp giật tài sản ở Thành phố Hồ Chí Minh

2.3. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ

2.3.1. Những tồn tại, hạn chế trong giải quyết các vụ án về Tội cướp giật tài sản

2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong giải quyết các vụ án về Tội cướp giật tài sản

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG

3.1. NHU CẦU TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG

3.1.1. Về phương diện chính trị - xã hội

3.1.2. Về phương diện lập pháp hình sự

3.1.3. Về phương diện lý luận - thực tiễn

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

3.3.1. Giải pháp tăng cường giải thích và hướng dẫn pháp luật hình sự

3.3.2. Giải pháp tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng

3.3.3. Giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam

Tội cướp giật tài sản là một trong những tội phạm phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt là tại TP.HCM. Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, hành vi này được định nghĩa là việc chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai và bất ngờ. Tội cướp giật không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà còn ảnh hưởng đến tâm lý của người dân, làm giảm lòng tin vào sự bảo vệ của pháp luật. Việc nghiên cứu về tội cướp giật tài sản là cần thiết để hiểu rõ hơn về thực trạng và tìm ra các giải pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn loại tội phạm này.

1.1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản

Tội cướp giật tài sản được xác định qua các dấu hiệu pháp lý như hành vi chiếm đoạt tài sản, tính chất công khai và bất ngờ. Theo Điều 136, hành vi này không chỉ đơn thuần là trộm cắp mà còn bao gồm cả việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa để chiếm đoạt tài sản. Điều này tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa tội cướp giật và các tội phạm xâm phạm sở hữu khác.

1.2. Lịch sử phát triển quy định về tội cướp giật tài sản

Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam đã ghi nhận sự phát triển của quy định về tội cướp giật tài sản từ những năm 1945 đến nay. Các văn bản pháp luật đã dần hoàn thiện, từ các sắc lệnh ban đầu đến Bộ luật Hình sự năm 1999, phản ánh sự thay đổi trong chính sách hình sự của Nhà nước đối với tội phạm xâm phạm sở hữu.

II. Thực trạng tội cướp giật tài sản tại TP

Tình hình tội cướp giật tài sản tại TP.HCM đang diễn biến phức tạp. Theo thống kê, số vụ cướp giật tài sản gia tăng trong những năm gần đây, đặc biệt là ở các khu vực đông dân cư và nơi có nhiều hoạt động thương mại. Các cơ quan chức năng đã có nhiều nỗ lực trong việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án này, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc ngăn chặn và xử lý hiệu quả.

2.1. Tình hình tội phạm cướp giật tài sản từ 2008 đến 2012

Trong giai đoạn từ 2008 đến 2012, TP.HCM ghi nhận một số lượng lớn các vụ cướp giật tài sản. Các số liệu cho thấy, tội cướp giật chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các vụ án hình sự, cho thấy sự gia tăng của loại tội phạm này trong bối cảnh kinh tế phát triển.

2.2. Đánh giá hiệu quả điều tra và xử lý tội cướp giật tài sản

Mặc dù các cơ quan chức năng đã có nhiều nỗ lực trong việc điều tra và xử lý các vụ cướp giật tài sản, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Việc thiếu hụt nguồn lực, cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến việc nhiều vụ án chưa được giải quyết kịp thời.

III. Những thách thức trong việc phòng chống tội cướp giật tài sản

Việc phòng chống tội cướp giật tài sản tại TP.HCM gặp nhiều thách thức. Một trong những nguyên nhân chính là sự gia tăng của các băng nhóm tội phạm, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và phương tiện giao thông. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân cũng còn hạn chế.

3.1. Nguyên nhân gia tăng tội cướp giật tài sản

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng của tội cướp giật tài sản bao gồm tình hình kinh tế khó khăn, sự gia tăng dân số và mật độ dân cư tại các khu vực đô thị. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cũng góp phần làm gia tăng tình trạng này.

3.2. Hạn chế trong công tác điều tra và xử lý tội phạm

Công tác điều tra và xử lý tội cướp giật tài sản còn gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt nguồn lực, sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng. Điều này dẫn đến việc nhiều vụ án không được giải quyết kịp thời, làm giảm hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tội cướp giật tài sản

Để nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội cướp giật tài sản, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân là rất cần thiết. Bên cạnh đó, cần cải thiện công tác điều tra, xử lý tội phạm và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

4.1. Tăng cường tuyên truyền và giáo dục pháp luật

Việc tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho người dân về tội cướp giật tài sản cần được thực hiện thường xuyên và liên tục. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người dân mà còn góp phần giảm thiểu tình trạng tội phạm.

