Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Đấu tranh phòng, chống tội cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội" do nghiên cứu sinh Đỗ Kim Tuyến thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Kiều Đình Thụ và PGS.TS. Võ Khánh Vinh. Luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự, luật tố tụng hình sự (mã số 5.05.14), bảo vệ năm 2001.

1. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đã mang lại những thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng, song quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh nhiều yếu tố tiêu cực: cạnh tranh xã hội, phân hóa giàu nghèo, thiếu việc làm, sự tha hóa trong lối sống và sự gia tăng của các tệ nạn xã hội. Tại Thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và giao lưu quốc tế – tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, trong đó tội cướp tài sản có xu hướng gia tăng về số lượng, mức độ nguy hiểm và tính chất manh động.

Tội cướp tài sản là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cùng lúc xâm hại trực tiếp đến hai khách thể được luật hình sự bảo vệ: quyền sở hữu tài sản và tính mạng, sức khỏe của con người. Tính chất nguy hiểm của tội phạm này thể hiện ở xu hướng hoạt động có tổ chức, liên kết thành băng nhóm, sử dụng vũ khí nóng (súng quân dụng, lựu đạn) và hung khí nguy hiểm, gây án trên phạm vi rộng và gây hoang mang trong nhân dân. Trong khi các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào một số khía cạnh nghiệp vụ trinh sát, hỏi cung hoặc tuyến địa bàn cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống tội cướp tài sản trên địa bàn Thủ đô dưới góc độ tội phạm học và tư pháp hình sự. Do đó, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tình hình tội cướp tài sản, xác định nguyên nhân, điều kiện và đề xuất giải pháp phòng ngừa, đấu tranh là đòi hỏi cấp thiết.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác đấu tranh phòng, chống tội cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội; từ kết quả khảo sát thực tiễn rút ra các luận cứ tội phạm học tương ứng, qua đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý loại tội phạm này.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết hai nhóm nhiệm vụ chính:

  1. Nhiệm vụ lý luận: Phân tích và làm sáng tỏ dưới góc độ tội phạm học về tình hình tội cướp tài sản, các đặc trưng cơ bản, đặc điểm nhân thân người phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, cùng hệ thống biện pháp phòng ngừa và đấu tranh; góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận tội phạm học và đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự.
  2. Nhiệm vụ thực tiễn: Đánh giá thực trạng, động thái, cơ cấu và quy luật hoạt động của tội cướp tài sản tại Hà Nội giai đoạn 1989 – 1999; phân tích những nguyên nhân, điều kiện kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước và tư pháp; tổng kết, rút kinh nghiệm từ thực tiễn công tác công an, kiểm sát, tòa án để kiến nghị các giải pháp cụ thể.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tội cướp tài sản trên các phương diện tội phạm học (thực trạng, động thái, cơ cấu, đặc điểm không gian - thời gian, phương thức thủ đoạn, nhân thân người phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phát sinh) và hệ thống biện pháp đấu tranh phòng, chống tội cướp tài sản của các cơ quan chức năng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội (gồm 7 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành thời điểm nghiên cứu), có sự liên hệ so sánh với tình hình chung của toàn quốc và các địa bàn trọng điểm như Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát số liệu thực tiễn và hoạt động nghiệp vụ trong 11 năm (1989 – 1999), giai đoạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế thị trường sau đổi mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

1. Các hướng nghiên cứu trước liên quan đến đề tài

Tác giả luận án đã tổng hợp và điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước về lĩnh vực phòng, chống tội phạm:

