Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trong nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi đơn vị kinh doanh là một tổ chức của những ngƣời sản xuất hàng hoá thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Họ đầu tƣ vốn, thuê mƣớn và sử dụng lao động để sản xuất một loại hàng hoá hay thực hiện một loại dịch vụ nhất định qua đó tìm kiếm lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trƣờng, tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hoá chủ yếu là các doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh bao gồm hoạt động kinh doanh tƣ nhân và hoạt động kinh doanh của Nhà nƣớc. Việc phân biệt hoạt động kinh doanh tƣ nhân với hoạt động kinh doanh của Nhà nƣớc căn cứ vào việc ai là ngƣời tổ chức và chỉ đạo các hoạt động này. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế do cá nhân, tổ chức đầu tƣ vốn, thành lập và tổ chức quản lý theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Ở hầu hết các nƣớc trên thế giới hiện nay, các hình thức sở hữu thƣờng đan xen nhau.
Có nhiều doanh nghiệp trong đó vừa có yếu tố tƣ nhân vừa có sự tham gia của Nhà nƣớc. Ở Việt Nam trƣớc đây, tƣ liệu sản xuất của một cơ sở sản xuất kinh doanh nào đó thƣờng thuộc sở hữu toàn dân hoặc tập thể. Hội nghị trung ƣơng VI - Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã xem xét lại các quan điểm cũ và khẳng định lại rằng: trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, các hình thức sở hữu về tƣ liệu sản xuất không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết với nhau. Các doanh nghiệp quốc doanh có thể huy động vốn cổ phần của các cá nhân và tổ chức khác.
Còn các cơ sở sản xuất - 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh doanh tƣ nhân cũng có thể liên kết với các doanh nghiệp quốc doanh nhằm mở rộng sản xuất. Do đó, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh không chỉ bao gồm các cơ sở sản xuất - kinh doanh hoàn toàn thuộc sở hữu tƣ nhân mà bao gồm cả các cơ sở sản xuất - kinh doanh có phần vốn góp của Nhà nƣớc nhƣng hoạt động của chúng lại do một hay một nhóm tƣ nhân tổ chức và chỉ đạo. Tóm lại, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là doanh nghiệp mà chủ sở hữu không phải là Nhà nƣớc, bao gồm các doanh nghiệp do tƣ nhân và các tổ chức ngoài Nhà nƣớc bỏ vốn thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo Luật Doanh nghiệp đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ 5 thông qua thì doanh nghiệp NQD hiện nay của nƣớc ta gồm: Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tƣ nhân.
DN ngoài quốc doanh ra đời và tồn tại trong nền kinh tế quốc dân đã đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia. DN loại này phát triển góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế; góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động; tạo cho ngân sách có nguồn thu ổn định và ngày càng tăng; tăng vốn đầu tƣ cho xã hội. Các doanh nghiệp đã thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở nƣớc ta. Hàng năm, các DN ngoài quốc doanh đã đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
DN ngoài quốc doanh đã tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. Khu vực DN ngoài quốc doanh đóng góp rất lớn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tƣ xã hội. Vốn đầu tƣ vào các DN ngoài quốc doanh đang trở thành nguồn vốn đầu tƣ chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phƣơng. Đây là lĩnh vực dễ tạo ra công ăn việc làm cho ngƣời lao động, linh hoạt trong thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các đặc điểm cơ bản của DNNQD: Thứ nhất, trong doanh nghiệp NQD hiệu quả sản xuất gắn liền với quyền lợi cá nhân ngƣời sản xuất. Mục tiêu lớn nhất đối với doanh nghiệp NQD là lợi nhuận. Vì vậy, doanh nghiệp rất nhạy bén trong tìm hiểu đầu tƣ và có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nào lao vào đầu tƣ để kiếm đƣợc thật nhiều lợi nhuận, thông qua những phƣơng án kinh doanh táo bạo và mạo hiểm. Đôi khi để đạt đƣợc mục đích họ có thể xem thƣờng pháp luật, không ít các doanh nghiệp NQD kinh doanh trái phép, không kê khai nộp thuế, trốn thuế, lợi dụng hoá đơn chứng từ xin hoàn thuế… gây hậu quả xấu cho xã hội.
