Luận văn thạc sĩ về thơ Phùng Quán và tư duy nghệ thuật

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh thơ phùng quán từ góc nhìn tư duy nghệ thuật, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

102
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Một số thuật ngữ sử dụng trong luận văn

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: Khái quát về tư duy nghệ thuật và quá trình sáng tác của Phùng Quán

1.1. Khái niệm tư duy nghệ thuật và tư duy thơ

1.2. Tư duy nghệ thuật

1.3. Quá trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Phùng Quán

1.4. Sơ lược về tiểu sử

1.5. Sự nghiệp văn học

1.6. Tìm hiểu thơ Phùng Quán từ góc độ tư duy nghệ thuật

2. CHƯƠNG 2: Nhân vật trữ tình và cảm hứng chủ đạo trong thơ Phùng Quán

2.1. Cái tôi trữ tình

2.2. Cái tôi công dân

2.3. Cái tôi nội cảm

2.4. Hình ảnh người mẹ

2.5. Cảm hứng chủ đạo trong thơ Phùng Quán: Phê phán, đấu tranh đến cùng với những mặt trái của xã hội

3. CHƯƠNG 3: Biểu tượng và ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Phùng Quán

3.1. Biểu tượng nghệ thuật

3.2. Liên tưởng, tưởng tượng

3.3. Một số biểu tượng đặc sắc

3.4. Ngôn ngữ nghệ thuật

3.5. Ngôn ngữ đời sống, khẩu ngữ

3.6. Ngôn ngữ triết lí

3.7. Cấu tứ và thể loại

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thơ Phùng Quán và tư duy nghệ thuật

Thơ Phùng Quán là một phần quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của ông không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm của con người mà còn thể hiện những vấn đề xã hội sâu sắc. Tư duy nghệ thuật của Phùng Quán được hình thành từ những trải nghiệm cá nhân và bối cảnh lịch sử, xã hội mà ông sống. Nghiên cứu thơ Phùng Quán từ góc nhìn tư duy nghệ thuật giúp hiểu rõ hơn về cách ông thể hiện cảm xúc và tư tưởng qua ngôn ngữ thơ ca.

1.1. Khái niệm tư duy nghệ thuật trong thơ ca

Tư duy nghệ thuật là cách mà tác giả nhìn nhận và thể hiện thế giới xung quanh. Trong thơ Phùng Quán, tư duy này thể hiện qua việc sử dụng hình ảnh, biểu tượng và ngôn ngữ độc đáo. Ông không chỉ đơn thuần mô tả mà còn khơi gợi cảm xúc và suy tư cho người đọc.

1.2. Tiểu sử và sự nghiệp văn học của Phùng Quán

Phùng Quán sinh ra trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Ông bắt đầu sự nghiệp văn học với nhiều tác phẩm nổi bật, trong đó có thơ ca. Sự nghiệp của ông gắn liền với những thăng trầm của văn học Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn Nhân văn-Giai phẩm.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu thơ Phùng Quán

Nghiên cứu thơ Phùng Quán gặp nhiều thách thức do sự thiếu hụt tài liệu và sự đánh giá không công bằng từ các nhà phê bình. Nhiều tác phẩm của ông chưa được khai thác đúng mức, dẫn đến việc hiểu sai về giá trị nghệ thuật của thơ ông. Việc thiếu sự chú ý từ giới nghiên cứu cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Những khó khăn trong việc tiếp cận tác phẩm

Nhiều tác phẩm của Phùng Quán không được công bố rộng rãi, khiến cho việc nghiên cứu gặp khó khăn. Ngoài ra, những đánh giá tiêu cực từ trước cũng ảnh hưởng đến cách nhìn nhận hiện tại về thơ ông.

2.2. Đánh giá không công bằng từ giới phê bình

Thơ Phùng Quán thường bị đánh giá thấp hơn so với các tác giả khác trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm. Điều này dẫn đến việc nhiều giá trị nghệ thuật của ông chưa được công nhận đúng mức.

III. Phương pháp nghiên cứu tư duy nghệ thuật trong thơ Phùng Quán

Để nghiên cứu tư duy nghệ thuật trong thơ Phùng Quán, cần áp dụng các phương pháp phân tích văn bản, so sánh và đối chiếu với các tác giả khác. Phương pháp này giúp làm rõ hơn những đặc điểm nghệ thuật và tư tưởng trong thơ ông.

