Chương 1: Lược thuật quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm và văn học Nôm thời Lý – Trần Chương 2: Những dấu ấn tiêu biểu của văn học Nôm thời Lý – Trần (Qua thư tịch lịch sử và sáng tác văn chương) Chương 3 : Ngả đường hoàn thiện chữ Nôm và văn học Nôm thời Lý – Trần Phần kết luận Thư mục tài liệu tham khảo Phụ lục Phương thức ứng xử với chữ Nôm và văn học Nôm thời Lý - Trần 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Hoàng Thị Tuyết Mai PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 LƢỢC THUẬT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỮ NÔM VÀ VĂN HỌC NÔM THỜI LÝ – TRẦN 1. Chất nền của văn học thời Lý – Trần Như đa số nền văn học khác trên thế giới văn học Việt Nam không có may mắn ra đời trên chính cái nôi văn hóa vùng mà đóng vai trò như là nền văn học thứ sinh. Ra đời muộn trên cái nền vững chãi và rực rỡ của văn hóa văn học Trung Quốc, văn học Việt Nam vừa kế thừa những gì có sẵn vừa trăn trở kiếm tìm phương thức tồn tại riêng trong tâm thế mong manh của nền độc lập mới xác lập và sức nặng nghìn năm văn hóa phương Bắc đè nặng trên vai. Việc một nền văn học đóng vai trò kiến tạo vùng cung cấp ngôn ngữ văn học và hệ thống thể loại cho các nền văn học được tích hợp từ lâu đã là một thực tế được giới nghiên cứu văn học trên toàn thế giới đi sâu tìm hiểu [97].
Văn học Việt Nam cũng nằm trong qui luật ấy. Dù giành được độc lập vào năm 938 sau hơn 11 thế kỷ bị Trung Quốc đô hộ, nhưng Việt Nam chẳng bao giờ thoát khỏi sự chi phối của ngôn ngữ cũng như chữ viết của người Hán: chúng vẫn tiếp tục chiếm vị trí chính thức trong gần một nghìn năm. Chỉ có thể giải thích bằng sức hấp dẫn chính đáng và tất yếu của nền văn hóa, văn học kiến tạo vùng quá lớn khiến người Việt không dễ dàng phủ nhận và khó lòng bứt phá. Vả chăng thừa hưởng những thành tựu văn hóa của nền văn minh Trung Quốc trong bối cảnh lịch sử ấy là một lựa chọn khôn ngoan và là tất yếu khách quan, dẫu không muốn thừa nhận cũng khó lòng phủ định.
GS Chu Hữu Quang6– nhà văn tự học lão thành của Trung Quốc cho rằng: Văn hóa 6 Gs Chu Hữu Quang là Ủy viên Ban Công tác ngôn ngữ văn tự Quốc gia Trung Quốc. Ông sinh năm1906 tại tỉnh Giang Tô. Ông là nhà văn tự học hiện đại hàng đầu Trung Quốc, với những đóng góp nổi trội ở các lĩnh vực: Hán tự học, cải cách văn tự Hán, văn tự học đại cương, lịch sử văn tự thế giới, quy luật phát triển văn tự thế giới, văn tự học so sánh Phương thức ứng xử với chữ Nôm và văn học Nôm thời Lý - Trần 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Hoàng Thị Tuyết Mai cũng như nước vậy, không ngừng chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Suốt hai ngàn năm qua văn hóa chữ Hán lan tỏa khắp bốn phương, hình thành nên một vùng văn hóa chữ Hán rộng lớn ở Đông Á…Có một qui luật tồn tại cho tất cả những nền văn học bứng trồng: Khi chưa đủ sức tạo ra những sản phẩm đồng đẳng với những sản phẩm của một nền văn hóa đã trưởng thành thì cách làm tốt nhất là bắt chước họ để tạo ra những sản phẩm giống họ.
