MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, thế giới có xu hướng quay về với nguồn dược liệu thiên nhiên do phát hiện nhiều tác dụng không mong muốn của nhiều loại thuốc được sản xuất bằng con đường tổng hợp hóa học. Đặc biệt các dược liệu có tác dụng bổ, tăng lực, chống stress được chú ý do đời sống người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu bảo vệ, nâng cao sức khỏe được xã hội quan tâm. Nhân sâm là vị thuốc bổ đã được nhân dân tín nhiệm lâu đời. Hơn nữa, trong những năm gần đây tác dụng bảo vệ gan, thận của Nhân sâm trước ảnh hưởng của thuốc hóa trị đang được các nhà nghiên cứu quan tâm và chứng minh [105], [115], [180].
Tuy nhiên, Nhân sâm khó trồng, hiếm, giá thành cao nên trong khoảng 50 năm qua các nhà khoa học trong và ngoài nước luôn tìm kiếm những loài dược liệu khác thuộc họ Nhân sâm để thay thế một số tác dụng mang lại từ Nhân sâm, trong đó có những cây thuộc chi Polyscias. Đây là chi lớn thứ 2 trong họ Nhân sâm. Đa số được sử dụng làm cây cảnh, chỉ có vài loài được sử dụng làm thuốc, trong đó Đinh lăng thuộc loài Polyscias fruticosa (L.) Harms được sử dụng làm thuốc phổ biến. Polyscias fruticosa được nghiên cứu bắt đầu từ những năm 60, là một cây thuốc quý được đưa vào Dược điển Việt Nam [3] như một vị thuốc bổ khí, lợi sữa, tăng lực và chống stress; còn gọi là “Nhâm sâm của người nghèo”.
Nhiều nghiên cứu cho thấy loài Polyscias fruticosa có thành phần saponin, polyacetylen, tinh dầu, flavonoid có nhiều tác dụng sinh học mang lại như chống oxy hóa [126], [135], cải thiện số lượng tinh trùng, cải thiện cơ trơn tử cung [58], [59], cải thiện trí nhớ [11], hạ đường huyết [30], [125], chống hen suyễn, kháng histamin [107], [108], chống hủy tế bào xương [174]. Bên cạnh đó, Đinh lăng là loại cây dễ trồng, rẻ tiền do phù hợp với điều kiện môi trường ở nước ta. Vì thế, hiện nay Đinh lăng được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt quy hoạch vùng trồng nhiều nơi trong cả nước [41] với hy vọng tìm ra những công dụng thay thế cho Nhân sâm là vị thuốc được nhân dân sử dụng từ lâu. Mặc dù, Đinh lăng được nghiên cứu từ khá lâu ở nước ta, nhưng chỉ có rễ và cao rễ Đinh lăng được đưa vào Dược điển Việt Nam 5 dùng làm thuốc và nghiên cứu.
2 Trong khi đó, tình hình thực tế hiện nay ngoài việc sử dụng rễ thì người dân còn sử dụng lá Đinh lăng rất phổ biến trong thực phẩm hằng ngày, đồng thời để phòng và hỗ trợ điều trị bệnh. Vì lá Đinh lăng hàng năm cho nguồn sinh khối phong phú, dễ thu hái nhất trong tất cả các bộ phận của cây Đinh lăng. Từ đó hàng loạt chế phẩm trên thị trường sử dụng lá là bộ phận dùng chính ra đời, cũng như dân gian dùng lá để làm gỏi cá và gối nằm cho trẻ nhỏ. Do đó, để theo kịp với sự phát triển của khoa học hiện đại và tiềm năng sẵn có thì cần các nghiên cứu mới theo hướng ứng dụng dựa trên thành phần hóa học và tác dụng sinh học.
Thêm vào đó, để tăng cường các nghiên cứu mang tính thuyết phục hơn về mặt thực vật, hóa học cũng như sinh học, đề tài sẽ kế thừa các nghiên cứu trước đây để mở rộng và phát triển sâu hơn cho dược liệu Đinh lăng dễ trồng quý giá này. Chính vì những lý do trên, để tạo cơ sở khoa học cho việc khai thác, sử dụng hiệu quả và khẳng định giá trị cây Đinh lăng thuộc họ Nhân sâm theo hướng kế thừa, phát triển và ứng dụng các nghiên cứu mới về tác dụng sinh học để hỗ trợ điều trị bệnh, bên cạnh tác dụng nổi trội của họ Nhân sâm như bồi bổ, tăng lực và tăng cường miễn dịch thì đề tài: "Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms)" được thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Phân tích được đặc điểm thực vật học và định danh loài Đinh lăng. Xác định được thành phần hóa học có trong lá cây Đinh lăng.
Đánh giá được tác dụng bảo vệ gan, thận của cao toàn phần lá, rễ và cao phân đoạn tiềm năng trước độc tính của thuốc hóa trị. TỔNG QUAN VỀ CHI POLYSCIAS 1. Thực vật học chi Polyscias Chi Polyscias được Forster J. (1775) đặt tên đầu tiên từ hơn hai thế kỷ trước, sau đó tiếp tục được nhiều nhà phân loại thực vật nghiên cứu trên thế giới như Frodin & Govaerts (2003), Baker (1877), Viguier (1905), Hutchinson (1967), Smith & Stone (1965), Bernardi (1971), (Plunkett & Lowry 2010)…[121] nhiều lần mở rộng và thu hẹp các loài thuộc chi Polyscias và cuối cùng được sự đồng thuận cao của các nhà thực vật học hoàn thiện đi đến thống nhất.
