Luận án tiến sĩ về tâm lý học trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non

Chuyên đề tâm lý học trí tuệ xã hội ở sinh viên sư phạm ..., tiếp cận liên ngành, kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong giáo dục

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

236
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.4. Giả thuyết khoa học

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

1.7. Các nguyên tắc tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.7.1. Các nguyên tắc tiếp cận

1.7.2. Các phương pháp nghiên cứu

1.8. Đóng góp mới của luận án

1.9. Cấu trúc của luận án

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM MẦM NON

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề trí tuệ xã hội

2.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

2.1.1.1. Hướng nghiên cứu xác định khái niệm của TTXH
2.1.1.2. Hướng nghiên cứu coi TTXH là hành vi hoặc nhận thức xã hội

3. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM MẦM NON

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về trí tuệ xã hội

Trí tuệ xã hội (trí tuệ xã hội) là một khái niệm quan trọng trong tâm lý học, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục. Nó được định nghĩa là khả năng hiểu và quản lý các mối quan hệ xã hội, giúp cá nhân tương tác hiệu quả với người khác. Nghiên cứu về trí tuệ xã hội ở sinh viên sư phạm mầm non (sinh viên sư phạm) không chỉ giúp nâng cao năng lực cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển của nghề giáo. Theo E. Thorndike, trí tuệ xã hội bao gồm năng lực nhận thức và ứng xử trong các tình huống xã hội, điều này đặc biệt quan trọng đối với giáo viên mầm non, những người có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách trẻ em. Việc phát triển trí tuệ xã hội ở sinh viên sư phạm mầm non sẽ giúp họ xử lý tốt các tình huống sư phạm, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.

1.1. Tầm quan trọng của trí tuệ xã hội

Trí tuệ xã hội có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp và tương tác xã hội. Đối với sinh viên sư phạm mầm non, việc sở hữu trí tuệ xã hội tốt sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về tâm lý trẻ em, từ đó có những phương pháp giáo dục phù hợp. Nghiên cứu cho thấy, những giáo viên có trí tuệ xã hội cao thường có khả năng tạo dựng mối quan hệ tốt với học sinh, giúp trẻ phát triển toàn diện. Hơn nữa, trí tuệ xã hội còn giúp giáo viên xử lý các tình huống khó khăn trong lớp học, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả hơn.

II. Thực trạng trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non

Nghiên cứu thực trạng trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non cho thấy rằng mức độ trí tuệ xã hội của họ thường ở mức trung bình và không đồng đều. Các yếu tố như cơ sở đào tạo, năm học và học lực có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển trí tuệ xã hội. Cụ thể, năng lực nhận thức xã hội được thể hiện tốt hơn so với năng lực giải quyết tình huống xã hội. Điều này cho thấy cần có những biện pháp can thiệp để nâng cao trí tuệ xã hội cho sinh viên. Việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là những giải pháp khả thi để cải thiện tình hình này.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non. Trong đó, tính tích cực trong hoạt động học tập và lòng yêu nghề là hai yếu tố quan trọng nhất. Sinh viên có sự tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội thường có trí tuệ xã hội cao hơn. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ giảng viên và môi trường học tập cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ xã hội. Việc tạo ra một môi trường học tập thân thiện, khuyến khích sự giao tiếp và hợp tác giữa sinh viên sẽ giúp nâng cao trí tuệ xã hội của họ.

III. Đề xuất biện pháp nâng cao trí tuệ xã hội

Để nâng cao trí tuệ xã hội cho sinh viên sư phạm mầm non, cần thiết phải triển khai các biện pháp giáo dục phù hợp. Một trong những biện pháp hiệu quả là tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế, nơi sinh viên có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Bên cạnh đó, việc tăng cường các khóa đào tạo về kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống cũng rất quan trọng. Các giảng viên cần chú trọng đến việc phát triển trí tuệ xã hội cho sinh viên thông qua các phương pháp giảng dạy tích cực, khuyến khích sự tham gia và tương tác giữa sinh viên.

