Luận án tiên sĩ thực trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét và hiệu qủa giám sát phát hiện điều trị tại huyện bù gia mập tỉnh bình phước 20182019

Luận án phân tích tình hình nhiễm ký sinh trùng sốt rét và hiệu quả giám sát, phát hiện, điều trị tại huyện Bù Gia Mập, Bình Phước 2018-2019.

Trường đại học

Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

200
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu chung về bệnh sốt rét

1.2. Tác nhân gây bệnh và véc tơ truyền bệnh sốt rét

1.3. Miễn dịch sốt rét

1.4. Người mang ký sinh trùng sốt rét không triệu chứng lâm sàng

1.5. Tình hình sốt rét

1.5.1. Trên thế giới

1.5.2. Tại Việt Nam

1.6. Các biện pháp phòng chống sốt rét

1.6.1. Biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét

1.6.2. Biện pháp điều trị bệnh sốt rét

1.6.3. Biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe

1.7. Các kỹ thuật xét nghiệm phát hiện ký sinh trùng sốt rét

1.7.1. Kỹ thuật xét nghiệm lam máu soi kính hiển vi

1.7.2. Kỹ thuật xét nghiệm bằng test chẩn đoán nhanh

1.7.3. Kỹ thuật xét nghiệm Real-Time PCR

1.8. Giám sát, phát hiện và điều trị người nhiễm ký sinh trùng sốt rét

1.8.1. Giám sát người nhiễm ký sinh trùng sốt rét

1.8.2. Phát hiện và quản lý người nhiễm ký sinh trùng sốt rét

1.8.3. Điều trị người nhiễm ký sinh trùng sốt rét

1.8.4. Điều trị người nhiễm ký sinh trùng sốt rét có giám sát

1.9. Một số khái niệm và định nghĩa quy ước trong nghiên cứu

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu 1: Xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại điểm nghiên cứu, 2018

2.2. Đối tượng nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu

2.5. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu

2.6. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu. Kỹ thuật xét nghiệm chẩn đoán sốt rét

2.7. Biến số trong nghiên cứu

2.8. Tổ chức thực hiện

2.9. Mục tiêu 2: Hiệu quả giám sát, phát hiện và điều trị người nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại điểm nghiên cứu, 2018-2019

2.10. Đối tượng nghiên cứu. Tiêu chí chọn mẫu

2.11. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.12. Thiết kế nghiên cứu

2.13. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu đánh giá trước và sau can thiệp

2.14. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng

2.15. Đánh giá hiệu quả can thiệp

2.16. Công cụ và vật liệu sử dụng trong nghiên cứu. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu. Biến số trong nghiên cứu

2.17. Khống chế sai số

2.18. Xử lý số liệu

2.19. Quản lý số liệu

2.20. Phân tích số liệu

2.21. Đạo đức nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại địa điểm nghiên cứu, 2018. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.2. Ký sinh trùng sốt rét được phát hiện tại địa điểm nghiên cứu

3.3. Tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét phân bố theo đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.4. Mô tả một số yếu tố dịch tễ liên quan và tiền sử mắc sốt rét

3.5. Mô tả một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại điểm nghiên cứu

3.6. Hiệu quả giám sát, phát hiện và điều trị người nhiễm ký sinh trùng sốt rét

3.6.1. Thông tin chung của đối tượng tại địa điểm nghiên cứu

3.6.2. Biện pháp can thiệp tại địa điểm nghiên cứu

3.6.3. Điều tra cắt ngang trước can thiệp ở nhóm can thiệp và nhóm chứng

3.6.4. Hiệu quả các biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe

3.6.5. Hiệu quả giám sát, phát hiện ký sinh trùng sốt rét tại điểm nghiên cứu bằng lam máu soi kính hiển vi

3.6.6. Hiệu quả điều trị người nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại điểm nghiên cứu

3.7. Đánh giá tỷ lệ nhiễm và hiệu quả can thiệp làm giảm ký sinh trùng sốt rét tại điểm nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại địa điểm nghiên cứu, 2018. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Thực trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại địa điểm nghiên cứu

