MỞ ĐẦU Chƣơng 1 - TỔNG QUAN Chƣơng 2 - NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chƣơng 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO 4 CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ HỌ BẦU BÍ VÀ CÂY GIẢO CỔ LAM 1.1 Họ Bầu bí Họ Bầu bí Cucurbitaceae là một họ thực vật bao gồm dƣa hấu, dƣa vàng, dƣa chuột, bí đao, bầu, bí ngô, mƣớp, mƣớp đắng. Nó là một trong những họ quan trọng nhất trong việc cung cấp thực phẩm trên thế giới. Hiện nay ngƣời ta công nhận trong họ này có 125 chi với khoảng 960 loài phân bố rộng khắp, chủ yếu tại khu vực nhiệt đới và ôn đới.
Ở Việt Nam có khoảng 50 loài. Phần lớn các loài trong họ này là các loại dây leo sống một năm với hoa khá lớn, sặc sỡ và các loài trong họ rất dễ bị tổn thƣơng trƣớc ấu trùng của một số loài nhậy [8]. Trong đó, tông Gomphogyneae gồm 6 chi với khoảng 56 loài. Chi Giảo cổ lam Gynostemma Blume là một chi thực vật thân thảo sống lâu năm.
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 21 loài thuộc chi này (theo các nguồn khác nhau). Ở Trung Quốc đã ghi nhận 14 loài [13]. Ở Việt Nam, chi Gynostemma có 5 loài [14]. Các loài trong chi này sinh sống trong khu vực nhiệt đới châu Á cho tới Đông Á, từ dãy núi Himalaya tới Nhật Bản, Malaysia và New Guinea [1].
Sơ lược về giảo cổ lam : 1. Tên gọi Giảo cổ lam có tên khoa học là Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae). Tên thƣờng gọi là Giảo cổ lam hay còn gọi là cam trà vạn, long đởm, cổ yếm, thƣ tràng năm lá, dây lõa hùng, cây trƣờng sinh (trƣờng sinh thảo), cây cỏ thần kỳ, cây bổ đắng, sâm phƣơng nam hoặc thất diệp đảm, ngũ diệp sâm. Phân loại khoa học: Theo các tài liệu Cây cỏ Việt Nam [6], Thực vật dƣợc và phân loại thực vật [9], chi Gynostemma đƣợc xếp vào họ Cucurbitaceae (Họ bầu bí).
Vị trí phân loại của Giảo cổ lam: 5 - Liên giới: Sinh vật nhân thực Eukaryyota - Giới: Thực vật Plantae - Phân giới: Thực vật xanh Viridaeplantae - Ngành: Thực vật có hoa, Mộc Lan, Hạt kín Magnoliophyta - Lớp: Hai lá mầm Magnoliopsida - Phân lớp: Sổ Dilleniidae - Liên bộ: Hoa tím Viollanae - Bộ: Bầu bí Cucurbitales - Họ: Bầu bí Cucurbitaceae - Chi: Giảo cổ lam Gynostemma - Loài: Giảo cổ lam Gynostemma pentaphyllum 1. Phân bố và sinh thái: Cây giảo cổ lam mọc ở độ cao 300-3200m, trong các rừng thƣa và ẩm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên và một số nƣớc châu Á khác. Tại Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu đã thực hiện một cuộc khảo sát về dƣợc liệu tại Fansipan và phát hiện thấy một quần thể Giảo cổ lam rộng lớn mọc hoang ở độ cao 1500m, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn. Từ những thông tin thu đƣợc từ ngƣời dân địa phƣơng, từ lâu họ đã biết sử dụng loại cây này để gia tăng sức khỏe, chống mệt mỏi khi đi rừng.
Sau đó, mẫu cây này đã đƣợc gửi đến Viện Dƣợc liệu Trung ƣơng và các trung tâm thí nghiệm khác để nghiên cứu. Kết quả đã xác định đƣợc đây chính là cây Gynostemma pentaphyllum.Ngoài ra cây Giảo Cổ Lam mọc ở nhiều nơi, trên những vùng núi cao nhƣ Lào Cai, Lạng Sơn, Yên Bái, Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, Kon Tum. Đặc điểm thực vật [2] Phần trên mặt đất có dạng dây leo. Thân hình trụ, có góc cạnh, dài 0,3m đến 1,0m, phân đốt, khoảng cách giữa các đốt từ 6,0cm đến 10,0cm, mang tua 6 cuốn mọc cùng phía cuống lá và lá.
