CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Vài nét về họ Symplocaceae Ngành :Ngọc Lan (Magnoliophyta) LVTHS Khoa học nghiên cứu Lớp :Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ :Thạch Nham (Ericales) Họ :Dung (Symplocaceae) Chi :Symplocos Dung lụa Họ Symplocaceae (họ Dung) thuộc bộ Ericales (bộ Thạch nam) chỉ có 1 chi Symplocos với khoảng 320 loài, có nguồn gốc châu Á, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới trừ châu Phi, châu Âu và Tây Á. Theo các tài liệu tra cứu thì ở Việt Nam hiện nay có khoảng 35 loài thuộc họ này. Các loài trong họ này thường là cây gỗ hay cây bụi, với các lá đơn, dày, có khía răng cưa, mọc cách, thiếu lá kèm, thường có màu hơi vàng, khi khô có màu xanh vàng.
Hoa mọc thành cụm với các hoa nhỏ. Có 1 lá hoa và 2 lá hoa con mọc đối nhau hay mọc ở đỉnh cuống hoa. Cánh hoa hợp sinh tại gốc và bầy nhụy nhỏ. Đài từ 5 – 2 hợp, tràng 5 – 4 cánh trắng, sớm rụng.
Nhị đính thành bó hay thành ống và đính trên ống tràng, bầu dưới. Quả là loại quả hạch, thường có hình bầu dục hay hình thoi với vết tích đài chụm rất lớn ở đỉnh [8].2 Chi Symplocos và cây Symplocos sumuntia Buch.1 Đặc điểm thực vật 3 Theo các nhà phân loại thực vật chi Symplocos có khoảng 320 loài trong đó có khoảng 35 loài phân bố ở Việt Nam như Dung đất (Symplocos racemosa), cây Dung lá táo (S. chinensis), Dung đắng (S. cochinchinensis),… Cây Dung lụa (Symplocos sumuntia Buch.
Don) còn có tên dân gian là cây Dung dẻo, Dung trứng, Dung đuôi, Nhỏ la, Mat no (Mọi). Ngoài ra còn một số tên khoa học khác tương đương như: Symplocos caudata Wall. tonkinensis LVTHS Khoa học nghiên cứu Brand, S. Dung lụa là loại cây bụi hay cây gỗ cao 8m, thân to 25cm, gỗ vàng; nhánh non không lông.
Lá có phiến hơi dai, không lông, dài 7 – 8cm, dầu có mùi, lúc khô màu lục; cuống dài 5mm. Chùm hoa dài 1,5 – 2cm, hoa có cuống; lá đài có lông ở mép; tràng 3mm, nhị khoảng 40 bông; bầu 3 ô. Quả xoan bầu dục, dài 6- 10mm, vỏ mỏng, có một hột bên trong. Ra hoa, quả gần như quanh năm [9].
Cây Dung lụa mọc rải rác trong rừng thưa, rừng thứ sinh ở độ cao 1.700m ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia… Ở Việt Nam, cây phân bố rải rác từ Bắc vào Nam, mọc nhiều ở các khu vực từ Quảng Nam – Đà Nẵng đến Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng (theo Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam) [9]. Hình 1: Một vài hình ảnh cây Dung lụa (Symplocos sumuntia Buch. Don) 4 Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đã có 28 công trình công bố liên quan đến thành phần hóa học của chi Symplocos với khoảng 90 hợp chất được phân lập và xác định cấu trúc. Thành phần hóa học là các lớp chất flavonoid, lignan, phenolic, steroid, alkaloid và iridoid và nổi bật nhất là lớp chất triterpenoid.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học chi Symplocos và cây Dung lụa LVTHS Khoa học nghiên cứu (Symplocos sumuntia Buch.1 Thành phần triterpenoid Triterpenoid là một nhóm chất thuộc lớp chất terpenoid, có công thức phân tử là C30H48.Thành phần phân tử chứa 6 đơn vị isopren (C5H8) và chứa 6 nối đôi cô lập.