4.3. Một số yếu tố dịch tễ liên quan mắc sốt rét

4.4. Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại địa điểm nghiên cứu

4.5. Hiệu quả biện pháp can thiệp

4.6. Hiệu quả giám sát, phát hiện người nhiễm ký sinh trùng sốt rét

4.7. Hiệu quả điều trị có giám sát người nhiễm ký sinh trùng sốt rét

4.8. Hiệu quả truyền thông phòng bệnh sốt rét tại điểm nghiên cứu

4.9. Một số đóng góp và hạn chế của đề tài

4.10. Tính khoa học và thực tiễn

4.11. Điểm mới của đề tài

4.12. Tính khả thi và duy trì

4.13. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại xã Đắk Ơ và xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, 2018

4.14. Hiệu quả giám sát, phát hiện và điều trị người nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước, 2018-2019

DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại Bù Gia Mập

Bệnh sốt rét là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Bình Phước. Tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại huyện Bù Gia Mập đã có những diễn biến phức tạp trong những năm gần đây. Theo báo cáo của Bộ Y tế, số ca mắc sốt rét tại khu vực này vẫn ở mức cao, với nhiều yếu tố dịch tễ ảnh hưởng đến sự lây lan của bệnh. Việc giám sát và phát hiện kịp thời các ca nhiễm là rất cần thiết để kiểm soát dịch bệnh.

1.1. Tình hình nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại Bù Gia Mập

Theo nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại huyện Bù Gia Mập trong giai đoạn 2018-2019 đã được ghi nhận là khá cao. Các xã như Đắk Ơ và Bù Gia Mập là những nơi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để ngăn chặn sự lây lan của bệnh trong cộng đồng.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm sốt rét

Nhiều yếu tố đã góp phần vào tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại Bù Gia Mập, bao gồm điều kiện khí hậu, thói quen sinh hoạt của người dân, và sự di chuyển của dân cư. Đặc biệt, việc tiếp xúc với muỗi Anopheles trong mùa mưa đã làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người dân có miễn dịch với bệnh sốt rét cũng ảnh hưởng đến sự lây lan của ký sinh trùng.

II. Vấn đề và thách thức trong giám sát sốt rét tại Bù Gia Mập

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc giám sát và phòng chống sốt rét, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Việc phát hiện ca bệnh chủ động và điều trị có giám sát trực tiếp vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Điều này dẫn đến tình trạng bệnh nhân không được theo dõi chặt chẽ, làm tăng nguy cơ lây lan trong cộng đồng.

2.1. Khó khăn trong việc phát hiện ca bệnh sốt rét

Việc phát hiện ca bệnh sốt rét chủ yếu dựa vào các phương pháp xét nghiệm truyền thống như lam máu soi kính hiển vi. Tuy nhiên, nhiều trường hợp nhiễm ký sinh trùng ở mức độ thấp không được phát hiện kịp thời. Điều này đòi hỏi cần có các phương pháp xét nghiệm hiện đại hơn như Real-Time PCR để nâng cao hiệu quả phát hiện.

2.2. Thiếu nguồn lực cho giám sát và điều trị

Nguồn lực cho công tác giám sát và điều trị bệnh sốt rét tại Bù Gia Mập còn hạn chế. Thiếu nhân lực y tế, trang thiết bị và kinh phí cho các hoạt động phòng chống bệnh đã ảnh hưởng đến hiệu quả của các chương trình giám sát. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ hơn từ các cấp chính quyền và tổ chức y tế để cải thiện tình hình.