  • Nhóm công trình nghiên cứu tổng quát về tội phạm học và tệ nạn:
    • Đề tài "Tội phạm hình sự trong giai đoạn chuyển sang cơ chế thị trường" của Viện Nghiên cứu khoa học Công an - Bộ Công an.
    • Đề tài cấp nhà nước KX 04-14: "Tội phạm ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp" do Tổng cục Cảnh sát nhân dân - Bộ Công an chủ trì (Nxb CAND, 1994).
    • Đề tài "Đấu tranh chống tội phạm vị thành niên" của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp.
    • Luận văn thạc sĩ "Tội phạm sử dụng bạo lực ở Việt Nam thực trạng và giải pháp đấu tranh" của tác giả Bùi Văn Thịnh (Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, 1999).
  • Nhóm công trình chuyên sâu về tội cướp tài sản và các tội phạm bạo lực:
    • Đề tài khoa học "Các biện pháp nghiệp vụ nhằm ngăn chặn tội cướp tài sản trên tuyến giao thông đường bộ Hà Nội - Lạng Sơn" do PGS.TS. Nguyễn Duy Hùng chủ biên cùng nhóm tác giả (Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, 1995).
    • Luận văn thạc sĩ "Chiến thuật sử dụng chứng cứ trong hỏi cung bị can phạm tội giết người cướp tài sản" của Đỗ Tiến Độ (Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, 1997).
    • Luận văn thạc sĩ "Đặc điểm hình sự của tội phạm giết người cướp tài sản công dân" của Hoàng Long (Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, 1997).
    • Bài viết "Những thủ đoạn phổ biến của tội cướp tài sản ở Việt Nam" của Phạm Văn Hộ trên Tạp chí Cảnh sát nhân dân (số 37, tháng 2/2000).

2. Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Các công trình trên chủ yếu tiếp cận ở góc độ khoa học điều tra hình sự, chiến thuật hỏi cung, kỹ thuật nghiệp vụ chuyên ngành hoặc giới hạn trong một tuyến giao thông hay một hành vi kết hợp (giết người cướp tài sản). Luận án của Đỗ Kim Tuyến lựa chọn khoảng trống nghiên cứu mang tính hệ thống: tiếp cận tội cướp tài sản một cách chỉnh thể dưới lăng kính tội phạm học trên một địa bàn đô thị trung tâm (Hà Nội), kết hợp đồng bộ giữa việc phân tích số liệu thống kê tội phạm, nghiên cứu nhân thân người phạm tội, chỉ ra nguyên nhân điều kiện từ góc độ vĩ mô và vi mô, đến việc xây dựng hệ thống giải pháp tổng thể từ kinh tế, xã hội, giáo dục, pháp luật đến nghiệp vụ chuyên ngành của lực lượng Công an, Viện kiểm sát và Tòa án.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về phòng, chống tội phạm. Về mặt khoa học chuyên ngành, tác giả vận dụng hệ thống lý luận tội phạm học, khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự, tâm lý học tư pháp, xã hội học pháp luật và khoa học quản lý nhà nước về an ninh trật tự.

2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Nghiên cứu các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các pháp lệnh liên quan) và các công trình khoa học pháp lý.
  • Phương pháp thống kê hình sự: Thu thập, phân loại, so sánh và xử lý các chuỗi số liệu thống kê tội phạm của Công an thành phố Hà Nội, Tổng cục Cảnh sát nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 1989 – 1999.
  • Phương pháp điều tra xã hội học:
    • Khảo sát thực tế bằng phiếu điều tra xã hội học trên mẫu gồm 109 phạm nhân phạm tội cướp tài sản đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam thuộc Công an thành phố Hà Nội quản lý.
    • Phân tích chi tiết chọn mẫu 1.095 hồ sơ vụ án cướp tài sản (trong tổng số 1.805 vụ xảy ra từ 1989 đến 1999) để làm rõ địa bàn, thời gian, phương tiện, phương thức thủ đoạn và nhân thân.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và tọa đàm chuyên gia: Thực hiện trao đổi, phỏng vấn sâu các điều tra viên, cán bộ lãnh đạo trinh sát hình sự, thẩm phán, kiểm sát viên có nhiều năm kinh nghiệm tại Hà Nội; phỏng vấn sâu phạm nhân nhằm tìm hiểu động cơ, quá trình móc nối hình thành ổ nhóm và tâm lý phạm tội.
  • Phương pháp so sánh và dự báo: Đối chiếu số liệu giữa Hà Nội với quy mô toàn quốc, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng; áp dụng phương pháp ngoại suy để dự báo xu hướng vận động của tội cướp tài sản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình tội cướp tài sản ở Hà Nội

Chương 1 (từ trang 12 đến trang 57) tập trung phân tích bối cảnh đô thị, thực trạng, động thái, cơ cấu, tội phạm ẩn, các đặc trưng quy luật và công tác đấu tranh xử lý tội cướp tài sản tại Hà Nội trong 11 năm (1989 – 1999).