Tất cả các triterpen có cấu tạo mạch thẳng (squalene) hoặc mạch vòng đều có quan hệ chặt chẽ về cấu trúc với squalene. Các squalen đầu tiên được phân lập từ dầu gan cá voi và được gọi tên theo nguồn gốc sinh học này, nó cũng xuất hiện với lượng nhỏ trong động vật có vú khác, tuy nhiên sau đó được nhận thấy là chất thường gặp [4, 6]. Triterpenoid là lớp chất chính được tìm thấy trong chi Symplocos, lớp chất này có hoạt tính sinh học quan trọng tuy vậy chỉ một số là có giá trị hấp dẫn đối với ngành y học, dược học. Những nghiên cứu gần đây cho thấy các triterpenoid thể hiện các hoạt tính chống khối u và chống HIV.
Tuy nhiên trong các sàng lọc sơ bộ theo hướng nghiên cứu trên, các hợp chất chỉ thể hiện hoạt tính yếu và cần nghiên cứu thêm [6]. Năm 2004, Pierre và cộng sự đã công bố nghiên cứu phân lập được 34 triterpenoid từ một số loài thuộc chi Symplocos gồm các dẫn xuất có khung lupane, oleanane, ursane (1-34) [59]. Trong đó có 9 chất mới được phân lập (1- 9) oleanolic axit 3-O-glucuronide bidesmosidic từ vỏ thân S. glomerata và 2 saponin đã biết là salsoloside C (10) và copteroside E (11).
Các chất được xác định cấu trúc bằng phương pháp quang phổ. 5 Cũng trong năm 2004, Tang và cộng sự đã phân lập từ phần chiết n-BuOH của rễ cây S. chinensis được 6 triterpenoid saponin và đã đặt tên symplocososides A – F (12 – 17). Trong số chúng, hợp chất symplocososide A (12), C (14) và F (17) có tính chống lại một số dòng tế bào ung thư (KB) [35].
Bên cạnh đó 5 dẫn xuất oleanane (18 – 22), 9 dẫn xuất ursane (23 – 31), và 3 dẫn xuất khung lupane (32 – 34) cũng được tìm thấy từ các loài trong chi LVTHS Khoa học nghiên cứu Symplocos [22, 25, 26, 32, 40, 44, 56, 57]. O O HOOC O O R1O O HO R2O OH OR3 HO HO R1 R2 R3 1 Xyl H Ac 2 Xyl Ac Ac 3 Xyl Ac Ac 4 Ara H H 5 Ara H Ac 6 Xyl Ac Xyl 7 Xyl Ac Glc 8 Ara Ac Glc 10 Xyl H H 11 Xyl H Xyl 6 O HO O HOOC OH O O O O OH HO O OH OAc OH HO OH 9 LVTHS Khoa học nghiên cứu R6 H R5 R1 H R2 H R3 R4 R1 R2 R3 R4 R5 R6 18 OH Oglc HOCH2 Me COOGlc OH 19 H OH Me Me COOH H 20 H Oac Me Me COOH H 21 H =O Me OH Me H 22 H OH Me Me H H 7 R6 H R5 R1 H R2 H R3 R4 LVTHS Khoa học nghiên cứu R1 R2 R3 R4 R5 R6 23 α-OH β-Oglc HOCH2 Me COOGlc OH 24 H β-OH Me Me Me OH 25 β-OH β-OH H HOCH2 COOH OH 26 H =O HOCH2 HOCH2 COOH OH 27 α-OH β-OH HOCH2 Me COOH OH 28 α-OH β-OH HOCH2 Me COOH OH 29 H β-OH Me Me COOH H H R2 H R H R1 HO H R1 R2 R 30 β-Oac HOCH2 32 HOCH2 31 O COOH 33 COOH 34 Me 1.2 Thành phần flavonoid Flavonoid là các hợp chất dạng polyphenol, đa dạng về cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học. Chúng có ở hầu hết các bộ phận của cây, đặc biệt là trong các 8 tế bào thực vật quang hợp. Các flavonoid không được tổng hợp ở người và động vật.