3.1. Phân tích văn bản và ngôn ngữ nghệ thuật

Phân tích văn bản giúp làm nổi bật các yếu tố ngôn ngữ, hình ảnh và biểu tượng trong thơ Phùng Quán. Điều này cho phép người đọc hiểu sâu hơn về cách ông thể hiện tư duy nghệ thuật của mình.

3.2. So sánh với các tác giả cùng thời

So sánh thơ Phùng Quán với các tác giả khác trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm giúp làm rõ những điểm khác biệt và tương đồng trong tư duy nghệ thuật. Điều này cũng giúp xác định vị trí của ông trong bối cảnh văn học thời kỳ đó.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu thơ Phùng Quán

Nghiên cứu thơ Phùng Quán không chỉ giúp làm rõ tư duy nghệ thuật của ông mà còn có thể ứng dụng vào việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Những kết quả từ nghiên cứu này có thể giúp sinh viên và người yêu thơ hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

4.1. Giá trị nghệ thuật trong giảng dạy văn học

Việc đưa thơ Phùng Quán vào chương trình giảng dạy giúp sinh viên tiếp cận với những giá trị nghệ thuật độc đáo. Điều này cũng khuyến khích việc nghiên cứu sâu hơn về các tác phẩm của ông.

4.2. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới

Nghiên cứu này hy vọng sẽ đóng góp một cái nhìn mới về thơ Phùng Quán, từ đó khuyến khích các nghiên cứu tiếp theo về tư duy nghệ thuật trong văn học Việt Nam.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu thơ Phùng Quán

Nghiên cứu thơ Phùng Quán từ góc nhìn tư duy nghệ thuật mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học. Tương lai của nghiên cứu này cần được tiếp tục khai thác để làm rõ hơn những giá trị nghệ thuật và tư tưởng trong thơ ông.

5.1. Tương lai của nghiên cứu văn học Việt Nam

Nghiên cứu thơ Phùng Quán có thể là một phần quan trọng trong việc xây dựng lại lịch sử văn học Việt Nam. Những nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc làm rõ hơn các giá trị nghệ thuật của ông.

5.2. Khuyến khích nghiên cứu sâu hơn về tư duy nghệ thuật

Cần khuyến khích các nhà nghiên cứu trẻ tiếp tục khai thác tư duy nghệ thuật trong thơ Phùng Quán. Điều này sẽ giúp làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam hiện đại.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh thơ phùng quán từ góc nhìn tư duy nghệ thuật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA PHÙNG QUÁN 1. Khái niệm tƣ duy nghệ thuật và tƣ duy thơ 1. Tƣ duy nghệ thuật Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng. Tư duy của con người có bản chất xã hội, chịu sự chế ước của các nhu cầu xã hội và sử dụng ngôn ngữ, là cái chỉ tồn tại trong xã hội loài người.

Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng. Tư duy hướng đến sự thành thục, khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc. Tư duy nghệ thuật là tư duy sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật. “Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật.

Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định. Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ. Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng và có thể trực quan được. Cơ sở của nó là tình cảm.

Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính định giá ước lệ, nó hướng tới sự nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính, mang nội dung khả nhiên, có thể cảm thấy, theo xác suất khả năng và tất yếu. Như vậy, tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo trong việc lựa chọn biểu tượng nghệ thuật để truyền tải cách tư duy, cách nhìn thế giới của mình. Trong sáng tạo nghệ thuật, tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù. Cái tôi nghệ sĩ tham gia vào quá trình tư duy với chức năng điều khiển, điều chỉnh tư duy đi theo đúng quy luật nhận thức và đặc trưng của sáng tạo nghệ thuật.

Nó nội quan hóa thực tại và tự biểu hiện mình qua hình tượng nghệ thuật. Đó là sự thống nhất hài hòa giữa cảm tính và lí tính, giữa chủ quan và khách quan. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tư duy thơ là sự thể hiện cái tôi đang tư duy Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật.

Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự biểu hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy. Trong Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành cho rằng: “Thơ trữ tình là “bản tốc kí nội tâm”. Nghĩa là sự tuôn trào của hình ảnh, từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo. Chính vì vậy, về bản chất, mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình.

166] Theo định nghĩa của Karx Marx thì “cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người, có quan hệ tích cực với thế giới và với chính bản thân mình. Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình. Như vậy, cái tôi vừa mang bản chất xã hội, vừa mang dấu ấn cá nhân. Cái tôi là sự thể hiện của chủ thể trong nhận thức và sáng tạo, là nền tảng của sự sáng tạo.

Vì vậy, với một hoạt động đặc trưng là sáng tạo nghệ thuật, cái tôi đương nhiên giữ vai trò chủ đạo. Nhân vật trữ tình trong sáng tạo nghệ thuật là sự biểu hiện trực tiếp của cái tôi đang tư duy. Trong thơ trữ tình, cái tôi trữ tình đóng một vai trò quan trọng. Theo định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học, thơ trữ tình “chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình.

Trong đó, cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thực hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình. Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học. 317] Cái tôi trữ tình có nhiều biểu hiện nhưng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, nó được biểu hiện dưới hai dạng chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp.

Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ. Tuy nhiên, do sự chi phối quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định. Thứ nhất là cái tôi trữ tình trực tiếp, cái tôi thứ nhất, khi nó phản ánh tình cảm của cái tôi, ta có tư duy thơ thiên về hướng nội, khi nó phản ánh khách thể, ta có tư duy thơ thiên về hướng ngoại. Hướng nội và hướng ngoại trong tư duy thơ không đối lập mà bao hàm.

Có hướng nội trực tiếp, và có hướng nội gián tiếp; hướng ngoại cũng có hướng ngoại trực tiếp và hướng ngoại gián tiếp. Giữa chúng có mối quan hệ tương đồng, tuy nhiên tư duy thơ lúc thiên về chủ thể, lúc thiên về khách thể. “Hướng ngoại gián tiếp là đặt chủ thế ở vị trí thứ yếu, không quan trọng. Mục đích phản ánh của thơ là hiện thực khách quan.

Cái tôi, chỉ là phương tiện phản ánh hiện thực mà thôi. Nhưng cái tôi ở đây là cái tôi hiện thực, cái tôi trữ tình không đối lập với cái tôi tác giả, phản ánh những tình cảm điển hình, những trạng thái tiêu biểu của cái tôi trong mọi liên hệ đối với thực tại. Đặc điểm này dễ bị lẫn với đặc điểm hướng nội gián tiếp. Nhưng hướng nội gián tiếp thì mục đích biểu hiện là cái chí khí cá nhân, tình cảm cá nhân.

Tình cảm, chí khí ấy không mang tính chất đại diện cố ý cho cái chung. Còn hướng ngoại gián tiếp thì cái riêng được nhấn mạnh ở khía cạnh đại diện cho cái chung chứ không phải được nhấn mạnh ở phía đặc thù. “Như chúng ta đã biết, thơ trữ tình được coi là “những bản tốc kí nội tâm”. Nhưng nội tâm không chỉ là những lời độc thoại.

Nội tâm cũng được biểu hiện bằng hình ảnh, bằng biểu tượng trực quan. Khi trong thơ không còn những sự lí giải, biện luận có tính chủ quan mà chỉ giữ lại những biểu tượng, những hình ảnh hiện thực khách quan, cái tôi trữ tình ẩn khuất đi để cho hình ảnh tự vận động… thì ta nói tư duy thơ hướng ngoại hoàn toàn, hay hướng ngoại trực tiếp. 218] Một điểm cần nhấn mạnh là cái tôi trữ tình không hoàn toàn đồng nhất và trùng khít với cái tôi của nhà thơ mà là sự thể hiện tinh thần và tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ. Thứ hai là cái tôi trữ tình gián tiếp, cái tôi thứ hai, hay cái tôi đã được nghệ thuật hóa trong tác phẩm.

