Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu vẫn để Khi xã hội ngày cảng, phát triển, con người ngảy cảng dong vai trò trung tâm và trở thanh nguồn lực chính cho sự phát triển của xã hội thì các ngành khoa học nói chung va Tâm ly học nói riêng cảng tập trung vào nghiên cứu con người. Trong đó, hanh vi là một dé tài kha hap dẫn, thu hút được nhiều sự quan tam của các nhà khoa học. Những công trình nghiên cứu về hành vi ở nước ngoài và ở Việt Nam 1.1, Các công trình nghiền cứu ở nước ngoài Pau tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của nha Tâm lý học Bandura.
Trong các nghiên cửu về tác động của mỗ hình sống, bạo lực của con người trên phim anh, trong phim hoạt hình đến hành vi bạo lực của trẻ em trước tuổi học, ông đã khẳng định rang nhóm các em cỏ quan sát hành vì bạo lực trên phim ảnh và trong đời thường đã thẻ hiện tính bạo lực nhiễu hơn so với nhóm trẻ em đối chứng. Nghiên cứu đề cập đến xu hưởng mo hình hóa các hanh vị của người được quan sat thành các “mé hinh” hình vi của minh; hay nói khác đi đó là tính bắt chước trong hành vi của trẻ em. Tuy nhiên, khách thé trong nghiên cửu này là trẻ em phát triển bình thường. [48, 18] Trang § Cũng tập trung nghién cửu vẽ hành vi nhưng nha Tâm lý học người Mỹ Gordon Olport (1897 — 1967) đã khai thác ở một khia cạnh khác.
Trong các công trình nghiên cửu của minh, Gordon chứng minh ảnh hưởng của nhóm đến hành vi, tri giác và quan điểm của các thành viên. Những nghiên cửu nay dựa trên quan điểm của thuyết hành vi cô điển, va hanh vi trong các nghiên cứu nay là hành vi theo cơ chế “kích thích — phan ửng”. Các công trình nghiên cứu o Viet Nam Ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu cỏ giá trị về hành vi. Trong nghiên cứu “Quan niệm về sự chung thủy trong tỉnh yêu của sinh viên hiện nay” của tac giả Lê Thị Bừng (PGS.
Khoa Tâm ly Giáo dục, trường DHSP Ha Nội), những hanh vi biểu hiện tinh yêu chung thủy đã đẻ cập đến qua một số thực nghiệm trong tinh hudng giả định. Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu ở đây là sinh viên chứ không phải là trẻ mo côi. Trong khỏa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu một số biểu hiện hành vị của người cỏ HIV tại Tiền Giang và thành pho Ho Chi Minh hiện nay” (Dai học Sư phạm thành phố Hỗ Chi Minh, 2008), tac giả Nguyễn Minh Phụng cho rằng người cỏ HIV có xu hướng biểu hiện những hành vi tiêu cực trong quá trình từ khi biết mình nhiễm HIV đến khi bình ôn được tâm lý. Các xu hướng hảnh vi tiêu cực mà người có HIV thường biểu hiện như: Nam một chỗ, không muốn giao tiếp với ai (82,8%), bỏ bê công việc hiện tại (62,9%), khóc lóc, than tha (57.
Nguyễn nhân của những xu hưởng hanh vi tiêu cực trên được tác giả xác định chủ yếu là do chủ thé có những nhận thức sai lệch và cỏ thái độ tiêu cực khi biết minh mang trong người căn bệnh the kỷ. Khách the nghiên cửu trong Trang 9 công trình nay la những người có HIV — một đổi tượng xã hội kha đặc biệt, [20] Trên đây là những công trình nghiên cứu vẻ hanh vi con người trên thể giới và ở Việt Nam, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nao dé cập đến biểu hiện hành vi trong việc tuân thủ các quy tắc của trẻ mo côi. Hay noi một cách khác, những biểu hiện hành vị trong việc tuân thủ các quy tắc hang ngảy của trẻ mo côi chưa được quan tâm nghiên cứu, 1. Những công trình nghiên cứu về trẻ mé côi Hiện nay, các nghiên cứu về trẻ mô côi hau hết thuộc lĩnh vực xã hội học nham thông ké số lượng trẻ, tinh trạng của trẻ cũng như đề xuất các biện pháp vả chính sách để chăm sóc, hỗ trợ trẻ.