Lá kép hình chân chim có đến 5 đến 7 lá chét, lá chét ở giữa thƣờng lớn hơn lá chét ở bên, cuống lá dài 3,0 cm đến 5,0cm. Phiến lá màu lục hay hơi vàng nâu, mép có răng cƣa tròn, vị đắng, ngọt (Hình 1. Giảo cổ lam bảy lá (Thất long đởm) Giảo cổ lam năm lá (Ngũ diệp sâm) Hình 1. Cây giảo cổ lam Giảo cổ lam là một loài cây thảo có thân mảnh, leo nhờ tua cuốn đơn ở nách lá.
Hoa đơn tính khác gốc (cây đực và cây cái riêng biệt). Lá đơn xẻ chân vịt rất sâu trông nhƣ lá kép chân vịt. Cụm hoa hình chùy mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, các cánh hoa rời nhau xoè hình sao, bao phấn dính thành đĩa, bầu có ba vòi nhụy. Cây ra hoa vào tháng 7-8, có quả chín từ tháng 8-10.
Quả khô hình cầu, đƣờng kính 5,0 - 9,0mm, khi chín màu đen [8]. Thành phần hóa học : Thành phần có trong Giảo Cổ Lam chƣa đƣợc khai thác hết, nhƣng hiện tại t có thể xác nhận đƣợc một số dƣợc chất chính có trong Giảo Cổ Lam : Saponin : Saponin có tính chất chung là khi hoà tan vào nƣớc có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch tạo nhiều bọt, có tính chất phá huyết, độc đối với động vật máu lạnh nhất là đối với cá, tạo thành phức với cholesterol, có vị hắc và làm hắt hơi mạnh. Một vài động vật cũng có saponin nhƣ các loài hải sâm, cá sao.2 : Saponin Flavonoid : tham gia vào lọc tia cực tím (UV), cộng sinh cố định đạm và sắc tố hoa.4 : Polysaccharid 8 Ngoài ra, loại thảo dƣợc này còn chứa nhiều vitamin, các acid amin tan trong nƣớc, các nguyên tố vi lƣợng nhƣ kẽm, sắt, selen, các chất giàu canxi hữu cơ…[23] 1. Vi phẩu [2] Thân: Lớp biểu bì là những tế bào tròn, nhỏ đều đặn, xếp thành hàng, thành tế bào phía ngoài hóa cutin.
Mô dày cấu tạo khoảng 2 đến 3 lớp tế bào thành dày. Mô dày phát triển ở phần lồi. Mô mềm vỏ là những tế bào hình trứng có thành mỏng. Mô cứng tế bào hình đa giác thành dày hóa gỗ tạo thành vòng liên tục uốn theo chỗ lồi lõm của thân.
Phía trong mô cứng là mô mềm ruột có những bó libe-gỗ xếp thành vòng tƣơng ứng với phần lồi của thân. Phía trong các bó libe-gỗ xếp xen kẽ tạo thành vòng thứ 2. Bó libe-gỗ có mạch gỗ ở giữa và libe xung quanh, libe ở phía ngoài phát triển hơn phía trong. Gân lá: Biểu bì trên gồm những tế bào hình chữ nhật thƣờng có lông che chở đa bào, các tế bào ngắn.
Biểu bì dƣới cấu tạo bởi những tế bào hình tròn, xếp thành hàng. Mô dày sát biểu bì trên và dƣới gồm 2 đến 3 lớp tế bào thành dày. Bó libe-gỗ của gân chính cấu tạo bởi một cung libe bao quanh cung gỗ. Mô mềm gỗ gồm những tế bào thành mỏng có hình dạng thay đổi.
Phiến lá: Biểu bì trên và dƣới có một lớp tế bào hình chữ nhật thỉnh thoảng có lông tiết đầu đơn bào. Dƣới biểu bì trên là lớp mô mềm giậu gồm 1 đến 2 hàng tế bào nhỏ. Mô mềm có 2 đến 3 lớp tế bào thành mỏng. Phiến lá: Biểu bì trên và dƣới có một lớp tế bào hình chữ nhật thỉnh thoảng có lông tiết đầu đơn bào.