BẢNG 1: TỔNG HỢP DIỄN BIẾN TỘI PHẠM VÀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN TẠI HÀ NỘI (1989 - 1999)
Chỉ số thống kê Toàn quốc (11 năm) Hà Nội (11 năm) Tỷ lệ so sánh / Đặc điểm
Tổng số vụ phạm pháp hình sự 746.043 vụ 64.606 vụ Bình quân Hà Nội: 213 vụ/100.000 dân
Tổng số vụ cướp tài sản 16.685 vụ 1.805 vụ Bình quân Hà Nội: 164 vụ/năm
Tỷ trọng cướp trong tổng số tội phạm 2,3% 2,8% Hà Nội cao hơn toàn quốc (TP.HCM: 3,6%; Hải Phòng: 6,9%)
Số vụ điều tra khám phá (Hà Nội) - 1.247 vụ Tỷ lệ điều tra phá án đạt 71,3% (bắt giữ 3.772 đối tượng)
Số vụ giết người cướp tài sản (Hà Nội) - 57 vụ Chiếm 3,1% tổng số vụ cướp; tính chất đặc biệt nghiêm trọng
Tỷ trọng trong nhóm 4 tội nghiêm trọng 23% 35% Đứng sau cưỡng đoạt (46,3%), đứng trên giết người (11,8%)
Tỷ trọng trong nhóm tội xâm phạm sở hữu 4,1% 3,6% Trộm cắp chiếm 84,9%, cướp giật chiếm 6,8%

1. Đặc điểm địa bàn và dân cư tác động đến tội phạm

Hà Nội có diện tích tự nhiên 922,8 km², gồm 7 quận và 5 huyện, 110 phường và 118 xã, thị trấn. Dân số theo điều tra 1/4/1999 là hơn 2,67 triệu người, tốc độ tăng cơ học cao (từ 1993 đến 1999 tăng gần 600.000 người), lượng di dân tự do từ các tỉnh vào làm ăn sinh sống ước tính khoảng 100.000 người. Thành phố có 583 địa bàn phức tạp về an ninh trật tự, tập trung tại các khu vực bến xe, nhà ga, khu giáp ranh và các khu dân cư đặc thù ("xóm liều" như Thanh Nhàn, xóm mới Tân Triều, bãi rác Thành Công, Phúc Tân, Chương Dương). Tỷ lệ đối tượng hình sự chiếm 1,1% dân số; năm 1999 có 31.920 người có án tù hoặc cải tạo về cư trú trên địa bàn (trong đó 1.550 người có tiền án về tội cướp tài sản), tỷ lệ tái phạm dao động từ 35% đến 50%. Số người nghiện ma túy năm 1998 là 11.000 người (tăng từ 2.134 người năm 1993), trong đó 70% ở độ tuổi 18 – 35; có từ 75% đến 80% người phạm tội bị bắt giữ có liên quan đến nghiện ma túy.

2. Phân tích đặc điểm không gian, thời gian và công cụ gây án

Qua khảo sát chi tiết mẫu 1.095 vụ án cướp tài sản:

