Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Khái niệm thừa cân - béo phì. Phan loai thita cân - béo phì ở người trưởng thành.
Tình hình thừa cân - béo phì. Các yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì. Tác hại của thừa cân - béo phì.-seeerserrteeserieerrerridrrrdrrerdiedtrrirrrne 11 Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU.
Đối tượng nghiên CỨu. Địa điểm và thời gian nghiên CỨu. Phương pháp nghiên cứu. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫiu.
Các giả thuyết nghiên cứu. Phương phấp thu thập số liệu. Phuong phap phan tich SO VG. Hain ché cha mghiem CU.
Đạo đức trong nghiên COU.cecsssecsecssessecesssnseseesnneesssnneessnsssennnenennyeeecennnasaeennannnessntte 18 Chương 3. KET Gl NGHIEN COU .1, Thực trạng thừa cân - béo phì. Một số yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì.------crroreeseerrrrrrrrree 24 Chương 4. BẢN LUẬN: dao 0i,20202230,L82161 62,0 e mg, 40 coi.
Về thực trạng thừa cân béo phì. Một số yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì.koeinosieul,e 49 Chương 5. e«e--—--—4000226x<-r>xiSec4802/46 Chương 6. me 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC TOM TAT NGHIEN CUU Trong những năm gần đây, thừa cân và béo phì đang tăng lên ở mức báo động trên khắp thế giới ở cả người lớn và trẻ em.
Hiện nay, trên thế giới có trên | ty người trưởng thành thừa cân và ít nhất 300 triệu người trong số đó béo phì. Ở Việt Nam, kết quả Điều tra y tế quốc gia năm 2001 - 2002 tỷ lệ béo phì ở người từ l6 tuổi trở lên là 11,8%, tỷ lệ béo phì ở thành thị (20,5%) cao gấp hơn 2 lần so với nông thôn (8,8%) và tỷ lệ này tăng cao ở tuổi trung niên. Béo phì đang gia tăng ở khu vực nội thành các thành phố. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự hình thành các khu công nghiệp và mở rộng các khu đô thị mới đã làm thay đổi môi trường và lối sống của người dân ở các vùng ngoại ô lân cận trong đó có huyện Gia Lâm.
Để tìm hiểu những tác động của môi trường và lối sống đến tình trạng dinh dưỡng của người dân ở đây chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và mội số yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì ở người 40 đến 49 tuổi tại 2 thị trấn, huyện Gia Lam, Ha Noi năm 2005”. Với mục tiêu xác định tỷ lệ thừa cân - béo phì và một SỐ yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì ở người 40 đến 49 tuổi tại địa phương này. Đối tượng nghiên cứu là nam, nữ tuổi từ 40 đến 49, có hộ khẩu thường trú tại địa bàn nghiên cứu, không bị dị tật bẩm sinh, hiện không có thai, không cho con bú. Thời gian nghiên cứu từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2005.
Để đạt được mục tiêu trên, nghiên cứu được thiết kế 2 giai đoạn: giai đoạn 1 - nghiên cứu mô tả cắt ngang xác định tỷ lệ thừa cân - béo phì ở người 40 đến 49 tuổi; giai đoạn 2 - nghiên cứu bệnh chứng xác định một số yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì. Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế về kinh phí và nhân lực nên trong nghiên cứu này chúng tôi không định lượng được khẩu phần và nguồn cung cấp năng lượng của khẩu phần. Kết quả nghiên cứu giai đoạn l trên 669 đối tượng cho thấy tỷ lệ TC-BP là 17,3%, trong đó tiền béo phì là chủ yếu chiếm 16,3% và béo phì độ I chiếm 1%, không có béo phì độ 2 và 3; tỷ lệ TC-BP ở nữ là 18,3%, ở nam là 16,0%; tỷ lệ béo phì theo tỷ lệ mỡ cơ thể là 28,7%, tỷ lệ này ở nữ cao hơn ở nam (38,1% và 14,8%); tỷ lệ béo bụng theo tỷ số VB/VM là 33,8%, tỷ lệ béo bụng ở nữ cao hơn ở nam (50,1% và 9,6%). Kết quả nghiên cứu bệnh chứng giai đoạn 2 trên 2 nhóm béo phì và không béo phì cho thấy một số yếu tố liên quan tới TC-BP tại địa bàn nghiên cứu như: thói quen ăn nhiều vào bữa tối, sở thích ăn uống và tần suất sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng thức ăn xào rán, thịt nửa nạc nửa mỡ.
Bên cạnh đó không tập luyện thể lực, thiếu hiểu biết về TC-BP và yếu tố gia đình cũng có vai trò quan trọng làm tăng nguy cơ TC-BP. Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đưa ra khuyến nghị tăng cường công tác giáo dục dinh dưỡng, thực hành dinh dưỡng hợp lý, nâng cao hiểu biết của người dân về nguyên nhân và hậu quả của TC-BP đối với sức khoẻ và các biện pháp phòng chống TC-BP, khuyến khích lối sống lành mạnh, tăng cường tập luyện thé lực để có được và duy trì một cân nặng tốt cho sức khoẻ. DAT VAN DE Béo phì là hậu quả của tình trạng mất cân bảng năng lượng, trong đó năng lượng ăn vào vượt quá năng lượng tiêu hao trong một thời gian dài [18]. Béo phì là một bệnh mạn tính, là trạng thái thừa cân nặng do tăng khối lượng mỡ trong cơ thể.