Một trong những cũng trinh nghién cứu khả sớm va có gia trị do la nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thức (2000) tìm hiểu đặc điểm giao tiếp của 39 trẻ mỗ côi đang sống tại làng SOS ở Hà Nội và khách thé đổi chứng là 30 trẻ em binh thường củng độ tuôi. Kết quả nghiên cứu nỗi bật ở ba vẫn đẻ: - Trẻ mé côi có nhu cau tiếp xúc với người khác ở mức cao tuy nhiên trong giao tiếp trẻ mô côi có xu hướng thu hep quan hệ va đi vào chiều sâu hơn là mở rộng phạm vi giao tiếp, dan trải. - Giữa trẻ mô côi và trẻ bình thường có sự giống nhau ve thử bậc các thành phan trong cau trúc tâm lý của “an tượng ban đâu”: cảm tinh, lý tinh, xúc cảm nhưng có sự khác biệt về tỉ lệ % giữa các thành phan. - Nội dung giao tiếp của trẻ mỏ côi vả trẻ bình thường cỏ điểm khác biệt lớn nhất là nội dung “làm ăn kiểm tiên”.
[23] Ở khia canh khác trong đẻ tai nghiên cứu vẻ trẻ mé côi, tác giả Đỗ Văn Lợi đã có bài viết “Phác họa chân dung tâm lý của học sinh ở các Trang 10 làng tre SOS Việt Nam” dang trên tạp chi Tam ly học số 5/2005. Trong bai viết nay, tác gia cho rằng trẻ ở làng SOS phan đông có năng lực học tập tốt; long nhân ái và sự đồng cảm [a nét nỗi bật trong đời sông tinh cảm của các em: các em có quyết tâm cao va có ¥ thức sớm đổi với việc tự lập. Thể nhưng, nội tâm đa cảm, có phân tự tỉ là nhược điểm trong nhân cách của trẻ mô edi. O bai viet nảy, tác giả đã viết rất kỹ vẻ đặc điểm tâm ly của tré mỏ côi ở làng SOS, tuy nhiên, chưa dé cập đến biểu hiện hanh vị của trẻ, đặc biệt là trong việc trẻ thực hiện các quy tắc của người lớn.
[13] Một điều khá đặc biệt là trong những năm gan đây, để tải trẻ md côi được sự quan tam của kha nhiều sinh viên, các bạn đã chọn trẻ mỗ côi là khách thê nghiên cứu trong dé tai khóa luận tốt nghiệp của mình. Trong luận van “Tim hiểu một số nhương phap giao dục đạo đức va sự tiên bộ vẻ đạo đức của tré trong mô hình SOS Gò Vấp” (Đại học Su phạm thanh phố Hỗ Chi Minh, 1994), tác giả Hoàng Mỹ Nga đã tìm hiểu một số phương pháp giáo dục đạo đức được sử dụng đổi với trẻ mỗ côi của các ba mẹ. Bên cạnh do, tac gia con tìm hiểu hiện trạng đạo đức của một số trẻ đã vào làng 4 năm, đồng thời so sánh nhận thức dao đức của trẻ mới vào lang va trẻ đã vao lang được 4 — 5 nam, so sánh nhận thức đạo đức của trẻ ở lang với trẻ ở trường phd thông binh thường. Tuy nhiên, trong dé tải này, tác giả Hoàng Mỹ Nga chưa dé cập đến một cách chỉ tiết những biểu hiện hành vị của trẻ trong việc tuân theo quy tắc do người lớn đặt ra trong cuộc song hang ngày.