Trong quá trình tạo ra sản phẩm ấy sẽ tự in dấu văn hóa bản thể của khu vực mình cũng như những gì thuộc về cá nhân sáng tạo của mình lên sản phẩm đó. Cho nên, việc người Việt mượn chữ Hán và các thể loại văn học Trung Quốc rồi chữ Nôm và văn học Nôm ra đời nằm trong qui luật ấy. Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, là hình thức biểu hiện của văn học. Có một sự thật tồn tại ở Việt Nam hàng mấy thế kỉ là có hai loại ngôn ngữ cùng tồn tại để bổ khuyết cho nhau phục vụ đời sống nhiều mặt của con người: chữ Hán và chữ Nôm.
Khi bàn đến chính trị, lịch sử, luân lí người ta biểu đạt bằng chữ Hán; khi biểu đạt những cảm xúc hằng ngày, các hiện tượng đời sống, người ta dùng chữ Nôm. Chính vì vậy mà hai bộ phận văn học viết bằng hai thứ chữ khác nhau (nhưng liên quan mật thiết và chịu sự chế ước lẫn nhau) luôn tồn tại song song, không bộ phận nào thôn tính được bộ phận nào, trái lại, chúng lại xâm nhập và bổ sung cho nhau. Gắn chặt với hệ thống giáo dục và Tống nho (thay thế đạo Phật như là hệ tư tưởng chính thức của chế độ quân chủ ở Việt Nam từ thế kỷ XV), chữ Hán đã cung cấp cho giai cấp thống trị một công cụ vô cùng hiệu quả: nó tạo ra đường ranh phân biệt thiểu số sĩ phu với quần chúng không biết chữ. Việc truyền thông bằng ngôn ngữ bị chữ viết điều kiện hoá, truyền thông bằng miệng và truyền thông bằng chữ viết khác nhau sâu sắc trong một xã hội có chữ viết, sự khác nhau đó đạt đến mức tối đa khi chữ viết không biểu thị các âm thanh mà biểu thị các ý niệm như chữ Hán.
Ở Việt Nam thời xưa, thêm Phương thức ứng xử với chữ Nôm và văn học Nôm thời Lý - Trần 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Hoàng Thị Tuyết Mai vào sự khác biệt giữa truyền thông bằng miệng và truyền thông bằng chữ viết lại còn có thêm sự khác nhau về ngôn ngữ: giữa tiếng Hán Việt và tiếng Việt. Do đó khoảng trống ngăn cách giữa giới nho sĩ và quần chúng không biết chữ Hán trở nên khó vượt qua. Với người Việt, chữ Hán lúc này vừa là sự hoài vọng của người Việt về một thời điểm “sống” của chữ Hán trong quá khứ, vừa là sự sống đang hiện hữu của thứ ngôn ngữ chịu sự tác động hiện thời của đời sống người Việt. Như thế, bản thân sự vay mượn chữ Hán cũng làm cho ngôn ngữ Hán không chỉ là chữ Hán mà có sự biến đổi trong điều kiện của Việt Nam, chưa kể sự ra đời và hoàn thiện của chữ Nôm.
Có thể thấy rằng trong năm thế kỉ đã qua (X – XV), ngôn ngữ dùng trong đời sống và sáng tạo văn chương luôn nằm trong thế phải vận động, phải cựa quậy, phải nỗ lực và luôn khao khát đến đích của sự ổn định và hoàn thiện. Sự ra đời của chữ Nôm là một tất yếu lịch sử Tự thủa xa xưa, khi kết tập với nhau thành bầy đàn, phương tiện để gắn kết giữa con người với nhau là tiếng nói. Và khi thứ tiếng nói đã được sử dụng thật thuần thục thì sản sinh ra nhu cầu ghi lại những ý tưởng lời nói của mình, khi ấy chữ viết mới thật sự ra đời. Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện duy nhất thoả mãn được tất cả các nhu cầu của con người.