  • Phân bố theo địa bàn hành chính: Bốn quận nội thành cũ (Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Ba Đình) chiếm 49% tổng số vụ. Quận Đống Đa xảy ra nhiều nhất với 153 vụ (bình quân 15 vụ/năm), tiếp theo là quận Hai Bà Trưng với 146 vụ. Ba huyện giáp ranh (Từ Liêm, Gia Lâm, Thanh Trì) chiếm 34% tổng số vụ, trong đó Từ Liêm xảy ra 137 vụ, Gia Lâm 110 vụ.
  • Phân bố theo địa điểm cụ thể: Các vụ cướp xảy ra ngoài nhà dân chiếm 86%, trong đó cướp trên các trục đường giao thông chiếm 65,5% (681 vụ), trên các địa bàn công cộng (công viên, bến xe, nơi vui chơi) chiếm 20,5% (236 vụ). Số vụ cướp đột nhập vào nhà ở của công dân chiếm 14%.
  • Thời gian gây án: Khung giờ từ 17h đến 23h chiếm tỷ lệ cao nhất với 47% (516 vụ), trong đó các vụ cướp tiệm vàng tập trung từ 19h đến 21h, cướp xe máy đón đường tập trung từ 21h đến 23h. Khung giờ từ 23h đến 8h sáng hôm sau chiếm 32% (345 vụ, chủ yếu từ 23h đến 1h sáng). Khung giờ từ 8h đến 17h chiếm 21% (234 vụ, thường xảy ra lúc 8h – 11h và 15h – 17h nhắm vào học sinh hoặc khu tập thể vắng người). Tính chung, có 79% số vụ cướp tài sản diễn ra vào ban đêm.
  • Công cụ và phương tiện phạm tội: Gần 100% các vụ cướp tài sản đối tượng có chuẩn bị và mang theo hung khí. Vũ khí thô sơ (dao găm, lê AK, dao tự chế) chiếm 34% (371 vụ); vũ khí nóng (súng quân dụng, súng ngắn, lựu đạn) chiếm 6% (64 vụ); công cụ thông thường (gậy sắt, gậy gỗ, búa, vật cứng) chiếm 56%; thuốc gây mê được sử dụng trong các vụ đầu độc cướp xe máy.
BẢNG 2: PHÂN BỐ CÔNG CỤ VÀ ĐỊA BÀN GÂY ÁN CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN TẠI HÀ NỘI
(Khảo sát mẫu N = 1.095 vụ)
Tiêu chí phân loại Số lượng vụ Tỷ lệ (%) Đặc điểm nhận diện
Địa điểm: Trục đường giao thông 681 vụ 65,5% Đón chặn người đi xe máy tại tuyến quốc lộ, đường liên huyện vắng
Địa điểm: Nơi công cộng 236 vụ 20,5% Công viên, bến xe, ga tàu, khu vui chơi, khu vực giáp ranh
Địa điểm: Đột nhập nhà dân 178 vụ 14,0% Nhắm vào cửa hàng vàng bạc, hộ khá giả, hành vi quyết liệt
Công cụ: Gậy, búa, vật cứng thô sơ 613 vụ 56,0% Dễ tìm kiếm, tấn công trực diện gây choáng ngợp nạn nhân
Công cụ: Dao, lê AK, vũ khí thô sơ 371 vụ 34,0% Sát thương cao, dễ cất giấu và phi tang sau khi gây án
Công cụ: Súng, lựu đạn (vũ khí nóng) 64 vụ 6,0% Đối tượng lưu manh chuyên nghiệp, ổ nhóm, tính nguy hiểm đặc biệt
Công cụ: Thuốc gây mê - - Tiếp cận làm quen, đầu độc qua đồ uống để cướp tài sản

3. Phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội

  • Giai đoạn chuẩn bị: 98% phạm nhân được khảo sát thừa nhận có chuẩn bị trước. 72% số vụ có từ 2 đối tượng trở lên cùng tham gia, 28% do 1 đối tượng thực hiện. Về mối quan hệ liên kết ổ nhóm: 40% xuất phát từ quan hệ bạn bè cùng nơi cư trú hoặc bạn học cũ; số còn lại liên kết từ quá trình cùng chấp hành án trong trại giam, cơ sở giáo dục hoặc quen biết tại các tụ điểm tệ nạn.
  • Giai đoạn thực hiện: Các phương thức phổ biến gồm: (1) Đột nhập tiệm vàng, nhà dân bằng cách đóng giả khách mua hàng hoặc thợ sửa chữa rồi dùng vũ lực khống chế; (2) Đón đường, ép xe máy tại các đoạn đường vắng (như băng nhóm Nguyễn Văn Đoàn, Đoàn Mạnh Hiền, Nguyễn Văn Tuyến gây ra 94 vụ cướp xe máy trên địa bàn Hà Nội và 6 tỉnh lân cận từ 1994 – 1997); (3) Dùng thuốc gây mê đầu độc nạn nhân tại quán nước; (4) Thuê xe ôm, xe taxi đi đến nơi vắng vẻ rồi tấn công lái xe (90% vụ cướp xe ôm dùng hung khí thô sơ tấn công bất ngờ, dễ dẫn đến giết người bịt đầu mối); (5) Đóng giả hành khách trên các tuyến xe khách liên tỉnh để khống chế lái xe và cướp tài sản của hành khách (như vụ Trần Quốc Hưng cùng đồng bọn dùng súng, dao cướp xe khách đi Cao Bằng chiếm đoạt 280 triệu đồng năm 1992).
  • Giai đoạn sau khi phạm tội: Nhanh chóng tẩu thoát, đưa xe máy vào các lò tiêu thụ để đục lại số khung, số máy, làm giấy tờ giả hoặc chuyển sang Trung Quốc; bán vàng, đổi tài sản lấy ma túy; lẩn trốn vào các tỉnh phía Nam (Lâm Đồng, Đắk Lắk).

4. Vấn đề tội phạm ẩn và kết quả xét xử

Luận án chỉ ra ba dạng tội phạm ẩn đối với tội cướp tài sản: (1) Ẩn tự nhiên do nạn nhân không trình báo (chiếm khoảng 5% – 10%, do tài sản giá trị nhỏ, sợ bị liên lụy uy tín cá nhân, hoặc vụ việc xảy ra trong ổ cờ bạc, hoạt động mại dâm); (2) Ẩn do cơ quan điều tra chưa khám phá được thủ phạm (khoảng 25% số vụ chưa làm rõ); (3) Ẩn do cơ sở giấu vụ việc không đưa vào sổ theo dõi thống kê.

Về kết quả xét xử 11 năm của Tòa án nhân dân các cấp tại Hà Nội đối với tội cướp tài sản: tuyên phạt tù chung thân đối với 4 bị cáo; mức án từ 10 đến 20 năm tù chiếm 4,9%; mức án từ 5 đến 10 năm tù chiếm 7,9%; mức án 5 năm tù chiếm 15%; mức án dưới 5 năm tù chiếm 72%.


Chương 2: Đặc điểm nhân thân người phạm tội cướp tài sản

Chương 2 (từ trang 58 đến trang 97) nghiên cứu hệ thống các đặc trưng nhân thân của người phạm tội cướp tài sản:

BẢNG 3: TỔNG HỢP CÁC ĐẶC TRƯNG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CƯỚP TÀI SẢN
Nhóm đặc trưng Các chỉ số cụ thể trong luận án Ý nghĩa tội phạm học
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội - Độ tuổi: Tập trung chủ yếu ở lứa tuổi thanh thiếu niên (18 – 30 tuổi).
- Giới tính: Tuyệt đại đa số là nam giới; nữ giới chiếm tỷ lệ rất nhỏ (thường đóng vai trò giúp sức, mồi chài).
- Nghề nghiệp: Đa số không có nghề nghiệp ổn định, lao động tự do, thất nghiệp.
- Học vấn: Trình độ học vấn phổ thông ở mức thấp hoặc trung bình, tỷ lệ bỏ học sớm cao.
- Cư trú: Có sự đan xen giữa đối tượng có hộ khẩu nội thành và đối tượng di cư tự do từ các tỉnh khác về.
Phản ánh tác động của hoàn cảnh sống thiếu hụt giáo dục, thiếu việc làm và sự bất ổn định về mặt xã hội.
Đặc điểm đạo đức - tâm lý - Lối sống buông thả, thực dụng, coi trọng hưởng thụ vật chất mà không muốn lao động.
- Nghiện ngập ma túy, cờ bạc, rượu chè, thích thể hiện tính hung hãn, côn đồ.
- Ý thức tôn trọng tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác bị xói mòn nghiêm trọng.
Quyết tâm thực hiện tội phạm cao, sẵn sàng sử dụng bạo lực tàn bạo khi gặp sự kháng cự của nạn nhân.
Đặc điểm pháp lý - hình sự - Tỷ lệ có tiền án, tiền sự chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu người phạm tội.
- Tái phạm nguy hiểm: Nhiều đối tượng vừa ra tù hoặc trốn trại tiếp tục móc nối phạm tội.
- Tính chất liên kết: Xu hướng phạm tội đồng phạm, có tổ chức chiếm tỷ lệ lớn (72%).
Thể hiện tính chuyên nghiệp và tính nguy hiểm cao về mặt tư pháp hình sự.

Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp tài sản

Chương 3 (từ trang 98 đến trang 123) phân tích hệ thống các nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh, tồn tại tội cướp tài sản tại Hà Nội theo 5 nhóm vấn đề:

  1. Nguyên nhân và điều kiện về kinh tế - xã hội: Mặt trái của cơ chế thị trường làm gia tăng phân hóa giàu nghèo; sức ép thiếu việc làm trong thanh niên; sự gia tăng nhanh chóng của các dịch vụ tự phát (lái xe ôm, taxi, tiệm vàng tư nhân, dịch vụ cầm đồ, cho thuê xe máy) trong khi thiếu các biện pháp tự phòng vệ và quản lý đồng bộ.
  2. Nguyên nhân và điều kiện trong quản lý nhà nước về an ninh trật tự: Công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu tạm trú còn sơ hở; quản lý các ngành nghề kinh doanh có điều kiện chưa chặt chẽ; việc quản lý, thu hồi vũ khí quân dụng và vật liệu nổ còn nhiều thiếu sót (thống kê 1980 – 1996 xảy ra 450 vụ mất súng; giai đoạn 1989 – 1998 Công an Hà Nội thu hồi 574 khẩu súng, 34.000 viên đạn, 387 lựu đạn); quản lý giáo dục đối tượng có tiền án tiền sự tha tù về địa phương còn buông lỏng.
  3. Nguyên nhân và điều kiện về giáo dục: Sự thiếu quan tâm, buông lỏng hoặc khủng hoảng giáo dục đạo đức từ phía gia đình; mối liên kết giữa gia đình, nhà trường và đoàn thể xã hội chưa chặt chẽ; ảnh hưởng tiêu cực từ các ấn phẩm văn hóa bạo lực, đồi trụy lưu hành bất hợp pháp.
  4. Nguyên nhân và điều kiện về cơ chế, chính sách pháp luật: Một số quy định pháp luật hình sự và tố tụng hình sự còn bất cập, chế tài xử lý các hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ chưa đủ sức răn đe; cơ chế bảo vệ nhân chứng, người tố giác tội phạm chưa hoàn thiện.
  5. Những tồn tại trong công tác tư pháp: Lực lượng phòng ngừa và điều tra cơ sở còn mỏng; công tác nắm tình hình nghiệp vụ trinh sát có lúc chưa kịp thời; công tác khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết còn thiếu sót dẫn đến một số vụ án bị đình chỉ hoặc không chứng minh được tội phạm (trong 11 năm có 18 vụ với 42 bị can bị đình chỉ điều tra).

Chương 4: Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội cướp tài sản

Chương 4 (từ trang 124 đến trang 167) xây dựng hệ thống 6 nhóm biện pháp phòng, chống toàn diện:

