Chương 1: Cơ sở lý luận về kênh phân phối sản phẩm trong hoạt động marketing của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hệ thống kênh phân phối sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Dược TW3. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Dược TW3 -4- CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE KENH PHAN PHOI SAN PHAM TRONG HOAT DONG MARKETING CUA DOANH NGHIEP 1. KHAI QUAT VE KENH PHAN PHOI 1.
Khái niệm kênh phân phối Theo quan điểm Marketing Kênh phân phối là tập hợp các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau, hỗ trợ việc chuyển nhượng quyền sở hữu một hàng hóa hay dịch vụ nào đó, chuyển nó từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng Kênh phân phối là kết hợp tắt cả các thành viên tham gia vào tiến trình phân phối gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý và người tiêu dùng. [9] Kênh phân phối có hai loại : Kênh trực tiếp và kênh gián tiếp. - Kênh trực tiếp : Hàng hóa trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, không qua các trung gian phân phối. - Kênh gián tiếp : Hàng hóa đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng qua các trung gian phân phối sĩ và lẻ Hệ thống kênh phân phói của ngành dược gồm có2 loại: - Kênh phân phối OTC: bao gồm các nhà thuốc bán lẻ, chủ yếu bán các loại thuốc thông dụng có thể sử dụng an toàn và hiệu quả mà không kê đơn.
- Kênh phân phối ETC: bao gồm các bệnh viên và trung tâm y tế, chủ yếu bán các loại thuốc kê đơn của bác sĩ 1. Vai trò kênh phân phối - Giảm thiểu chi phí cho nhà sản xuất trong việc phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng. - Gia tăng khối lượng bán, phân phối rộng khắp và đưa sản phâm đến thị trường mục tiêu một cách nhanh chóng. - Việc Marketing trực tiếp có thể đòi hỏi nhiều nhà sản xuất trở thành người trung gian bán các sản phẩm bổ sung của những nhà sản xuất khác để đạt được việc -5- tiết kiệm nhờ phân phối đại trà.
Ngay cả khi người sản xuất có đủ điều kiện để thiết lập kênh phân phối của mình, nhưng khả năng đạt nhiều lợi nhuận hơn bằng cách tăng thêm vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh của chính mình, thì họ vẫn lựa chọn cách phân phối sản phẩm qua các trung gian. - Sự xuất hiện các trung gian làm giảm bớt các giao dịch trong trao đổi xét trên phạm vi toàn xã hội. Vai trò cơ bản của trung gian phân phối là biến những nguồn cung ứng khác nhau trong thực tế thành những loại sản phẩm mà người mua muốn mua vì những người sản xuất thường tạo ra một chủng loại sản phẩm nhất định với số lượng lớn trong khi người tiêu dùng thường lại chỉ mong muốn có một số lượng nhất định sản phẩm với chủng loại thật phong phú Phần lớn người Việt Nam có thói quen dùng thuốc không cần kê toa của bác sĩ (thuốc OTC) đối với các bệnh thông thường. Họ cho rằng nếu vào bệnh viện lấy đơn thuốc của bác sĩ sẽ vừa mất thời gian vừa tốn tiền.
Do đó, bệnh nhân thường chủ động đến các quầy thuốc mua theo sự hướng dẫn của người bán quây. Nắm bắt được thói quen này, các công ty dược phẩm đã dùng đội ngũ trình dược viên tác động đến các quay thuốc bằng hình thức chiết khấu hoa hồng do sự tư vấn và kê toa của quầy thuốc tạo sự tác động mạnh đến quyết định mua thuốc của người bệnh. Với hình thức phân phối này, các công ty dược phẩm sẽ gia tăng khối lượng bán ra thị trường một cách hiệu quả. Chức năng kênh phân phối Một kênh phân phối làm công việc chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng.
Họ lấp được khoảng cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu giữa người tiêu dùng với các sản phẩm hay dịch vụ. Những thành viên của kênh phân phối thực hiện một số chức năng chủ yếu: - Thông tin: Thu thập thông tin cần thiết để hoạch định marketing và tạo thuận tiện cho sự trao đổi sản phẩm và dịch vụ. - Cổ động: Triển khai và phổ biến những thông tin có sức thuyết phục về sản phẩm nhằm thu hút khách hàng. -6- ~ Tiếp xúc: Tìm kiếm và truyền thông đến khách hàng tiềm năng.
- Cân đối: Định dạng nhu cầu và phân phối sản phẩm thích ứng với nhu cầu của khách hàng. - Thương lượng: Có gắng đẻ đạt được sự thỏa thuận cuối cùng về giá cả và những điều kiện khác liên quan đề có thể thực hiện được việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng sản phẩm. - Phân phối vật phẩm: Vận chuyền và tồn kho hàng hóa. - Tài trợ: Huy động và phân bổ nguồn vốn cần thiết để dự trữ, vận chuyền, bán hàng, và thanh toán các chỉ phí hoạt động của kênh phân phối.
- Chia sẻ rủi ro: Chấp nhận những rủi ro liên quan tới việc điều hành hoạt động của kênh phân phối Trong các chức năng nêu trên, năm chức năng đầu nhằm thực hiện được những giao dịch, ba chức năng sau nhằm hoàn thiện những giao dịch đã thực hiện. Cấu trúc kênh phân phối Các kênh phân phối có thể được mô tả bằng số lượng các cấp trung gian của nó. Mỗi trung gian sẽ thực hiện một số công việc nhất định nhằm đem sản phẩm tới gần người tiêu dùng hơn và tạo thành một cấp trong kênh phân phối. Vì nhà sản xuất và người tiêu dùng là điểm đầu và điểm cuối của mỗi kênh phân phối, nên họ cũng là những bộ phận của kênh.