Thừa cân và béo phì đang tăng lên ở mức báo động trên khắp thế giới ở cả người lớn và trẻ em. Hiện nay, trên thế giới có trên 1 tỷ người trưởng thành thừa cân và ít nhất 300 triệu người trong số đó béo phì. Tỷ lệ béo phì rất khác nhau giữa các nước, tỷ lệ béo phì dưới 5% ở một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản và một vài quốc gia Châu Phi và lên tới trên 75% như ở khu vực thành phố Samoa [52]. Tại Mỹ, tỷ lệ người trưởng thành béo phì là 20% ở nam, 25% ở nữ; tại Canada là 15% chung cho cả hai giới, tại Hà Lan 8%, tại Anh 16% [18].
Thừa cân và béo phì đang nổi lên như một vấn dé sức khoẻ cộng đồng hăng đầu ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Béo phì là một tình trạng sức khoẻ có liên quan chặt chẽ với yếu tố dinh dưỡng [L7] và là nguy cơ của nhiều bệnh mạn tính: tim mạch, tăng huyết ấp, đái tháo đường.Do béo phì liên quan đến nhiều tình trạng bệnh lý quan trọng nên người ta thường coi tỷ lệ béo phì là phần nổi của tảng băng các bệnh mạn tính không lây. Trong hơn một thập kỷ qua, ở nước ta, sự phát triển kinh tế và xã hội đã ảnh hưởng rõ rệt đến mức sống của các hộ gia đình. Chế độ ăn ngày càng có nhiều thực phẩm có nhiều chất béo, các điều kiện làm việc và tiện nghỉ sinh hoạt thuận tiện hơn là những yếu tố thuận lợi dẫn tới tình trạng thừa cân - béo phì.
Bên cạnh các bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh thiếu dinh dưỡng mà yếu tố liên quan chặt chẽ là nghèo đói thì thừa cân béo phì đang ngày càng gia tăng, đặc biệt tăng nhanh tại khu vực đô thị ở trẻ em và ngay cả người trưởng thành. Thừa cân - béo phì đang trở thành vấn đề sức khoẻ cộng đồng mới ở nước ta. Các cuộc điều tra dịch té học diện rộng ở nước ta cho thấy trước năm 1995, tỷ lệ thừa cân không đáng kể, béo phì hầu như không có, vậy mà đến năm 2000 tỷ lệ thừa cân ở học sinh tiểu học Hà Nội là 10%, thành phố Hồ Chí Minh 12%, Hải Phòng 9% [20]. Kết quả Điều tra y tế quốc gia năm 2001 — 2002 cho thay ty lé béo phi o nguoi tr 16 tuổi trở lên là 11,8%.
Béo phì tập trung chủ yếu ở thành thị, tỷ lệ béo phì ở khu vực thành thị cao gấp hơn 2 lần so với khu vực nông thỏn (20,5% so với 8,8%) [ 3]. Kết quả nghiên cứu ở người trưởng thành từ 30 đến 59 tuổi tại nội thành Hà Nội năm 2003 cho thấy tỷ lệ thừa cân - béo phì là 18,47%, tỷ lệ thừa cân béo phì có xu hướng tang dan theo tuổi và tăng cao ở tuổi trung niên: từ 12,18% ở nhóm tuổi 30 đến 39, tăng lên 19,39% ở nhóm tuổi 40 đến 49 và 23, 1% ở nhóm tuổi 50 đến 59 [28]. Là địa phương chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hoá, di dân, hình thành các khu công nghiệp, huyện Gia Lâm không ngừng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện, trong đó thói quen ăn uống, điều kiện sinh hoạt cũng có nhiều thay đổi. Tình trạng thừa cân, béo phì ngày càng gia tăng đặc biệt ở các thị trấn trong những năm gần đây.
Câu hỏi đặt ra là: Tình trạng thừa cân béo phì của người dân ở đây ra sao? Những yếu tố nguy cơ nào dẫn đến tình trạng này? Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì ở người 40 đến 49 tuổi tại 2 thị trấn, huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2005”. MUC TIEU NGHIEN CUU 1. Mục tiêu chung 40 đến Mô tả thực trạng và một số yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì ở người các 49 tuổi tại 2 thị trấn, huyện Gia Lâm, Hà Nội, nãm 2005. Trên cơ sở đó đề xuất địa giải pháp thực thi nhằm làm giảm tỷ lệ thừa cân - béo phì ở đối tượng này tại phương.
Mục tiêu cụ thể 2. Xác định tỷ lệ thừa cân - béo phì ở người 40 đến 49 tuổi tại 2 thị trấn, huyện Gia Lâm, Hà Nội, năm 2005. Xác định một số yếu tố nguy cơ thừa cân - béo phì ở người 40 đến 49 tuổi tại địa phương này. Chuong | TONG QUAN TAI LIEU 1.
Khái niệm thừa cân - béo phì Có nhiều khái niệm về thừa cân - béo phì, theo Tổ chức Y tế thế giới đưa ra định nghĩa thừa cân - béo phì như sau: "Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng nén có so với chiều cao. Còn béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ”. Do vậy khi đánh giá béo phì thì không chỉ tính đến cân nặng mà phải quan tâm đến tỷ lệ mỡ của cơ thể |22|. Phân loại thừa cân - béo phì ở người trưởng thành Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng “Chỉ số khối cơ thể” (Body Mass Index — BMI) để đánh giá tình trạng dinh duGng của người trưởng thành.
Phân loại thừa cân - béo phì của Tổ chức Y tế thế giới (1998) và của WPRO (2000) khuyến nghị cho các nước châu Á như sau: Ptán loại WHO, cứu, WPRO, a BMI kg/m- BMI kg/m- Nhe can < 18,5 < 18,5 Tình trang dinh dưỡng bình thường 18,5 — 24,9 18,5 — 22,9 Thừa cân >25 >23 Tiền béo phì 25,0 — 29.