  1. Biện pháp kinh tế - xã hội: Đẩy mạnh giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho thanh thiếu niên; thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo; quản lý đô thị và sắp xếp lại các khu dân cư phức tạp.
  2. Biện pháp giáo dục: Tăng cường giáo dục pháp luật tại cộng đồng, nhà trường; xây dựng nếp sống văn hóa; đẩy mạnh công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
  3. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh trật tự: Siết chặt quản lý cư trú, tạm trú đối với lao động nhập cư; kiểm tra định kỳ các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, tiệm vàng, dịch vụ cho thuê xe; tăng cường quản lý, thu hồi triệt để vũ khí, vật liệu nổ trôi nổi ngoài xã hội.
  4. Tăng cường cơ sở pháp lý: Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự; cụ thể hóa các chế tài xử phạt hành chính và hình sự đối với hành vi mang theo vũ khí thô sơ nhằm mục đích phạm tội; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành Công an - Viện kiểm sát - Tòa án.
  5. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa tội phạm:
    • Phòng ngừa xã hội: Tuyên truyền phương thức, thủ đoạn cướp tài sản cho nhân dân, đặc biệt là các đối tượng hành nghề xe ôm, lái xe taxi, chủ hiệu vàng; phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.
    • Phòng ngừa nghiệp vụ: Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, lập chuyên án đấu tranh triệt phá các băng nhóm cướp có tổ chức; tổ chức tuần tra kiểm soát công khai và mật phục trên các tuyến giao thông trọng điểm vào các khung giờ cao điểm (từ 19h đến 2h sáng hôm sau).
  6. Nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử: Nâng cao chất lượng khám nghiệm hiện trường, thu thập và bảo quản dấu vết vật chứng; tăng cường năng lực cán bộ điều tra; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng để đưa ra xét xử nghiêm minh, kịp thời các vụ án điểm nhằm răn đe tội phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về tội cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội dưới góc độ tội phạm học và tư pháp hình sự.
  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các chỉ số định lượng về thực trạng, động thái, cơ cấu, các dạng tội phạm ẩn, cũng như đặc trưng không gian (đường giao thông, nơi công cộng, nhà dân), thời gian (khung giờ đêm tối) và công cụ phạm tội của tội cướp tài sản tại đô thị lớn.
  • Khái quát hóa các đặc điểm nhân thân người phạm tội cướp tài sản (nhân khẩu - xã hội, tâm lý đạo đức, pháp lý hình sự) dựa trên dữ liệu điều tra xã hội học thực tế, làm phong phú thêm lý luận về nhân thân người phạm tội trong tội phạm học Việt Nam.
  • Lý giải có căn cứ khoa học hệ thống nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh tội cướp tài sản trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và đô thị hóa nhanh.

2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp

  • Đánh giá toàn diện kết quả công tác điều tra, truy tố, xét xử tội cướp tài sản của các cơ quan bảo vệ pháp luật Hà Nội trong suốt 11 năm (1989 – 1999), chỉ rõ những ưu điểm và tồn tại nghiệp vụ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ; trong đó nhấn mạnh các giải pháp nghiệp vụ chuyên sâu của lực lượng Cảnh sát hình sự (tuần tra vũ trang, lập chuyên án trinh sát, quản lý tuyến và địa bàn trọng điểm).
  • Đưa ra các kiến nghị cụ thể phục vụ hoàn thiện quy định pháp luật hình sự, quản lý vũ khí, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chính sách an sinh xã hội tại Hà Nội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu tại địa bàn Hà Nội giai đoạn 1989 – 1999, một số mô hình cướp tài sản công nghệ cao hoặc phương thức liên tỉnh phức tạp phát sinh trong các giai đoạn sau chưa được phản ánh trong bộ số liệu gốc của luận án. Ngoài ra, việc xác định tỷ lệ tội phạm ẩn tự nhiên chủ yếu dựa trên ước tính xã hội học do tính chất phức tạp của công tác thu thập số liệu chưa trình báo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu so sánh tình hình tội cướp tài sản giữa các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước; nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin và giao dịch điện tử đến phương thức, thủ đoạn cướp tài sản; hoàn thiện mô hình phối hợp liên tỉnh trong điều tra truy bắt tội phạm cướp tài sản hoạt động lưu động.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan thực thi pháp luật và tư pháp: Cán bộ chỉ huy, điều tra viên lực lượng Cảnh sát hình sự, kiểm sát viên, thẩm phán trong công tác nắm tình hình, lập kế hoạch phòng ngừa, điều tra khám phá và xét xử tội cướp tài sản.
  • Cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách: Các viện nghiên cứu pháp lý, cơ quan tham mưu về an ninh trật tự, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xây dựng chính sách quản lý đô thị, quản lý dân cư và giải quyết việc làm.
  • Cơ sở đào tạo chuyên ngành: Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên tại các trường đại học thuộc khối luật và các học viện, trường đại học thuộc lực lượng Công an nhân dân (Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân) phục vụ giảng dạy và nghiên cứu các môn Tội phạm học, Luật Hình sự và Khoa học Điều tra hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ điều tra khám phá tội cướp tài sản tại Hà Nội giai đoạn 1989 – 1999 đạt mức bao nhiêu?