III. Phương pháp nghiên cứu hiệu quả giám sát sốt rét tại Bù Gia Mập

Để đánh giá hiệu quả giám sát và phát hiện người nhiễm ký sinh trùng sốt rét, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm điều tra cắt ngang, khảo sát cộng đồng và phân tích số liệu từ các cơ sở y tế. Việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại như Real-Time PCR đã giúp nâng cao độ chính xác trong việc phát hiện ký sinh trùng.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Nghiên cứu được thiết kế với cỡ mẫu đủ lớn để đảm bảo tính đại diện cho cộng đồng. Các đối tượng nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ các xã có tỷ lệ mắc sốt rét cao. Điều này giúp thu thập được thông tin chính xác về tình trạng nhiễm ký sinh trùng trong cộng đồng.

3.2. Các phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được thu thập thông qua các phương pháp như phỏng vấn, khảo sát và xét nghiệm. Kỹ thuật Real-Time PCR được áp dụng để phát hiện ký sinh trùng ở những trường hợp nghi ngờ. Điều này giúp nâng cao khả năng phát hiện và điều trị kịp thời cho người nhiễm.

IV. Kết quả nghiên cứu về tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại Bù Gia Mập vẫn ở mức cao, với nhiều ca bệnh không được phát hiện kịp thời. Việc áp dụng các biện pháp giám sát chủ động đã giúp cải thiện tình hình, nhưng vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa để đạt được hiệu quả cao hơn trong công tác phòng chống sốt rét.

4.1. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét

Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại các xã nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt. Các xã có tỷ lệ mắc cao nhất thường là những nơi có điều kiện sống khó khăn và tiếp xúc nhiều với muỗi truyền bệnh. Cần có các biện pháp can thiệp phù hợp để giảm thiểu tình trạng này.

4.2. Hiệu quả của các biện pháp giám sát

Các biện pháp giám sát và phát hiện ca bệnh đã được cải thiện đáng kể nhờ vào việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ca bệnh không được phát hiện kịp thời, cho thấy cần phải tiếp tục nâng cao hiệu quả của các chương trình giám sát.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong phòng chống sốt rét

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại Bù Gia Mập vẫn còn nhiều thách thức. Tuy nhiên, với sự đầu tư đúng mức và áp dụng các biện pháp giám sát hiệu quả, có thể giảm thiểu tình trạng này trong tương lai. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan y tế và cộng đồng để đạt được mục tiêu loại trừ bệnh sốt rét.

5.1. Đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả

Cần triển khai các biện pháp phòng chống sốt rét đồng bộ, bao gồm giáo dục sức khỏe, giám sát chủ động và điều trị kịp thời. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh sốt rét cũng là một yếu tố quan trọng trong công tác phòng chống.

5.2. Tương lai của công tác giám sát sốt rét

Công tác giám sát sốt rét cần được cải thiện hơn nữa với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại. Việc áp dụng các phương pháp xét nghiệm mới sẽ giúp phát hiện sớm các ca bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và phòng chống bệnh sốt rét.

24/07/2025
Luận án tiên sĩ thực trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét và hiệu qủa giám sát phát hiện điều trị tại huyện bù gia mập tỉnh bình phước 20182019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về bệnh sốt rét 1. Tác nhân gây bệnh và véc tơ truyền bệnh sốt rét Sốt rét là bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Plasmodium (P. Bệnh lây theo đường máu, chủ yếu là do muỗi Anopheles (An.) truyền, bệnh có biểu hiện lâm sàng điển hình: rét run, sốt, vã mồ hôi.

Có 5 loài ký sinh trùng (KSTSR) gây bệnh cho người, đó là P. Trong 5 loài KSTSR gây bệnh ở người, có 4 loài phổ biến là P. ovale, loài thứ 5 là P. knowlesi KSTSR ở khỉ lây truyền sang người.