Đặc điểm này cho thấy, công tác quản lý thuế phải đặc biệt chú trọng đến doanh nghiệp NQD, thậm chí phải chú trọng quản lý doanh nghiệp NQD hơn so với các doanh nghiệp nhà nƣớc. Thứ hai, số lƣợng đối tƣợng kinh doanh nhiều, kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực; quy mô kinh doanh đa dạng, có thể có quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ nhƣng phổ biến là quy mô vừa và nhỏ; một số doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực sản xuất do trình độ công nghệ lạc hậu nên năng suất lao động thấp… Đối tƣợng kinh doanh vừa nhiều lại trải trên diện rộng ở khắp các địa phƣơng trong cả nƣớc làm cho việc quản lý đối tƣợng nộp thuế thêm phức tạp. Thứ ba, trong doanh nghiệp NQD ngƣời lao động có trình độ văn hoá đa dạng, tự do dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp. Trong số những ngƣời lao động trong các doanh nghiệp NQD có cả những ngƣời già, cán bộ công nhân viên nghỉ hƣu, nghỉ mất sức hoặc không có việc làm… Do đó, việc tuyên truyền giải thích chính sách gặp nhiều vần đề khó khăn, công tác quản lý có nhiều trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị trƣờng… Vì vậy, khó ứng phó đƣợc với tác động của thị trƣờng bên ngoài.
Đặc điểm này cho thấy, trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp đối với doanh nghiệp NQD cần có những biện pháp tuyên truyền phù hợp và các hình thức hỗ trợ đặc biệt để doanh nghiệp NQD có điều kiện thuận lợi tuân thủ pháp luật. Thứ tư, một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp NQD có ý thức chấp hành pháp luật kém. Tình trạng kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm điều lệ đăng ký kinh doanh diễn ra tƣơng đối phổ biến. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp NQD không đăng ký thuế, nhiều doanh nghiệp thành lập nhƣng không hoạt động, còn có tình trạng lập sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ không đúng thực tế nhằm mục đích trốn thuế diễn ra tƣơng đối phổ biến.
Đặc điểm này cho thấy, trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp NQD phải vừa chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vừa nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Thứ năm, doanh nghiệp NQD có mô hình tổ chức quản lý, kinh doanh gọn nhẹ, năng động và nhạy bén, dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Đồng thời, số lƣợng lao động trong các doanh nghiệp ít và thƣờng đảm nhận chức vụ theo kiểu đa năng giúp cho chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cung cấp cho thị trƣờng trong nƣớc. Nhƣng do quy mô nhỏ nên khó cạnh tranh đƣợc trên thị trƣờng quốc tế.
Đặc điểm này cho thấy, trong công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng, phải tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp NQD thực hiện nghĩa vụ thuế và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hoạt động quản lý thuế phải chặt chẽ nhƣng không cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.
Định nghĩa pháp luật thuế Nghiên cứu quá trình hình thành pháp luật thuế ở Việt Nam cho thấy pháp luật thuế ra đời rất sớm. Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể quyền lực, sử dụng công cụ riêng là pháp luật để tập trung của cải xã hội mà không phụ thuộc vào ý chí của đối tƣợng nắm giữ của cải đó. Điều này cũng giúp cho việc phân biệt giữa luật thuế với luật ngân sách nhà nƣớc mặc dù giữa luật thuế và luật ngân sách nhà nƣớc có mối quan hệ nội tại. Quan hệ thu, nộp thuế giữa nhà nƣớc và dân cƣ phải đƣợc thực hiện dựa trên căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật thuế.
Thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc để mọi ngƣời dân và mọi tổ chức kinh tế thực hiện, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nƣớc. Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại sản phẩm do các tổ chức và ngƣời dân tạo ra, nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc [28]. Trên cơ sở quan niệm về pháp luật có thể hiểu pháp luật thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nƣớc để thực hiện các mục tiêu xác định trƣớc [34]. Quan hệ pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chính là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nƣớc và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định.
Vai trò của pháp luật thuế Vai trò của pháp luật thuế ở nƣớc ta hiện nay thể hiện ở những điểm sau: - Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.