[16] Luận văn tết nghiệp Đại học của Cao Thị Phương Nga (Đại học Sư phạm thanh phố Hỗ Chỉ Minh, 1997) với dé tai “Tìm hiểu một số phương pháp giáo dục gia đình tai lang SOS” cũng là một nghiên cửu về Trang 11 trẻ mo côi. Với phạm vi nghiên cứu là lang SOS Gò Vấp, làng trẻ Picasso Thu Đức (nay là làng thiểu niên Thủ Đức), Trung tâm nuôi dạy trẻ Biên Hỏa, tác giả đã đưa ra những kết quả rất sâu sắc về thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục gia đình ở ba nơi nay. Tuy nhiên khách the nghiên cứu chính của tac gia là các ba mẹ, tac giả không khảo sát trên trẻ cũng như hoàn toàn không dé cập đến những biểu hiện hanh vi của trẻ trong việc tuân thủ các quy tắc của người lớn. [15] Cũng lả một khỏa luận tốt nghiệp Đại học, với để tải “So sánh một số đặc điểm giao tiếp giữa học sinh thiểu niên song tại mai am va song tại gia đình ở thành phó Hồ Chi Minh” (Đại học Sư phạm thành phố Hỗ Chí Minh, 2005), tác giả Nguyễn Thị Đỗ Quyên đã cho rằng không có sự khác biệt vẻ nhu cau giao tiếp của học sinh song tại Mai ấm và sông tại gia đình.
Tuy nhiên có sự khác biệt cỏ y nghĩa về nội dung giao tiếp, đổi Lượng, giao tiếp va đặc điểm tâm lý của ban ma thiểu niên muốn giao tiễn giữa trẻ song tại Mái am va sông tại gia đình. Tác giả cũng xác định nguyễn nhãn của sự khác biệt dé là do sự khác nhau về địa điểm song, những đặc điểm riêng của giới tỉnh. Bên cạnh đó, tác giả cũng dé xuất một số biện pháp dé tăng cường khả năng giao tiếp cho thiểu niên song tại các Mái âm. [22] Ở đây, cũng như những tác giả khác, Nguyễn Thị Đỗ Quyên đã tập trung vào nghiên cửu đặc điểm tâm ly của trẻ mo côi chứ chưa chu ý đến mặt hành vi của trẻ trong cuộc sống hang ngảy.
Trong một nghiên cứu khác, tác giả Đỗ Thị Chiêu Linh đã “Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục con của các ba mẹ trong làng nuôi day trẻ mé côi tại thành phố Hồ Chi Minh” (Đại học Sư phạm thành phố Ho Chi Minh, 2005). Trong công trình nay, tac giả Chiêu Linh cho rang phương pháp được các ba mẹ trong lang nuôi dạy trẻ mé côi sử Trang |2 dụng nhiều nhất là phương pháp tập luyện, phương pháp quản lý, giáo dục bằng tỉnh thương, giảng giải, giao việc; phương pháp được sử dụng it nhất là phương pháp tham quan. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra những khó khăn và thuận lợi khi sử dụng các phương pháp giáo dục gia đỉnh của các mẹ trong lang. [12] Nhìn chung, đây la những nghiên cứu rat có gid trị về trẻ mô côi.
Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ tập trung vào đặc điểm tâm lý cũng như các phương pháp giáo dục trẻ mé côi, chưa có tac giả nao nghiên cửu về những biéu hiện hành vi của trẻ mỏ côi trong việc tuân thủ các quy tặc của người lớn đặt ra trong cuộc song hang ngày. Những kết quả từ những công trình nghiên cứu trên đã đặt nên tang để người viết tiên hành nghiên cửu của minh. Mật số khái niệm công cụ 2. Hành vi Trong cuộc sống hang ngày, thuật ngữ hành vi được sử dụng kha thường xuyên.
Chung ta thường nghe những cau như; “hảnh vị của con như vậy là không được”, “dé là một hành vi nhạm pháp”, "phải ngăn chặn hành vi xd rắc nơi công công".