Chu kỳ phát triển của KSTSR gồm hai giai đoạn: Giai đoạn sinh sản vô tính ở cơ thể người và giai đoạn sinh sản hữu tính trong cơ thể muỗi. Muỗi truyền bệnh sốt rét chính ở Việt Nam bao gồm An. dirus và An. minimus phát triển mạnh vào đầu và cuối mùa mưa, do vậy vùng có muỗi An.

minimus truyền thì bệnh sốt rét có hai đỉnh vào đầu và cuối mùa mưa. Vùng có muỗi An. dirus thì bệnh sốt rét lan truyền trong suốt mùa mưa, vùng có muỗi An. epiroticus truyền bệnh sốt rét quanh năm.

Tuy nhiên, hiện nay mùa truyền bệnh có thể thay đổi do ảnh hưởng hoạt động theo thời vụ của con người làm tăng sự tiếp xúc với muỗi truyền bệnh. Trường hợp bệnh sau khi xuất hiện cơn sốt đầu tiên, đối với P. falciparum là 7 - 10 ngày, đối với P. ovale từ 02 - 03 ngày đây là giai đoạn trong máu có giao bào.

Nếu không được điều trị triệt để KSTSR có thể phát triển và lan truyền khi có véc tơ truyền bệnh chính. Véc tơ truyền bệnh nhiễm KSTSR sau khi hút máu người có giao bào khoảng 10 ngày có thể truyền bệnh cho người lành và truyền bệnh suốt đời [22]. Miễn dịch sốt rét Mọi người đều có thể mắc bệnh sốt rét, đồng thời có thể nhiễm một hoặc vài loài KSTSR và miễn dịch đối với sốt rét là miễn dịch không bền vững đối với loài 5 KSTSR mắc phải, không có miễn dịch chéo. Ở người có miễn dịch tự nhiên với các loài Plasmodium của chim, bò sát và gậm nhấm.

Các yếu tố cản trở sự xâm nhập vào hồng cầu và cản trở sự phát triển của KSTSR trong hồng cầu. Hồng cầu không có kháng nguyên bề mặt Duffy (-) thì KSTSR do P. vivax không thể xâm nhập được. Do đó, người châu Phi và người Mỹ có Duffy (-) rất ít nhiễm KSTSR do P.

Hồng cầu biến dạng kiểu hình bầu dục làm tính chất màng thay đổi, ngăn cản P. falciparum xâm nhập. Những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên thực địa cho thấy hemoglobin S có vai trò làm giảm sự thâm nhập và phát triển của P. Miễn dịch sốt rét có tính đặc hiệu cao đối với các loài Plasmodium khác nhau và đặc hiệu với chu kỳ phát triển, vì vậy có miễn dịch giai đoạn trong hồng cầu không có tác dụng với thoa trùng trong cơ thể muỗi.

Cơ thể chống lại KSTSR nhờ hệ thống miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Miễn dịch dịch thể có vai trò quan trọng trong việc chống đỡ KSTSR, ở trẻ em dưới 6 tháng tuổi thường không bị mắc sốt rét nhờ có kháng thể của mẹ. Điều trị bệnh nhân sốt rét bằng huyết thanh lấy từ người bị mắc sốt rét cho thấy tính đặc hiệu theo loài không tuyệt đối và kháng thể chủ yếu là IgG. Kháng thể dịch thể có hai loại cho biết có sự hiện diện của KSTSR trong cơ thể và loại kháng thể có tính bảo vệ.

Cả hai loại kháng thể này đều được sản xuất dưới sự kích thích của một kháng nguyên từ KSTSR. Loại kháng thể cho biết người bệnh đã có nhiễm KSTSR xuất hiện từ 8-10 ngày sau lần sơ nhiễm. Đại thực bào, lympho T có vai trò trong miễn dịch tế bào của bệnh sốt rét, đại thực bào được kích thích để thực bào các hồng cầu bị nhiễm KSTSR. Trong hiện tượng thực bào có vai trò của kháng nguyên bề mặt của KSTSR còn lưu trên màng hồng cầu sau khi KSTSR xâm nhập vào trong hồng cầu.