Cái tôi này là cái tôi nhập vai, mang nhiều vai. Hà Minh Đức, đó là trường hợp nhập vai vào một nhân vật nào đó, có thể có thật (ví dụ như trong bài Mẹ Tơm – Tố Hữu). Nhưng cái tôi trực tiếp vẫn có mặt trong 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác phẩm, biểu hiện ở cách cảm cách nghĩ. Và ngay từ cảm hứng chủ đạo đến giọng điệu thi ca vẫn mang dấu ấn của chủ thể sáng tạo.

Tư duy thơ là sự khôi phục sáng tạo các biểu tượng trực quan để bộc lộ nhận thức chủ quan Thơ có một khả năng biểu đạt phong phú nhờ hệ thống biểu tượng đa dạng. Biểu tượng trong thơ vừa mang tính chất biểu tượng thính giác, vừa mang tính biểu tượng thị giác. Chính vì thế mà trong thơ vừa có nhạc vừa có họa. Trong cuốn Từ điển triết học của M.Iudin, biểu tượng được hiểu là “hình ảnh cảm tính cụ thể về những hiện tượng của thế giới bên ngoài.

Biểu tượng cùng với cảm xúc và tri giác tạo nên nhận thức cảm tính… Tri giác phản ánh một sự vật riêng lẻ tác động vào giác quan của chúng ta trong những trường hợp cụ thể nhất định. Biểu tượng phản ánh khái quát hơn, trừu tượng hơn. Tư duy hình tượng là đặc trưng của nghệ thuật. “Tư duy logic thường thoát khỏi những biểu tượng trực quan mà chủ yếu vận dụng khái niệm.

Tư duy khoa học mang tính khách quan. Ở tư duy hình tượng, các biểu tượng trực quan do quá trình quan sát, thu nhận được là công cụ trực tiếp của tư duy. Có thể coi tư duy hình tượng là quá trình khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan. Sáng tạo các biểu tượng mới và thể hiện lại dưới một hình thức cụ thể.

Còn tư duy toán học, tư duy logic là làm biến đổi các mối quan hệ đã biết để tìm các mối quan hệ mới giữa các khái niệm, các đại lượng. 28] Cụ thể trong văn học, biểu tượng văn học “là những hình ảnh, tín hiệu ngôn ngữ trong tác phẩm có tính khái quát và phổ biến đến mức có khả năng gợi ra một hình ảnh khác hoặc một số phẩm chất, một số đặc trưng khác với đối tượng biểu hiện. 20] Trong Từ điển thuật ngữ văn học, biểu tượng được định nghĩa là “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc của một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn vừa khái quát được bản chất của hiện tượng, vừa thể hiện một quan điểm, một tư tưởng, hay triết lí sâu xa về con người và cuộc đời…” [ 16, tr.

23] Tuy có tính khái quát và phổ biến, nhưng biểu tượng không mang giá trị cũ 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mòn, mà luôn sống động nhờ sự làm mới biểu tượng từ trong tư duy của người nghệ sĩ. Biểu tượng trong văn học là những hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm nhưng mang những ý nghĩa quy ước của nhà văn hoặc của người đọc. Biểu tượng mang tính đa nghĩa, tính văn hóa truyền thống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thơ Phùng Quán từ góc nhìn tư duy nghệ thuật" mang đến cái nhìn sâu sắc về tư duy nghệ thuật trong thơ ca của Phùng Quán, một trong những nhà thơ nổi bật của văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ phân tích các yếu tố nghệ thuật trong thơ mà còn khám phá cách mà những tư tưởng và cảm xúc của tác giả được thể hiện qua ngôn ngữ và hình ảnh. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Phùng Quán, từ đó có thể áp dụng vào việc phân tích và cảm nhận thơ ca nói chung.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học và nghệ thuật, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Khóa luận tốt nghiệp ngữ văn tìm hiểu về sức hấp dẫn của thơ nôm hồ xuân hương, nơi khám phá sức hấp dẫn của thơ nôm, hay Luận văn thạc sĩ ussh thơ trần vạn giã từ góc nhìn tư duy nghệ thuật, giúp bạn hiểu thêm về tư duy nghệ thuật trong thơ ca khác. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ussh phương thức ứng xử với chữ nôm và văn học nôm thời lý trần sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về chữ nôm và văn học trong bối cảnh lịch sử. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào thế giới nghệ thuật và văn học Việt Nam.