Chương 1: Đặt vấn dé, ý nghĩa của dé tai và phạm vi nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Tổng quan về tình hình chung của xí nghiệp Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Phân tích tình hình san xuất kinh doanh của xí nghiệp, tổng quan về tình hình nước chấm trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nước tương Nam Dương và các giải pháp tăng cường Marketing của xí nghiệp nước chấm Nam Dương. Chương 5: Kết luận - Kiến nghị Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về Marketing 2.1 Khái niệm Marketing Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về Marketing, nhưng không có một khái niệm thống nhất vì Marketing luôn vận động và phát triễn. Marketing được hiểu là những hoạt động trên thị trường nhằm tạo ra sự trao đổi với mục đích làm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của con người.
Theo CIM (Uk`s Charter Institue of Marketing): Cho rang “Marketing là quá trình quan trị nhằm nhận biết, dự đoán và đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách hiệu quả và có lợi”. TheoAMA (American Association Marketing 1985): Cho rằng “Marketing là tiến trình kế hoạch và thực hiện sự sáng tạo định giá, xúc tiến và phối hợp ý tưởng, hàng hoá, dịch vụ để tạo ra sự thay đổi và thoả mãn những mục tiêu cá nhân của tổ chức”. Theo Philip Kotler: “Marketing là sự phân tích, tổ chức, kế hoạch hoá và kiểm tra những khả năng câu khách của công ty, cũng như những chính sách và hoạt động với quan điểm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của nhóm khách hàng đã lựa chọn. Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Marketing là quá trình phát hiện, gợi mở ra các nhu cầu của khách hàng và từ đó tìm cách thỏa mãn các nhu cầu đó, đồng thời mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Từ những khái niệm trên ta có thể rút ra những nhận xét: Marketing đáp ứng nhu cầu của người mua lẫn người bán thông qua đáp ứng nhu cau của khách hang mà doanh nghiệp đạt được lợi nhuận mong muốn. Mọi hoạt động Marketing đều hướng theo khách hàng, Marketing phải nghiên cứu, dự đoán để nhận biết và thỏa mãn nhu cầu mong đợi của khách hàng. Bản chất của Marketing là sự mong đợi, chỉ bán cái khách hàng cần chứ không bán cái doanh nghiệp sẵn có.2 Vai trò Marketing đối với doanh nghiệp Nhiệm vụ của Marketing là phát hiện và thỏa mãn nhu cầu khách hàng, vì thế ngày nay sự lựa chọn hoặc quyết định mua hay không mua của khách hàng tuỳ thuộc vào sản phẩm, giá, phân phối và biện pháp truyền thông khuyến mãi vì thế Marketing ra đời .2 Môi trường Marketing. Một chiến lược Marketing hữu hiệu phải tính đến tình hình kinh tế chung, hoàn cảnh chính trị, các yếu tố về nhân khẩu học, yếu tố về văn hoá - xã hội, phải xem các nhà cạnh tranh dang làm gì va làm như thế nào để phục vụ khách hàng, tình hình cung ứng máy móc thiết bị, nguyên vật liệu ra sao và nhà cung ứng nào có lợi, đáng tin cậy.
những yếu tố đó là yếu tố môi trường Marketing. Có thể chia yếu tố môi trường ra làm ba loại:Môi trường vi mô, môi trường vĩ mô và môi trường nỘi Vi.1 Môi trường vĩ mô Tất cả nhóm yếu tố môi trường Marketing vi mô đều hoạt động trong khuôn khổ môi trường Marketing vĩ mô rộng lớn hơn đó là yếu tố kinh tế, nhân khẩu, tự nhiên, khoa học — kỹ thuật, chính trị, văn hóa. Các yếu tố này luôn thay đổi và có thể mở ra khả năng rộng lớn hơn cơ hội thành công cho công ty. Đó là những lực lượng ngoài khả năng kiểm soát của công ty mà công ty phải nghiên cứu theo dõi để có phan ứng kịp thời.
Sự chi phối môi trường Marketing vĩ mô đến hoạt động Marketing của công ty bởi các yếu tố sau: a) Môi trường kinh tế Có sức mua mới có thị trường, tổng sức mua phụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, thu nhập của dân cư tăng lên ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của ho. Vì vậy phân tích yếu tố kinh tế sẽ giúp cho doanh nghiệp nhận dạng được khách hàng của mình. Đối với các nước phát triển khi thu nhập tăng lên thì % dành cho chi tiêu giải trí, văn hoá — giáo duc, chăm sóc sức khoẻ, phương tiện đi lại tăng lên (theo nghiên cứu của nhà thống kêngười Đức Ernst Enge) Với nhận thức thị trường hàng tiêu dùng quyết định thị trường công nghiệp, nên khi nhu cầu thị hiếu cũng như quy mô cơ cấu thị trường hàng tiêu dùng thay đổi kéo theo sự thay đổi của thị trường hàng công nghiệp. b) Môi trường dân số Cấu trúc dân số theo độ tuổi: Nghiên cứu dân số theo độ tuổi giúp nhà tiếp thị biết được cơ cấu thị trường theo độ tuổi cũng như hành vi của khách hàng ở từng độ tuổi khác nhau.
Dân số nước ta vẫn là dân số trẻ vì tuổi thọ chưa cao, tuổi già tính từ 60 tuổi trở lên chỉ chiếm 8,51%( các nước phát triễn trên 29% là người già), số còn đi học là 56. Nhu cầu, ý muốn, hành vi mua hàng của người già khác người trẻ. Số trẻ chạy theo hàng thời trang, mode và luôn luôn thay đổi, còn người già thích mua hàng theo kiểu hồi tưởng kỷ niệm xưa. Cấu trúc dân số theo giới tính: theo thống kê 1993 cơ cấu giới tính của Việt Nam hiện nay là Nam 48,18% và Nữ 51,82%.