Theo số liệu thống kê trong luận án, trong 11 năm (1989 – 1999), Công an thành phố Hà Nội đã điều tra khám phá 1.247 vụ trên tổng số 1.805 vụ cướp tài sản xảy ra, đạt tỷ lệ 71,3%, bắt giữ 3.772 đối tượng phạm tội. Năm đạt tỷ lệ cao nhất là 1994 (gần 80%), năm thấp nhất là 1989 và 1990 (đạt 60%).

2. Tội cướp tài sản tại Hà Nội thường xảy ra ở những địa điểm và khung thời gian nào nhất?

Qua khảo sát 1.095 vụ án: Về địa điểm, cướp trên các trục đường giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất với 65,5% (681 vụ), tiếp theo là nơi công cộng chiếm 20,5% (236 vụ), đột nhập nhà dân chiếm 14%. Về thời gian, 79% số vụ xảy ra vào ban đêm; trong đó khung giờ từ 17h đến 23h chiếm 47% (516 vụ), khung giờ từ 23h đến 8h sáng hôm sau chiếm 32% (345 vụ).

3. Tỷ lệ sử dụng các loại hung khí, công cụ gây án trong tội cướp tài sản được thống kê như thế nào?

Gần 100% các vụ cướp tài sản đối tượng có sử dụng hung khí. Trong mẫu 1.095 vụ án: công cụ thô sơ thông thường (gậy gỗ, gậy sắt, búa, vật cứng) chiếm 56%; vũ khí thô sơ (dao găm, lê AK, dao tự chế) chiếm 34% (371 vụ); vũ khí nóng (súng quân dụng, lựu đạn) chiếm 6% (64 vụ); ngoài ra còn có thủ đoạn sử dụng thuốc gây mê.

4. Băng nhóm phạm tội có tổ chức chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong các vụ cướp tài sản tại Hà Nội?

Luận án thống kê có 72% số vụ cướp tài sản do từ 2 đối tượng trở lên cùng phối hợp thực hiện (phạm tội có đồng phạm hoặc ổ nhóm), chỉ có 28% số vụ do 1 đối tượng thực hiện đơn lẻ. Khảo sát xã hội học cho thấy 98% phạm nhân thừa nhận có sự bàn bạc, chuẩn bị công cụ và phân công vai trò trước khi gây án.

5. Cơ cấu mức hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với tội cướp tài sản tại Hà Nội trong giai đoạn nghiên cứu ra sao?

Trong 11 năm xét xử tại Hà Nội: có 4 bị cáo bị tuyên phạt tù chung thân; mức án từ 10 đến 20 năm tù chiếm 4,9%; mức án từ 5 đến 10 năm tù chiếm 7,9%; mức án 5 năm tù chiếm 15%; và mức án dưới 5 năm tù chiếm 72% tổng số đối tượng bị xét xử.


Kết luận

Luận án "Đấu tranh phòng, chống tội cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội" của tác giả Đỗ Kim Tuyến là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về tội cướp tài sản dưới góc độ tội phạm học tại một đô thị trung tâm trong giai đoạn đầu chuyển đổi kinh tế thị trường. Thông qua việc phân tích chuỗi số liệu thống kê 11 năm (1989 – 1999) kết hợp điều tra xã hội học trên phạm nhân và khảo sát hồ sơ án thực tế, luận án đã làm sáng tỏ quy luật vận động, cơ cấu, phương thức thủ đoạn gây án và đặc trưng nhân thân của người phạm tội. Trên cơ sở đó, tác giả đã chỉ ra hệ thống nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm và đề xuất 6 nhóm giải pháp phòng ngừa, đấu tranh có tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho khoa học pháp lý hình sự và công tác giữ gìn an ninh trật tự tại Thủ đô.