4.2. Cải thiện công tác điều tra và xử lý tội phạm

Cần có những biện pháp cải thiện công tác điều tra và xử lý tội phạm, bao gồm việc tăng cường nguồn lực cho các cơ quan chức năng, đào tạo cán bộ và nâng cao năng lực chuyên môn trong việc xử lý các vụ án cướp giật tài sản.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong phòng chống tội cướp giật tài sản

Tội cướp giật tài sản là một vấn đề nghiêm trọng tại TP.HCM, đòi hỏi sự quan tâm và hành động quyết liệt từ các cơ quan chức năng. Việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp hiệu quả là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người dân và đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

5.1. Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về tội cướp giật tài sản

Cần xem xét và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến tội cướp giật tài sản, nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc xử lý các vụ án. Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng

Việc tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng trong công tác phòng chống tội cướp giật tài sản là rất cần thiết. Sự phối hợp chặt chẽ sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án liên quan đến tội phạm này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls tội cướp giật tài sản theo luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu địa bàn thành phố hồ chí minh luận án ts luật 60 38 40

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƢỚP GIẬT TÀI SẢN 1. Giai đoạn từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 Cuộc Cách mạng Tháng tám 1945 đã giành lại chủ quyền cho đất nƣớc, tự do cho nhân dân và lập ra nền Dân chủ Cộng hòa. Sau thắng lợi đó, Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự (PLHS) để bảo vệ thành quả cách mạng.

Một trong những nội dung đƣợc đặc biệt coi trọng là chế độ sở hữu – nền tảng kinh tế xã hội của đất nƣớc. Các quy định của pháp luật đã phản ánh tƣơng đối rõ nét các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng nhƣ kỹ thuật lập pháp của nƣớc ta trong một giai đoạn lịch sử, đặc biệt thể hiện rõ chính sách hình sự (CSHS) của Nhà nƣớc ta đối với các hành vi xâm phạm sở hữu. Tại Điều 12 – Hiến pháp 1946 đã ghi nhận: “Quyền tƣ hữu tài sản của công dân Việt Nam đƣợc bảo đảm”. Việc quy định nhƣ vậy, đã tạo nên cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, là điều kiện ổn định sinh hoạt vật chất của mỗi con ngƣời.

Bên cạnh đó, Nhà nƣớc còn ban hành hàng loạt các Sắc lệnh nhƣ: Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 [45] quy định các hành vi phá hoại công sản, Thông tƣ 442/TTg ngày 19/02/1955 hƣớng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội xâm phạm sở hữu nhƣ trộm cắp, cƣớp của, lừa đảo, bội tín… Tuy nhiên, ở đó, Tội cƣớp giật tài sản chƣa đƣợc quy định thành một điều luật cụ thể. Đến năm 1959, sau khi nƣớc ta cơ bản hoàn thành công cuộc cải tạo Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) thì việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho Chủ nghĩa Xã hội là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Bởi vậy, việc bảo vệ sở hữu nhà nƣớc, sở hữu tập thể là vấn đề cấp bách, đƣợc đặc biệt coi trọng. Điều 140 – Hiến pháp 1959 ghi nhận: “Tài sản công cộng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thiêng liêng không thể xâm phạm.

Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng”. Ngày 21/10/1970, Nhà nƣớc ta đã thông qua hai văn bản pháp luật mới là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Cụ thể tại Điều 5 của Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, Tội cƣớp giật tài sản XHCN đƣợc quy định: “Kẻ nào cƣớp giật tài sản XHCN thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm”. Tại Điều 4 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân có ghi: “Kẻ nào cƣớp giật tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm”.

Nội dung của hai Pháp lệnh đã thể hiện đầy đủ và toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với các Tội phạm về sở hữu nói chung và Tội cƣớp giật tài sản nói riêng. Điều đó còn thể hiện trình độ kỹ thuật lập pháp của Nhà nƣớc ta nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế đáp ứng việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm trong tình hình mới. Thời kỳ này, Tội cƣớp giật tài sản XHCN và Tội cƣớp giật tài sản riêng của công dân đã đƣợc cụ thể hóa thành hai điều luật riêng nằm trong hai pháp lệnh khác nhau. Ngoài hai Pháp lệnh trên, Ban bí thƣ Trung ƣơng Đảng đã ra Chỉ thị số 185 ngày 09/12/1970 về tăng cƣờng bảo vệ tài sản XHCN nhằm chỉ đạo thi hành nội dung hai Pháp lệnh trong thực tế.

Ngày 16/03/1973, Thông tƣ liên bộ của TANDTC – VKSNDTC – BCA hƣớng dẫn trong đó, Tội cƣớp giật tài sản đƣợc hiểu là: “Trƣờng hợp kẻ phạm tội lợi dụng sơ hở vƣớng mắc của ngƣời giữ tài sản, bất thần giằng lấy tài sản trên tay ngƣời giữ tài sản”. Với hƣớng dẫn lợi dụng sự “vƣớng mắc” còn có thể hiểu bao gồm cả hành vi mà sau này đƣợc coi là Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Hƣớng dẫn này đã khái quát Tội cƣớp giật tài sản với hành vi khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng và công khai. Sau ngày 30/4/1975, Sắc Luật số 03/SL ngày 15/03/1976 quy định Tội phạm và Hình phạt.