Lympho T được kích hoạt trong nhiễm KSTSR ở người cũng như trên thực nghiệm và tương ứng với mức độ miễn dịch bảo vệ ghi nhận được. Lympho T là trụ cột trong đáp ứng miễn dịch sốt rét trên người, ở những người cắt lách thường dễ bị mắc sốt rét nặng, kể cả những loài Plasmodium vốn thường chỉ gây sốt rét ở mức độ nhẹ [22]. Miễn dịch sốt rét không có khả năng tiêu diệt tác nhân gây bệnh, ngăn ngừa tái nhiễm KSTSR mà chỉ là một 6 loại miễn dịch có thể giúp cho bệnh nhân cân bằng với KSTSR ở mật độ thấp không có biểu hiện lâm sàng hoặc chỉ mắc bệnh nhẹ đối với những người sống ổn định trong vùng sốt rét lưu hành (SRLH). Đây là một trạng thái miễn dịch thu được không toàn diện và không ổn định, khi KSTSR biến mất khỏi cơ thể thì miễn dịch cũng mất theo.

Ở Việt Nam, trong thời gian qua Chương trình quốc gia Phòng, chống sốt rét (PCSR) thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống bệnh sốt rét giảm thấp, nhiều địa phương hiện nay không còn KSTSR nội địa. KSTSR giảm dần qua các năm là một dấu hiệu đáng mừng nhưng cũng đáng lo ngại vì tính miễn dịch của người dân đối với bệnh sốt rét trong cộng đồng giảm dần hoặc hết miễn dịch sẽ tạo điều kiện cho sốt rét quay trở lại khi có mầm bệnh xâm nhập từ các vùng SRLH trong hoặc ngoài nước cùng với sự phục hồi của véc tơ truyền bệnh sốt rét do giảm dần hoặc ngừng triển khai các biện pháp can thiệp trong cộng đồng. Hiện nay, đối tượng dân di biến động đi vào các vùng SRLH dẫn đến nguy cơ gia tăng sốt rét rất đáng lo ngại [14]. Qua kết quả nghiên cứu tính sinh miễn dịch sốt rét tại vùng SRLH của một số tác giả Lê Thành Đồng, Nguyễn Văn Nam, Tạ Thị Tĩnh, Đoàn Hạnh Nhân (1997) về Áp dụng kỹ thuật kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA test) đánh giá dịch tễ sốt rét huyện Vân Canh, cho thấy tỷ lệ nhiễm KSTSR tại điểm điều tra rất thấp chỉ 0,93% nhưng tỉ lệ người dân có kháng thể chống sốt rét được phát hiện theo phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA) tương đối cao chiếm 65%.

Tỷ lệ KSTSR được phát hiện tại các vùng SRLH thấp không phản ánh đúng mức độ lưu hành sốt rét trong cộng đồng các vùng đang lưu hành sốt rét. Do vậy, qua kết quả đánh giá kháng thể bằng kỹ thuật IFA cho phép nhận định mức độ lưu hành bệnh sốt rét tại Vân Canh trước đây khá cao. Nhóm tuổi và số lần mắc sốt rét ở người dân có liên quan thuận với tỷ lệ người có IFA dương tính [6]. Theo nghiên cứu của Đoàn Hạnh Nhân (1997) tỷ lệ người nhiễm ký sinh trùng và có đáp ứng miễn dịch sốt rét được thực hiện tại huyện đảo Phú Quốc cho thấy tỷ lệ người nhiễm KSTSR chiếm 2,9% trong tổng số mẫu được điều tra, trong đó nhiễm KSTSR do P.