Các số cấp trung gian được dung đẻ chỉ độ dài của kênh phân phối. Do đặc điểm khác nhau của sản phẩm và dịch vụ mà các kênh phân phối cũng được thiết kế khác nhau, bao gồm kênh phân phối hàng tiêu dùng, kênh phân phối tư liệu sản xuất và kênh phân phối dịch vụ. Kênh 0 cấp Nhà >| Nguoi - Kênh 1 cấp. San Bảnle Tiêu.
>| >| xuất Kênh 2 cấp ding | Bán buôn „| Bán lẻ Ñ Kênh 3 cấp »| Daily »| Bán buôn »| Bán lẻ >| Sơ đồ 1.1: Mô hình kênh phân phối trong thị trường hàng tiêu dùng - Kênh 0 cấp ( kênh phân phối trực tiếp) gồm: nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Những hình thức marketing trực tiếp như: bán hàng lưu động, bán hàng dây chuyền, đặt hàng qua bưu điện, marketing qua điện thoại, bán hàng qua internet và các cửa hàng của nhà sản xuất. Đây là loại kênh phân phối trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng không thông qua các trung gian phân phối. Cấu trúc kênh này được áp dụng cho các loại hàng hoá dễ hỏng, dễ vỡ và những loại hàng hoá đòi hỏi kỹ thuật cao, phải có sự hướng dẫn sử dụng một cách tỷ mỷ hoặc cũng có thẻ sử dụng với những hàng hoá mà người sản xuất độc quyền phân phối Với loại kênh này, nó đảm bảo sự giao tiếp chặt chẽ của nhà sản xuất, tăng cường trách nhiệm trên thị trường, đảm bảo tính chủ đạo của nhà sản xuất trong phân phối.
Thông tin mà nhà sản xuất thu được sẽ thực hơn và hữu ích hơn, nhà sản xuất được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, năm bắt được nhu cầu của họ một cách dễ dàng hơn là thông qua các trung gian phân phối Bên cạnh những ưu điểm trên thì kênh phân phối trực tiếp có hạn chế là trình độ chuyên môn hoá thấp, tổ chức và quản lý kênh sẽ phức tạp hơn, vốn của công ty chu chuyển chậm, nguồn nhân lực bị phân tán Nhìn chung, trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế phát triển nhanh, quy mô mở rộng thì cấu trúc kênh này rất hiếm, nó chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn bộ hệ -8- thống kênh phân phối bởi nó chỉ phù hợp với nền sản xuất có quy mô nhỏ, quan hệ thị trường hẹp. - Kênh 1 cấp (kênh phân phối gián tiếp) có một người trung gian như người bán lẻ. Được gọi là kênh một cấp. Ở đây, để hàng hoá đến tay người tiêu dùng, nhà sản xuất thông qua người bán lẻ.
Với loại kênh này, một mặt nó vẫn phát huy được lợi thế của kênh phân phối trực tiếp, mặt khác nó làm tăng chức năng chuyên môn hoá, phát triển năng lực sản xuất. Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, sự đòi hỏi khắt khe của khách hàng là đảm bảo hàng hoá phải có mặt ở khắp noi, tao điều kiện cho việc mua bán được dễ dang thi cấu trúc kênh phân phối này vẫn chưa phải là tối ưu. - Kênh 2 cấp: Đây là loại kênh có hai trung gian phân phối. Trong kênh, ngoài người bán lẻ còn có thêm người bán buôn, cấu trúc này thường được sử dụng phổ biến cho những loại hàng hoá có giá trị thấp, được mua thường xuyên.
- Kênh 3 cấp: Là kênh có ba trung gian phân phối. Nó được sử dụng khi có nhiều nhà sản xuất nhỏ và nhiều người bán lẻ. Một đại lý được sử dụng đề giúp phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn đến thị trường mục tiêu. Loại kênh 2 và 3 cấp là loại kênh dài và đầy đủ nhất.
Đây là loại kênh phổ biến trong phân phối hàng hoá. Nó giải quyết được mâu thuẫn: sản xuất tập trung, tiêu dùng rộng khắp. Tuy nhiên với việc sử dụng kênh dài thì chỉ phí cho việc thiết lập kênh là lớn, việc điều hành và quản lý kênh phân phối gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nhà quản lý cần phải đầu tư và quản lý một cách thích hợp để tránh trùng lặp và giảm chỉ phí xuống.
Ngoài ra, còn có thể có kênh phân phối nhiều cấp trung gian hơn. Tuy nhiên, số cấp của kênh tăng lên thì việc thu nhận thông tin về người tiêu dùng cuối cùng và thực hiện việc kiểm soát các trung gian sẽ khó khăn hơn. Thông thường ở địa bàn càng hẹp thì số cấp trung gian càng ít. Còn ở địa bàn rộng, số cấp trung gian có thể lớn hơn.
Số cấp trung gian phụ thuộc lớn vào chính sách phân phối của công ty, tiềm lực của công ty cũng như sự phát triển thị trường của nơi mà công ty phân phối. Loại kênh dài khoảng hai đến ba cấp trung gian là -0- loại hình phổ biến trong phân phối hàng hoá.