Hiện nay, Theo hệ thống phân loại thực vật có hoa của Takhtajan A. [172], loài Polyscias fruticosa (L.) Harms có vị trí phân loại như sau: Giới thực vật (Plantae) Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Bộ Hoa tán (Apiales) Họ Nhân sâm (Araliaceae) Chi Đinh lăng (Polyscias) Sơ đồ 1. Vị trí phân loại thực vật của chi Polyscias theo Takhtajan A. Polyscias là chi lớn thứ 2 trong họ Araliaceae.
Họ Araliaceae gồm 55 chi và hơn 1500 loài, phân bố đa số ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có nhiều loài được dùng làm thuốc đông y và làm kiểng [103]. Chi Polyscias có nguồn gốc từ 2 từ tiếng Hy Lạp: 'poly' có nghĩa là nhiều và 'skia' có nghĩa là bóng râm biểu thị tán lá dày, đó là đặc điểm của chi Polyscias. Các loài thuộc chi Polyscias thường là cây bụi sống lâu năm, hiếm khi ra hoa, thường là những cây gỗ nhỏ hay nhỡ có dáng mảnh và có tán lá đẹp. Lá kép chân vịt hay lá đơn có thùy chân vịt hoặc lá kép lông chim với các lá chét có hình dạng thay đổi; lá kèm không có hay hợp lại ở gốc thành một phần phụ nhỏ.
Có nguồn gốc ở Đông Nam Á và các đảo Polynesia ở Thái Bình Dương, khu vực các đảo nhiệt đới [51]. Ngoài ra, 1 số loài còn mọc và được trồng ở Indonesia, Malaysia, Lào và Việt Nam [26]. 4 Hiện nay, trên thế giới theo tra cứu tại trang chuyên khảo về thực vật của "The Plant list" [186] có tổng cộng 655 tên, trong đó có 176 loài được chấp nhận, có 473 loài đồng nghĩa, 6 loài chưa giải quyết. Trong khi đó, hệ thống phân loại thực vật theo "Catalogue of Life" [187] thì có 174 loài, 4 dưới loài và 6 thứ thuộc chi Polyscias.
Theo Phạm Hoàng Hộ cho biết ở Việt Nam có 8 loài thuộc chi Polyscias, trong đó loài Polyscias guilfoylei Bail. Theo điều tra của Trung tâm Sâm Việt Nam ở các tỉnh phía Nam chi Polyscias có 6 loài [7]. Đa số các loài thuộc chi Polyscias được làm cây cảnh, chỉ có một số loài được nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng sinh học để sử dụng làm thuốc, trong đó loài Polyscias fruticosa (L.) Harms được sử dụng phổ biến nhất. Các loài thuộc chi Polyscias ở Việt Nam STT Tên khoa học các loài Polyscias ở Việt Nam Tên Việt Nam 1 Polyscias fruticosa (L.) Harms Đinh lăng lá xẻ 2 Polyscias scutellaria (Burm.) Fosberg Đinh lăng lá đĩa 3 Polyscias filicifolia (C.
Bailey Đinh lăng đuôi phụng 4 Polyscias balfouriana (André) L. Bailey Đinh lăng lá tròn 5 Polyscias guilfoylei (W. Bailey Đinh lăng lá trổ 6 Polyscias grandifolia Volkens Đinh lăng lá to 7 Polyscias sambucifolia (Sieber ex DC.) Harms Đinh lăng lá cơm cháy 8 Polyscias serrata Balf. Đinh lăng lá răng 1.
Thành phần hóa học của chi Polyscias Việc nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Polyscias được nghiên cứu chủ yếu bắt đầu vào những năm 80. Tuy nhiên, cho đến nay có khoảng hơn 200 hợp chất đã được phân lập từ 12 loài thuộc chi (P. serrata) trong 176 loài được chấp nhận [186]. Các hợp chất phân lập chủ yếu thuộc các nhóm triterpenoid và saponin triterpenoid.
Bên cạnh đó còn có một số nhóm hợp chất khác như polyacetylen, tinh dầu, flavonoid, hợp chất phenol, sterol, ceramid, cerebrosid, dẫn xuất acid propanoic, lignan, dẫn xuất cyanogen khác. Thành phần triterpenoid và saponin triterpenoid Đa số các saponin hiện diện với phần aglycon là acid oleanolic, với phần đường thường được gắn vào vị trí C3 và C28 của aglycon. Về số lượng đường của các saponin triterpenoid thì rất đa dạng có từ 1 đến 5 đơn vị đường. Thành phần đa số là D-glucose và D-glucuronic; ít gặp hơn là D- galactose, D-xylopyranosyl, L-rhamnose, L-arabinose.
Các glycosid này có thể tổ hợp gắn với nhau ở các vị trí khác nhau tạo nên sự phong phú về cấu trúc của các triterpenoid. Ngoài ra, các glycosid: L-arabinose, L-rhamnose, D-glucose, D- galactose có thể bị acetyl hóa ở một số vị trí; trong khi đó, D-glucuronic có thể gắn thêm metyl tại C6 được bắt gặp ở loài P. Phần lớn các triterpenoid hiện diện trong chi Polyscias dưới dạng glycosid với phần aglycon có khung oleanan (thường là acid oleanolic, còn 1 số ít là hederagenin, acid echynocystic, 3-hydroxyoleanan, collinsogenin), dammaran và cycloartan. Acid oleanolic Hederagenin Acid echynocystic 3-Hydroxyoleanan Collinsogenin Khung dammaran Khung cycloartan 6 Ara: α-L-arabinopyranosyl Gal: β-D- Glc: β-D-glucopyranosyl galactopyranosyl Xyl: β-D-xylopyranosyl Rha: α-L- GlcA: β-D- rhamnopyranosyl glucuronopyranosyl Hình 1.
Khung cơ bản và phần đường phổ biến của các saponin thuộc chi Polyscias Bảng 1.