falciparum chiếm 54,4% và P. vivax chiếm 45,5% và tỷ lệ đối tượng 7 có đáp ứng kháng thể kháng KSTSR chiếm 28,8%. Tỷ lệ có đáp ứng miễn dịch và nhiễm KSTSR ghi nhận được tại các điểm tra ở đối tượng <4 tuổi cho thấy có sự lan truyền của ký sinh trùng sốt rét tại chỗ. Kết quả điều tra đáp ứng miễn dịch và hiệu quả điều trị người nhiễm KSTSR ở tuyến cơ sở thuộc vùng SRLH nặng cho thấy, tỷ lệ đối tượng nhiễm KSTSR được phát hiện bằng kỹ thuật xét nghiệm lam máu soi kính hiển vi chiếm từ 25-38% và tỷ lệ đối tượng có đáp ứng miễn dịch sốt rét trong cộng đồng tại địa điểm nghiên cứu chiếm 80-90% và những đối tượng nhóm tuổi >40 tuổi có tỷ lệ đáp ứng miễn dịch với sốt rét cao nhất chiếm 100%.

Đặc biệt tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm <4 tuổi cao hơn các nhóm tuổi khác từ 30-40%, tỷ lệ mang giao bào ở nhóm tuổi này chiếm 18,7% cao hơn nhóm >44 tuổi là 5,8% [23], [24]. Nghiên cứu của Hoàng Thị Mai Anh, Trịnh Ngọc Hải, Phạm Nguyễn Thúy Vy (2012) đánh giá đáp ứng miễn dịch của người dân đối với người nhiễm KSTSR do P. falciparum ở hai xã Đắk Ơ và xã Bù Gia Mập thuộc vùng SRLH nặng của tỉnh Bình Phước, cho thấy tỷ lệ nhiễm KSTSR P. falciparum đáp ứng với miễn dịch IFA (+) chiếm 35% và 27%.

Trong đó, tại Đắk Ơ nhóm tuổi từ 15-45 tuổi có đáp ứng miễn dịch với KSTSR do P. falciparum chiếm 90,7% và xã Bù Gia Mập chiếm 88,7%, ở nhóm tuổi từ 0-5 tuổi chưa phát hiện có miễn dịch với bệnh và nhóm 6-14 tuổi có miễn dịch với bệnh chiếm 1,4%. Riêng ở nhóm tuổi >45 tuổi tỷ lệ đáp ứng miễn dịch với loài KSTSR này chiếm 9,3% tại Đắk Ơ và 9,9% tại xã Bù Gia Mập. Tỷ lệ đáp ứng miễn dịch với bệnh sốt rét ở người dân sinh sống trong vùng SRLH nặng không có sự khác biệt về nhóm tuổi, có sự tương quan thuận giữa nhóm tuổi với mức độ đáp ứng miễn dịch, nhóm tuổi càng cao thì tỷ lệ đối tượng có miễn dịch với bệnh càng cao.

Miễn dịch sốt rét có liên quan đến triệu chứng lâm sàng của bệnh và việc phát hiện sớm đối tượng nhiễm KSTSR ở những người trưởng thành sinh sống trong vùng SRLH có thể bị nhiễm KSTSR nhiều lần hoặc người mang KSTSR mật độ thấp không biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng không rõ và khả năng chống lại nhiễm KSTSR ở trẻ em thấp. Trong điều trị người nhiễm KSTSR, đối với những người có miễn dịch sốt rét hiệu quả điều trị cao hơn người chưa có miễn dịch với bệnh. Ở những quần thể dân 8 cư có miễn dịch thấp bệnh sốt rét có nguy cơ quay trở lại gây thành dịch khi có mầm bệnh và yếu tố truyền bệnh, do đó ở các vùng không còn SRLH cần duy trì biện pháp phòng chống tích cực, đặc biệt giám sát, quản lý các đối tượng dân di biến động trở về từ các vùng SRLH [1]. Qua kết quả của một số nghiên cứu cho thấy, người dân sinh sống lâu trong vùng SRLH hành, dân di biến động vào vùng SRLH và người đã từng mắc sốt rét thường có miễn dịch cao với bệnh, đôi khi bị nhiễm KSTSR nhưng không biết vì không có biểu hiện lâm sàng của bệnh.

Do đó, có thể từ những đối tượng này là nguồn lây cho người dân trong cộng đồng khi có sự hiện diện của véc tơ truyền bệnh sốt rét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