Phu nữ Việt Nam truyền thống là người nội trợ, quản lý chi tiêu tiền bac trong gia đình, cùng với đặc điểm nữ giới khi mua hàng thường tính toán cân nhắc và cũng là người nhạy cam với hàng hóa. Đây cũng là yếu tố môi trường mà các nhà kinh doanh nên biết mà chiéu lòng họ. Cấu trúc dân số theo vùng địa lý và dân tộc: Người miền Bắc nghèo hơn người Miền Nam, nhưng người miền Bắc đã mua là mua loại tốt. Cấu trúc dân số theo vùng địa lý còn phải nói đến dân số nông thôn và thành thị (nước ta dân nông thôn chiếm gần 80% dân số), nhu cầu, ý muốn tiêu dùng người thành thị khác với người nông thôn.
Người giàu ở nông thôn tính toán chi tiêu cặn kẻ hơn người thành phố. Nước ta có nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có phong tục tập quán riêng và nhu cầu hàng hóa cũng khác nhau. Tình trạng gia đình: Quy mô gia đình chung ở nước ta là 4,97 nhân khẩu một hộ, nhiều sản phẩm tiêu dùng theo hộ gia đình nên doanh nghiệp cần biết quy mô hộ của từng vùng. Tình hình di chuyển dân cư: Tình hình di chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị ở nước ta đang tăng nhanh, trước đây người ta dự đoán dân số Tp HCM năm 2000 là 5 triệu dân nhưng năm 1994 đã gần 5 triệu.
Đến năm 2004 dân số của TP là gần 8 triệu. Điều này sẽ ảnh hưởng đến quy mô thị trường của từng vùng.2 Môi trường Marketing vi mô Sự thành công của một chiến lược Makerting còn tuỳ thuộc vào phan ứng của các nhà cạnh tranh, giới công chúng, giới trung gian, các nhà cung ứng và khách hàng. Đó là yếu tố môi trường Marketing vi mô. a) Những người cung ứng Các nhà cung ứng là những doanh nghiệp cung ứng cho công ty các yếu tố liên quan đến đầu vào của quá trình san xuất như nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, nhân công.
Vì vậy các công ty nên chọn nhà cung ứng có uy tín và có sự lựa chọn để tránh trường hợp rủi ro do nhà cung ứng gây ra. b) Giới trung gian: Giới trung gian có thể là nhà môi giới Marketing, người giúp công ty tìm thị trường, tìm khách hàng, giới thiệu cách thức đi vào thị trường. Giới trung gian cũng là các nhà bán sĩ, đại lý, bán lẽ. Trong điều kiện kinh doanh ngày nay các doanh nghiệp cần thiết sữ dụng giới trung gian vì họ đảm bảo cho khách hàng những điều kiện thuận lợi về thời gian và địa điểm, đáp ứng nhu cầu bất kỳ khi nào và ở bất kỳ chổ nào mà khách hàng cần.
Họ tạo điều kiện thuận lợi về việc dự trữ hàng hoá cũng như thủ tục mua hàng với chi phí thấp hơn so với công ty tự làm. c) Khách hàng: Khách hàng là người thực hiện công đoạn cuối cùng quá trình tái sản xuất của công ty, là yếu tố cực kỳ quan trọng chi phối mạnh mẽ đến doanh thu và lợi nhuận của công ty, là yếu quyết định sự thành bại của công ty, vì vậy cần phải tôn trọng họ và bằng mọi cách thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của họ, phải nghiên cứu kĩ lưỡng từng loại khách hàng để phục vụ tốt cho họ. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh giữa các công ty là rất khốc liệt, khách hàng có nhiều sự lựa chọn sản phẩm giữa các công ty, cộng với ý muốn và thị hiếu của họ luôn thay đổi theo thời gian và không gian, vì vậy công ty phải biết khách hàng cần gì và phải nghiên cứu những thị hiếu dẫn đến sự thay đổi của khách hàng để kịp thời phục vụ tốt nhất. d) Đối thủ cạnh tranh: Bất kỳ công ty nào cũng có đối thủ cạnh tranh, các đối thủ cạnh tranh có thể chia như sau: e Đối thủ cạnh tranh giữa các ngành khác nhau: Người tiêu dùng sẽ bố trí chỉ tiêu cho từng loại sản phẩm, ví dụ như thực phẩm, mặc, di lai.
đối với dân ta hiện nay, mỗi gia đình rất cần xe máy, nếu giá xe máy giảm mạnh thì sẽ có gia đình giảm bớt những chi phí khác để dồn tiền vào mua xe máy. e Đối thủ cạnh tranh thuộc một ngành. Chẳng hạn nhu cầu di lại bằng phương tiện xe buýt, xe máy, xe đạp như hiện nay nếu tăng cường các tuyến xe buýt nhiều hơn nữa và dam bảo đúng thời gian thì những nhà kinh doanh xe máy hoặc những anh xe ôm rất khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng. e Đối thủ cạnh tranh thuộc ching loại sản phẩm với nhau.
Chẳng hạn có nhiều công ty nước giải khát cạnh tranh trên thị trường như Pepsi, Coca-Cola.3 Môi trường nội vi Mục tiêu chung của các chiến lược về sản phẩm, giá, phân phối, truyền thông, khuyến mãi là thoả mãn nhu cầu của khách hàng để công ty kinh doanh có lợi. Để thực hiện tốt được điều này còn phải phụ thuộc vào các yếu tố thuộc môi trường nội vi trong một công ty.