Trong văn bản này, Tội cƣớp giật tài sản mặc dù không đƣợc quy định cụ thể, chi tiết trong một điều luật riêng nhƣng cũng đã đƣợc quy định 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung trong Điều 4 cùng với các tội xâm phạm sở hữu khác nhau nhƣ: trộm cắp, tham ô, lừa đảo… Nhƣ vậy, cùng với hai pháp lệnh trên, Sắc Luật số 03 đƣợc áp dụng chung trong cả nƣớc sau khi nƣớc ta thống nhất, để đấu tranh chống các tội phạm sở hữu. Các quy định bƣớc đầu về Tội cƣớp giật tài sản trong các văn bản đó là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm này. Giai đoạn từ sau khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999 Trong giai đoạn này, Tội cƣớp giật tài sản đƣợc quy định thành hai tội riêng biệt căn cứ vào đối tƣợng bị xâm hại là tài sản thuộc sở hữu XHCN hay tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân. Cụ thể, Tội cƣớp giật tài sản đã đƣợc quy định trong hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội.

Đến lần pháp điển hóa BLHS lần thứ nhất, BLHS của nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1985 đã đƣợc Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 trên toàn quốc cũng quy định về Tội cƣớp giật tài sản nhƣ sau: Điều 131 quy định: 1. Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản Xã hội Chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 129, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a. Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp.

Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát. Chiếm đoạt tài sản có giá trị hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác. Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 154 quy định: 1. Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của người 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 151, thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm: a. Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp.

Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát. Chiếm đoạt tài sản có giá trị hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác. Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi lăm năm.

- Về hình phạt: Tƣ tƣởng chỉ đạo giai đoạn này là chú trọng bảo vệ tài sản chung (tài sản XHCN) hơn tài sản riêng (tài sản tƣ nhân). Trƣớc khi có BLHS năm 1985, các hình phạt không đƣợc quy định tập trung, sắp xếp theo một trật tự nhất định và cũng không có tiêu chí để đánh giá, áp dụng thống nhất. Đến khi BLHS năm 1985 ra đời, một hệ thống hình phạt và tiêu chí áp dụng nó tƣơng đối đầy đủ mới đƣợc quy định tập trung, thống nhất. Điều này đã thể hiện đƣợc mục đích của Nhà nƣớc ta không chỉ dùng hình phạt về hình sự để trừng trị, mà còn nhằm giáo dục, cải tạo và răn đe ngƣời khác.

So với hai Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân thì BLHS năm 1985 có mức phạt tối đa cao hơn. Ở BLHS năm 1985, mức phạt tối đa là 15 năm với Tội cƣớp giật tài sản riêng công dân và 20 năm với Tội cƣớp giật tài sản XHCN. Mức hình phạt tối thiểu là một năm với Tội cƣớp giật tài sản XHCN và 3 tháng với Tội cƣớp giật tài sản riêng của công dân là tƣơng đƣơng với hai Pháp lệnh năm 1970. Điều này thể hiện đƣờng lối xử lý nghiêm khắc hơn của Nhà nƣớc ta với Tội cƣớp giật tài sản so với giai đoạn trƣớc đây.

Thay vì có 2 khung hình phạt ở hai Pháp lệnh năm 1970, BLHS năm 1985 quy định 3 khung hình phạt và đối với các tình tiết khung tăng nặng, thì tại hai điều 131 và 154 còn quy định thêm hai tình tiết mới là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác”. Khung 3 quy định chung các trƣờng hợp phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với Tội cƣớp giật tài sản ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 2 và 3 Điều 142; Khoản 2,3 Điều 163 BLHS năm 1985 bao gồm hình phạt quản chế hoặc cấm cƣ trú từ một năm đến năm năm hay bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Cùng với sự ra đời của BLHS năm 1985, các quy định về tình tiết tăng nặng (Điều 39), tình tiết giảm nhẹ (Điều 38) cũng lần đầu tiên đƣợc quy định tập trung và tƣơng đối đầy đủ làm tiêu chí khi quyết định hình phạt.

Đây là một cố gắng lớn của nhà làm luật nƣớc ta để tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật hình sự, tránh sự tùy tiện hoặc áp đặt ý chí chủ quan của ngƣời Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân khi xét xử. Hầu hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong hai Pháp lệnh năm 1970 đã đƣợc giữ lại và bổ sung thêm rất nhiều tình tiết mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam tại TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý liên quan đến tội cướp giật tài sản, một vấn đề đang ngày càng trở nên nghiêm trọng tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam mà còn xem xét thực tiễn áp dụng và những thách thức trong việc xử lý loại tội phạm này. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức mà pháp luật hiện hành đối phó với tội cướp giật, từ đó nâng cao nhận thức và hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong bối cảnh pháp lý.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội theo bộ luật hình sự việt nam năm 2015 trên cơ sở thực tiễn xét xử tại tỉnh đắk lắk, nơi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trong xử lý tội phạm, hay Luận văn thạc sĩ luật học các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc nhân thân người phạm tội theo bộ luật hình sự việt nam năm 2015 trên cơ sở thực tiễn xét xử tại tỉnh đắk lắk, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố làm tăng mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học nhân thân người phạm tội giết người trên địa bàn thành phố hà nội cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về nhân thân của người phạm tội, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phạm tội.