phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Lâm Thao. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Lâm Thao. 8 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ 1.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Theo luật doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một bộ phận của nền kinh tế, lấy sở hữu tư nhân làm nền tảng và tồn tại lâu dài, bình đẳng trước pháp luật và có tính sinh lợi hợp pháp, chủ động trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật cho phép.
Doanh nghiệp ngoài quốcndoanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu của nhà nước trừ khối hợp tác xã. Các doanh nghiệpnnày là loại hình doanh nghiệp có tư liệu sản xuất, phương thức sản xuất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể người lao động sáng lập, tổ chức bộ máy quản lýncủa doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường gọn gàng linh hoạt. Do đó, đây là loạinhình doanh nghiệp năng động sáng tạo nhạy bén với thị trường. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là cácndoanh nghiệp được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường với nhiều hình thức khác nhau, hoạt động dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói chung có quy mônlớn hơn kinh tế cá thể. Mục tiêu của các doanh nghiệp này là tạo ra ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư. Quy luật chi phối hoạt động của doanh nghiệp là tái sản xuất mở rộng. Xuất pháp từ hình thức sở hữu củandoanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nhà nước không cấp vốn hoạt động cũng như không táincấp vốn mà vốn hoạt động của 1 Luật Doanh nghiệp, điều 3.
9 doanh nghiệp ngoài quốc doanh là vốn do tư nhân bỏ ra hay một nhóm các thành viên là các tổ chức, cá nhân góp lại. Số tiền vốn này nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh theonquy định của pháp luật (đựơc quy định trong luật doanh nghiệp). Mặt khác, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp ngoài quốc doanhnphải chịu trách nhiệm hữu hạn, vô hạn hay hỗn hợp cả vô hạn và hữu hạn. Điều đóntuỳ thuộc vào đặc trưng của từng loại hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà các cá nhân, tổ chức tham gia trong đó.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanhncó ngành nghề hoạt động rất phong phú đa dạng như: thương nghiệp, dịch vụ, sản xuất… Các doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức như công ty tráchnnhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hơp danh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã. Các đơn vị sản xuất kinhndoanh ngoài quốc doanh là do tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý cho nên có thể nói các doanh nghiệpnnày thường có quy mô vốn vừa và nhỏ, điều kiện vật chất còn cónnhiều khó khăn như vốn ít, lao động ít, kiến thức kinh doanh vẫn còn hạn chế do mang tính tự phát. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanhnchiếm tỷ trọng lớn, và có xu hướng ngày càng tăng nhanh qua các năm, tăng nhưng sự gia tăngnthường không ổn định có nhiều biến động, sự chuyển dịch cơ cấunkinh tế phụ thuộc vào quan điểm Nhà nước có khuyến khích các doanh nghiệp hay kiềm chế sự hoạt động của doanh nghiệp. Điều đó phần nào chonthấy sự ưu việt và phù hợp trong cơ chế thị trường của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Nó có thểnhoạt động dễ dàng trên nhiều lĩnh vực, phát triển rộng khắp. Cho thấy, Nhà nước cần tạonthêm nhiều điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế này phát triển. Vai trò của các doanh nghiệpnngoài quốc doanh có thể thấy được khá rõ. Cùng với sự gia tăng về số lượng vàncác ngành nghề kinh doanh phong phú đa dạng của các doanh nghiệp ngoàinquốc doanh đã đem lại số thu cho ngân sách nhà nước hằng năm ngày càng chiếm tỷ trọng lớn.
Trong cácnnăm qua, sự phát triển mạnh mẽ loại hình kinh tế này đã góp phần làm tăng GDP, tăng ngân sách Nhà 10 nước, qua đó thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Các doanh nghiệp ngoàinquốc doanh có thể hoạt động dễ dàng trên nhiều lĩnh vực, phát triển rộng khắp. Sự phát triển của khu vựcndoanh nghiệp ngoài quốc doanh đă mở mang ra nhiều ngành nghề, thúc đẩy lưu thông hàng hóa. Đã xuất hiện nhiều cơ sởnsản xuất, kinh doanh hoạt động nhiều hiệu quả, tạo được chỗ đứng trên thị trường.
Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển tạo điều kiện thu hút lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệpntrong xã hội. Do tính đa dạng trong loại hình của kinh tế ngoài quốcndoanh, nó có mặt trong tất cả mọi ngànhnnghề lĩnh vực, có mặt ở cả nông thôn và thành thị, có thể dễ dàng thànhnlập bởi một cá nhân, một gia đình, hay một số cổ đông liên kết lại dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần cùng với việc sử dụng kỹ thuậtnsản xuất cần tương đối nhiều lao động. Do vậy, kinh tế ngoài quốc doanh là nơintạo nhiều việc làm nhanh nhất, dễ dàng nhất. Trên thực tế, nơi giải quyết việc làmnchủ yếu và quyết định nhất cho số người đến tuổi lao động dôi dư từ cácndoanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại vẫn phải dựa vào kinh tế ngoài quốc doanh.
Sự phát triển kinh tế ngoàinquốc doanh góp phần vào quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoánđất nước. Kinh tế ngoài quốcndoanh được mở rộng và là nơi tập trung vốn, nhân lực vào các ngành kinh tế đòi hỏi nhiều hàmnlượng tri thức như công nghệ thông tin, điện tử. từ đó thúc đẩy quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Thuế thu nhập doanh nghiệpNlà một sắc thuế trong hệ thống thuế của Việt Nam. Loại Thuế này đã được hầunhết các quốc gia trên thế giới áp dụng vì nó mang lại hiệu quả cao và bao quát được nguồn thu.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuếntrực thu được tính trên lợi nhuận của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong kì kinh doanh. Lợi nhuận để làm căn cứ tính thuế bao gồm Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài 11 chính, lợi nhuận khác. Thuế thu nhập doanh nghiệpnđánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thuế thu nhập doanh nghiệp được tính dựa trên thu nhập của doanh nghiệp, sau khi đã trừ đi những chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế, chỉ khi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động có lợi nhuận, thì họ mới phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì vậy, số thuế thu được cao hay thấp chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả kinh doanh của họ.
Do đó, mức động viên vàonngân sách nhà nước đối với loại thuế này, phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được thể hiện từ báo cáo sản xuất kinh doanh của của doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế và thuế suất. “ Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau: Thu nhập Thu nhập Thu nhập được Các khoản lỗ được kết tính thuế = - + chịu thuế miễn thuế chuyển theo quy định Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác.
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau : Thu nhập Doanh Chi phí Các khoản = - + chịu thuế thu được trừ thu nhập khác ’’2 Khác với thuế giá trị gia tăng, sắc thuế cơ bản của mỗi doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốcndoanh thể hiện hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp ngoài quốc doanh nộp thuế thu nhậpndoanh nghiệpnnhiều là biểu hiện cho một doanh nghiệp lớn mạnh. Có thể nói, nộpnthuế thu nhập doanh nghiệp là trách 2 Thông tư 78/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Điều 4, trang 12. 12 nhiệm, là nghĩa vụ và cũng là vinh dự đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.2 Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Quản lý thuế là hoạt động quản lý gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức nhà nước có tư cách pháp nhân.
Do đó, quản lý thuế là một hình thức quản lý công. Quản lý thuế chủ yếu thực hiện khâu hành pháp về thuế. Có rất nhiều khái niệm về quản lý thuế, theo các cách tiếp cận khác nhau. Với phân cấp quản lý như hiện nay, thì tổ chức bộ máy nhỏ nhất quản lý doanh nghiệp của cơ quan thuế là Chi cục Thuế.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Quản lý thuế là quá trìnhnhoạch định chính sách, kế hoạch về thuế và các chương trình mục tiêu, tổ chức thực hiện, và kiểm soát đánh giá kết quả thực hiện so với mục tiêu đề ra, phát hiện những sai sót để điều chỉnh trong công tác quản lý ở những kỳ tiếp theo.
Quản lý thuế gồm những hoạtnđộng có tổ chức trong bộ máy nhà nước, chủ yếu thuộc lĩnh vực hành pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quannthuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm choncác tổ chức này, xác lập mối quannhệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu, trong việc thực thi các chínhnsách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động. Quản lý thuế quan tâm trước hết tớinviệc thực thi chính sách thuế.