Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật bảo vệ rừng 1. Khái niệm rừng và các khái niệm liên quan Trên thế giới có rất nhiều các nhà khoa học định nghĩa về rừng: Năm 1817, H.Cotta (người Đức) đã xuất bản tác phẩm Những chỉ dẫn về lâm học, đã trình bày tổng hợp những khái niệm về rừng. Ông có công xây dựng học thuyết về rừng có ảnh hưởng đến nước Đức và châu Âu trong thế kỷ 19.Morodop công bố tác phẩm Học thuyết về rừng.
Sự phát triển hoàn thiện của học thuyết này về rừng gắn liền với những thành tựu về sinh thái học. Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý. Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ,động vật và vi sinh vật.
Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài. Mê-lê-khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu. Ở Việt Nam khái niệm rừng được thể hiện tại Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, năm 2004 “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng 6 và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”.
Các yếu tố tạo thành rừng bao gồm: Thực vật rừng tự nhiên hoặc được con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc thực vật đặc trưng là những thực vật chính chiếm ưu thế; động vật rừng sống hoang dã trong rừng; vi sinh vật rừng; quần xã thực vật rừng phải có một diện tích đủ lớn để tạo ra hoàn cảnh rừng đặc trưng và những yếu tố tự nhiên, môi trường do rừng tạo ra khác với hoàn cảnh bên ngoài, độ khép tán của quần xã thực vật phải lớn hơn 0,1. Đất lâm nghiệp bao gồm: Đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có rừng được quy hoạch để gây trồng rừng; trong phạm vi quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp, thì đất lâm nghiệp chỉ giới hạn ở lớp đất mặt với độ sâu nhất định phù hợp với canh tác lâm nghiệp, không bao gồm những tài nguyên, khoáng sản và những vật thể nằm sâu trong lòng đất. Mỗi yếu tố tạo thành rừng có vai trò rất quan trọng đối với môi trường, bảo vệ sự sống của con người. Do đó để ổn định và phát triển môi trường, đặc biệc môi trường rừng cần thực hiện pháp luật bảo vệ rừng thật tốt.
Bảo vệ rừng: Các yếu tố tạo thành rừng rất đa dạng và phức tạp, do đó chưa có khái niệm đầy đủ về bảo vệ rừng. Tuy nhiên, theo sự phát triển của các yếu tố tạo thành rừng chúng ta có thể hiểu bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái. Các hoạt động bảo vệ rừng sau: Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng; phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá 7 rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật. Thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại.
Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng. Theo khái niệm trên bảo vệ rừng bao gồm cả phát triển rừng. Theo quy định của khoản 3 Điều 3 Luật BV&PTR thì: Phát triển rừng là việc trồng rừng mới, trồng lại rừng sau khi khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và giá trị của rừng. Thực hiện pháp luật bảo vệ rừng: Là việc triển khai thực hiện, chấp hành về các quy định bảo vệ và phát triển rừng nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái.
Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ rừng 1. Khái niệm Trên thế giới có rất nhiều quan niệm về pháp luật: Cicero (106 – 43. CN), một triết gia và luật gia thời La Mã cổ đại khẳng định, pháp luật là “sự phân biệt giữa những thứ công bằng và bất công.” Nói cách khác, theo quan điểm của Cicero, luật và công lý là đồng nhất. Augustine(354-430), triết gia thần học La Mã thì cho rằng chỉ có luật công bằng mới là luật (nguyên văn “luật bất công không phải là luật”), với Thomas Aquinas (1225-1275), triết gia thần học người Ý, pháp luật không phải là gì khác hơn là “một mệnh lệnh của lý trí vì mục tiêu tốt đẹp của cộng đồng”.
John Locke (1632-1704), triết 8 gia người Anh, cha đẻ của chủ nghĩa tự do cổ điển (classical liberalism), pháp luật “không là gì khác hơn chính là các giới hạn đối với cá nhân thông minh và tự do trong việc theo đuổi lợi ích hợp lý của mình, và đặt ra yêu cầu không vượt quá yêu cầu đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng người chịu sự điều chỉnh của luật đó.”, với Jean Jacques Rousseau (1712-1778), triết gia khai sáng người Thụy Sỹ, một trong những cha đẻ của thuyết khế ước xã hội, pháp luật là “đạo luật thể hiện ý chí chung của cộng đồng”. John Austin (1790- 1859), triết gia pháp luật người Anh, pháp luật là “những yêu cầu của đấng có chủ quyền” Roscoe Pound (1870-1964), luật gia nổi tiếng của Hoa Kỳ, nguyên Hiệu trưởng trường Luật Đại học Harvard, pháp luật là “một hình thức kiểm soát xã hội đặc biệt trong một xã hội đã có hình thức tổ chức chính trị ở bậc cao. Đó là hình thức kiểm soát xã hội thông qua việc áp dụng một cách có trật tự và hệ thống trấn áp trong xã hội ấy. Triếc học Mác – Lênin về Nhà nước và pháp luật, pháp luật là một hiện tượng lịch sử vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước, nhằm duy trì và bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị.
Ở Việt Nam theo GS. Hoàng Thị Kim Quế khẳn định “khó có thể đưa ra hay đánh giá là định nghĩa pháp luật nào là duy nhất đúng. Mà phải tích hợp ưu việt của các trường phái: chú trọng pháp luật thực định, pháp luật tự nhiên, pháp luật phải phù hợp lý trí công bằng, phải kiểm nghiệm từ trong thực tiễn. Trên quan điểm hiện đại về sứ mệnh, vai trò và giá trị của pháp luật, có thể đưa ra định nghĩa pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, được Nhà 9 nước đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục đích bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và sự phát triển bền vững của xã hội.” Cũng như các pháp luật trong lịch sử, pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng có những chức năng tổ chức, điều chỉnh, thiết lập duy trì trật tự bảo vệ xã hội, giải quyết tranh chấp xung đột trong xã hội, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Pháp luật về bảo vệ rừng là toàn bộ hệ thống pháp luật nó bao gồm những hoạt động của cơ quan quản lý bảo vệ rừng, người đại diện cho cơ quan quản lý bảo vệ rừng, những đối tượng tham gia vào quản lý bảo vệ rừng các cơ quan chuyên môn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và bao gồm các cơ quan trực thuộc sở Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm, Hạt phúc kiểm lâm sản, Ban quản lý rừng phòng hộ (đơn vị chủ rừng). Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và Phát triển rừng, quy định đối tượng áp dụng Nghị định này áp dụng đối với cơ quan Nhà nước; tổ chức; cộng đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, hoặc đơn vị tương đương (sau đây gọi tắt là cộng đồng dân cư thôn) hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến việc quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng tại Việt Nam. Ngoài ra, theo Điều 2 Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08 tháng 2 năm 2012 đã phân cấp quản lý cho các chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có rừng, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có rừng. 10 Để thực hiện có hiệu quả thực hiện quản lý bảo vệ rừng pháp luật quy định cụ thể, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đối tượng tham gia quản lý bảo vệ rừng.