Dƣới biểu bì trên là lớp mô mềm giậu gồm 1 đến 2 hàng tế bào nhỏ. Mô mềm có 2 đến 3 lớp tế bào thành mỏng [2]. Bột: Bột màu vàng xanh. Lông che chở đa bào, lông tiết, mảnh phiến lá có mạch xoắn, mảnh biểu bì lá mang lỗ khí, mạch xoắn, sợi xếp thành bó hay đứng riêng lẻ.
Mảnh biểu bì có các u lồi [2]. Công dụng của cây giảo cổ lam Các tác dụng của Gynostemma đƣợc cho là có đƣợc bởi saponin và flavonoid, đặc biệt là saponin, thành phần đã trở thành mục tiêu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu dƣợc học tại Trung Quốc. Trong các loài thuộc chi flavonoid đƣợc nghiên cứu, giảo cổ lam Gynostemma pentaphyllum là loài đƣợc nghiên cứu và công bố nhiều nhất với tác dụng dƣợc lý đáng chú ý nhƣ sau: - Tăng sức đề kháng cho cơ thể, chống viêm và nhiễm trùng. - Tác dụng làm hạ mỡ máu, nhất là giảm cholesterol toàn phần, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, chống huyết khối và bình ổn huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não (hết đau đầu, hoa mắt, giảm các cơn đau tim).
- Chống lão hóa, giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực, tăng khả năng làm việc. Tăng cƣờng hệ miễn dịch và nâng cao sức đề kháng của cơ thể, ngăn ngừa, kìm hãm sự hình thành và phát triển của khối u một cách rõ rệt. - Giúp dễ ngủ và ngủ sâu giấc, tăng cƣờng máu lên não, ngăn ngừa chứng lú lẫn ở ngƣời già. - Rất tốt cho tế bào gan, tăng cƣờng chức năng giải độc của gan.
- Điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên làm giảm béo tốt, nhất là béo bụng, đùi. Tóm lại, giảo cổ lam có công năng: Thanh nhiệt, giải độc, chỉ ho, trừ đờm. Chủ trị: đợt cấp của viêm phế quản mạn tính, viêm gan virus,viêm thận, viêm dạ dày cấp, bệnh tiểu đƣờng, chứng tăng mỡ máu…[2]. Hiện nay ở Việt Nam, giảo cổ lam đƣợc trồng trên diện rộng ở các địa phƣơng, đƣợc chế biến thành các sản phẩm trà Giảo cổ lam đa dạng và đƣợc lƣu thông rộng rãi trên thị trƣờng nhƣ Giảo cổ lam Tuệ Linh, Ba Tri, Tam Đảo,.
Huyện Nam Trà My có thƣơng hiệu trà Giảo cổ lam Hà Vy, Mƣời Cƣờng. Cách dùng và liều lượng : Mỗi ngày dùng 15-30g giảo cổ lam đã phơi hoặc sấy khô, sắc uống hoặc tán thành nột thô hãm trà uống [2]. Tác dụng phụ : Giảo cổ lam là một loại thảo dƣợc nếu đƣợc sử dụng đúng cách sẽ đem đến rất nhiều lợi ích về sức khỏe và giúp phòng chống bệnh tật. Tuy nhiên, nếu sử dụng sai có thể gây ra một số tác dụng phụ nhƣ: Mất ngủ, khó ngủ : Nếu trƣớc khi đi ngủ dùng giảo cổ lam thì rất dễ dẫn đến mất ngủ.
Nguyên nhân là do giảo cổ lam có thể gây kích thích thần kinh, tăng hƣng phấn. Vì vậy, chỉ nên dùng giảo cổ lam vào buổi sáng và đầu giờ chiều để giúp cơ thể tỉnh táo và làm việc hiệu quả hơn. Hạ huyết áp : Giảo cổ lam có tác dụng giúp hạ huyết áp. Tuy nhiên, nếu lạm dụng vị thuốc này quá mức thì có thể khiến huyết áp bị giảm một cách đột ngột, dẫn đến tình trạng cơ thể luôn mệt mỏi.
Do đó, mỗi ngày chỉ nên dùng khoảng 60 – 70g ngày, đối với ngƣời bị huyết áp thấp, tốt nhất là nên dùng trà vào lúc ăn no hoặc có thể cho thêm vài lát gừng. Đầy bụng : Nếu uống trà giảo cổ lam để qua đêm thì rất dễ bị đầy bụng. Nguyên nhân là do sau một đêm, trà sẽ bị biến chất. Chỉ uống trà trong ngày, không uống trà giảo cổ lam để qua đêm.