Sở dĩ ngôn ngữ trở thành một công cụ giao tiếp vạn năng của con người vì nó hành trình cùng con người, từ lúc con người xuất hiện cho đến tận ngày nay. Phương tiện giao tiếp ấy được bổ sung và hoàn thiện dần theo lịch sử tiến hoá của nhân loại, theo những trào lưu và xu hướng tiếp xúc văn hoá có từ cổ xưa đến hiện tại. Ngày nay, hầu như không còn ngôn ngữ nào là chưa có ảnh hưởng của nền văn hoá ngoại lai. Thật ra, khó có thể nói là chữ viết đã ra đời “nhất thành bất biến“ như chúng ta thấy ngày nay.
Nói cách khác, tất cả các ngôn ngữ đang tồn tại đều đã từng trải qua những quá trình tiếp xúc văn hoá với ngôn ngữ khác bên ngoài Phương thức ứng xử với chữ Nôm và văn học Nôm thời Lý - Trần 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Hoàng Thị Tuyết Mai Lịch sử chữ viết đã trải qua bao phen hưng phế, từ hình thức thắt nút dây như đã được ghi nhận trong Kinh Dịch: “Thượng cổ kết thằng nhi trị, hậu thế thánh nhân dịch chi dĩ thư khế, bách quan dĩ trị, vạn dân dĩ sát, cái thủ chư Quải…” nghĩa là: Thời thượng cổ thắt nút dây (để ghi nhớ các sự việc) mà cai trị; thánh nhân đời sau thay đổi (cách thức) dùng văn tự, khế ước mà cai trị trăm quan, kiểm soát dân chúng, là lấy lượng ở quẻ Quải 7 … đến hình thức sâu chuỗi vỏ sò có màu sắc khác nhau như người da đỏ Iroquois đều là cách kí hiệu hóa để ghi lại ý tưởng mà người xưa muốn truyền đạt cho nhau, hoặc đơn giản là để ghi dấu lại cho nhớ. Những hình thức đó đều là những dạng sơ khai của ngôn ngữ. Tiến thêm một bước nữa là hình thức chữ viết bằng hình vẽ mà ta còn có thể thấy trong các văn bản cổ trên đá của người cổ Ai Cập từ hơn 4000 năm trước, hoặc là những nét kí hiệu vẽ trên đất sét dùng để đếm gia súc (còn gọi là chữ hình nêm) của người Sumer cũng khoảng thời kì hơn 3500 năm trước8. Chữ viết ra đời đã góp phần rất lớn vào việc phát triển ngôn ngữ con người, tạo ra một bước nhảy vọt quan trọng: ghi lại tiếng nói để lưu giữ hoặc truyền đạt trong không gian rộng hơn tầm hạn của tiếng nói.
Giữa tiếng nói và chữ viết có mối quan hệ hữu cơ không thể tách bạch, không thể có chữ viết nếu không tồn tại tiếng nói trước đó. Tương quan giữa tiếng nói và chữ viết như vậy là tương quan trước - sau. Và chữ viết chỉ có thể xem là những kí hiệu như bao nhiêu hệ thống kí hiệu khác do con người chế tác để biểu đạt một thứ nội dung nào đó trong tư duy tiến hóa của con người. 7 Trích Chương II: Đạo của người quân tử 8.
Theo Bách khoa lịch sử thế giới: Những bản viết bằng chữ hình nêm (cuneiform) là bản văn sớm nhất ở Syria, bao gồm sử liệu, sách từ nguyên (kể cả bộ đại từ điển Eblaite – Sumer) , tài liệu toán học, chiếu chỉ và các thư tín triều đình cũng như các tác phẩm văn học và thần thoại. Khoảng năm 1400 TCN, những người thảo văn tự ở Ugarit (Rar Shamra) hình thành bảng chữ cái cuneiform. Các tác phẩm văn học xứ Canaa, kể cả các sách về pháp luật, lịch sử, tôn giáo và thần thoại đều được viết theo kiểu chữ cuneiform này.