Năm 1989, Dhaon và cộng sự đã phân lập được 6 dẫn xuất flavan (35-40), 5 dihydrochalcone glucoside (41-45) và 8 flavonol (46-53) từ các loài của chi Symplocos. Cùng với đó là công trình nghiên cứu đã công bố của các nhà khoa học theo trích dẫn [26, 34, 40, 41, 46, 50, 52, 53, 54]. LVTHS Khoa học nghiên cứu R5 R2 R1 R4 R1 O R4 R5 R3 R3 O OH R2 R1 R2 R3 R4 R5 R1 R2 R3 R4 R5 35 Oglc H α-OH H OH OH H α-OH H OH 41 Oglc OH OH OH H 36 37 Oglc H α-OH Ome OH 42 OH Oglc OH OH H 38 Ome OH Oglc H OH 43 OH Oglc H OH H 39 OH OH Oglc H Me 44 H Oglc OH OH OH 40 OH OH Oglc H OH 45 OH Oglc OH OH OH OH R1 O R3 R2 OH O R1 R2 R3 46 OH Oglc OH 47 OH Ogal OH 48 OH OH OH 49 OH Oglc H 50 OH Orha H 51 OH Ogla H 9 52 OH OH H 53 Ome Ogal(1-4)Gal OH 1.3 Thành phần lignan Một dibenzylbutane lignan (54), hai dibenzyltyrolactone lignans (55-56), được biết đến từ cây S. Sáu ditetrahydrofuran lignans (57-62), hai benzofurans lignans (63-64), và 8-O-4’-neolignan (65), LVTHS Khoa học nghiên cứu được phân lập từ chi Symplocos.
MeO O H OH MeO OH O HO RO H 54 55: R=H 56: R=Glc OMe OMe OH OH R2 OR5 R3 OR4 O O R3 H H H H R1 O O R1O R2O OMe OMe R1 R2 R3 R1 R2 R3 R4 R5 57 H OH Ome 60 H H H Me H 58 Glc OH Ome 61 H Glc H Me H 59 H Ome OH 62 Ome H Ome H Me 10 OH OH O OR O O OMe OMe OH 63: R=Api OH OH 64: R=H LVTHS Khoa học nghiên cứu OH OMe O HO OH O OH O OMe HO HO 65 OH 1.4 Thành phần phenolic Vào khoảng thời gian 2003 – 2004, nhóm nghiên cứu của tác giả Ahmad và cộng sự đã phân lập được 7 phenolic glycoside mới và 1 phenolic glycoside đã biết từ cây S. Những hợp chất này thể hiện tính ức chế, chống lại nọc rắn độc có phosphodiesterase I và nucleotide pyrophosphatase phosphodiesterase của con người [31, 55, 56]. Những dẫn xuất phenol khác (74 – 81) được phân lập từ S. OR5 OR6 R4O O O R3O R2O OR1 R1 R2 R3 R4 R5 R6 66 H PhCO H H H PhCO 67 H H H H H PhCO 68 H PhCO 3,4-(MeO)2C6H3 H H PhCO 69 Me Glc H H H PhCO 11 70 H H H PhCO H 2-OH-3-COOH-C6H3 71 H 4-OH-C6H4CO H H H PhCO 72 PhCO H H H H PhCO 73 H H H 3,4-(MeO)2C6H3 Me PhCO O OH OH O OMe O LVTHS Khoa học nghiên cứu OH OH OH OH O H OH OH O MeO COOH 75 H OH 74 OH O COOH HO O OH HO OH OH O OH OH 76 O 77 OH OH MeO OMe HO O OH O HO 78 HO OH OMe OMe HO O O O R O OH HO 79: R=H OH HO OH 80: R=MeO 12 OMe O HO O O OH HO HO OH OH 81 1.5 Thành phần steroid Năm 1983, Frotan cùng cộng sự đã phân lập được một α-spinasterol (82) từ LVTHS Khoa học nghiên cứu cây S.
spicata, hợp chất thể hiện khả năng kháng viêm tốt (anti-inflammatory) với thử nghiệm trên chuột [33]. Năm 2005, Abbasi cùng cộng sự đã phân lập được một số ethyl glucoside [83, 84] từ cây S. Cấu trúc của hai hợp chất này được xác định bằng các phương pháp phân tích 2D-NMR như COSY, HMQC và HMBC. Hai glucoside này thể hiện tiềm năng ức chế enzyme lipoxygenase và urease [40, 56].6 Thành phần alkaloid Năm 2001, Junko và cộng sự đã khảo sát tính chất của chất harman (87) được phân lập từ cây S.
setchuensis có tác dụng ức chế sự nhân đôi của virut HIV trong tế bào bạch cầu H9 với liều lượng thích hợp [22]. Tiếp đó, Tschesche và cộng sự đã phân lập từ vỏ cây S.