3.1. Tổ chức hoạt động trải nghiệm

Hoạt động trải nghiệm là một phương pháp hiệu quả để nâng cao trí tuệ xã hội cho sinh viên. Thông qua các hoạt động này, sinh viên sẽ có cơ hội giao tiếp, hợp tác và giải quyết các tình huống thực tế. Việc tham gia vào các hoạt động xã hội không chỉ giúp sinh viên phát triển kỹ năng giao tiếp mà còn nâng cao khả năng nhận thức xã hội. Các trường sư phạm cần xây dựng chương trình hoạt động trải nghiệm phong phú, đa dạng để sinh viên có thể rèn luyện và phát triển trí tuệ xã hội một cách hiệu quả.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM MẦM NON 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề trí tuệ xã hội 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về TTXH, song có thể khái quát thành 4 hướng nghiên cứu như sau: 1) Hướng nghiên cứu xác định khái niệm của TTXH: Đó là những nghiên cứu theo hướng cấu trúc của định nghĩa. Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về TTXH, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa và phương pháp tiếp cận.

TTXH được hiểu khác nhau, thông qua các thành phần của nó. Cụ thể: (1) nhận thức và ứng xử của con người (E.Thorndike); (2) hành vi hoặc nhận thức xã hội (đại diện là M. O’Sullivan); (3) năng lực xã hội (đại diện là M.Tisak); (4) trí tuệ về người khác (đại diện là H.Gardner ); (5) trí thông minh thực tế (đại diện là R. Sternberg), trí tuệ cảm xúc (đại diện là P.Mayer); (6) TTXH là trí tuệ được thể hiện trên bình diện xã hội (đại diện là H.

a) Hướng nghiên cứu coi TTXH là nhận thức và ứng xử của con người (đại diện là E.Thorndike) Năm 1920, trong bài báo: “Trí tuệ và việc sử dụng nó” (Intelligence and its use) đăng trên Tạp chí Harper (Harper’s Magazine), E. Thorndike (1874 ­1949) lần đầu tiên đưa ra khái niệm “trí tuệ xã hội” dựa trên sự phân chia trí tuệ con người thành 3 bộ phận bao gồm: ­ Trí tuệ trừu tượng (Abstract Intelligence): Năng lực để hiểu và quản lý các ý tưởng. ­ Trí tuệ cơ học (Mechanical Intelligence): Năng lực hiểu và quản lý đồ vật cụ thể 9 ­ Trí tuệ xã hội (Social Intelligence): Năng lực hiểu và quản lý con người. Trong đó, trí tuệ cơ học và trí tuệ xã hội đề cập đến suy nghĩ và hành động liên quan trực tiếp tới các vấn đề thực tế và con người hiện thực.Thorndike là người nhấn mạnh đến việc không nên đồng nhất các loại trí tuệ, cần thiết phải mở rộng khái niệm IQ.

Bởi: “không có người nào giỏi tất cả mọi lĩnh vực. Trí tuệ thay đổi tùy theo tình huống trong cuộc sống”. Trong cuộc sống vẫn không hiếm gặp những trường hợp: “Một người kém thông minh ở hầu hết các vấn đề, có khi đang bị giam lỏng trong bệnh viện thần kinh, đang chơi trò chơi hạng nhất của cờ vua. Một người đàn ông nổi tiếng cả nước với vai trò nhà biên tập, diễn giả và giám đốc điều hành nhưng lại không thể vượt qua kỳ thi toán khi là sinh viên năm thứ nhất”.

Hướng tiếp cận phát triển đa trí tuệ này của Thorndike đã tạo nên một cuộc tranh cãi với Spearman suốt 25 năm (1920­ 1945) (Spearman đề xuất lý thuyết đơn trí tuệ).Thorndike, TTXH liên quan đến năng lực của một cá nhân để hiểu, tương tác với người khác, để tham gia, hành động thích ứng với các tương tác xã hội. Thorndike nhận thấy: “Các biểu hiện của trí tuệ xã hội xảy ra rất nhiều trong trường học, trên sân chơi, trong các doanh trại, nhà máy và cửa hàng mà không cần những điều kiện chuẩn của phòng thí nghiệm hỗ trợ”. Ông nhấn mạnh sự tương tác hiệu quả giữa các cá nhân có ý nghĩa sống còn đối với thành công trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lãnh đạo: “Người thợ máy giỏi nhất trong một nhà máy vẫn có thể thất bại khi viên quản đốc thiếu trí thông minh xã hội” 30.Thorndike cho rằng, TTXH là: (1) năng lực để hiểu và quản lý con người và (2) năng lực để cư xử một cách khôn ngoan trong các mối quan hệ người­ người. Quan điểm coi TTXH là tổ hợp các năng lực này được rất nhiều những nhà tâm lý học tiếp sau này đồng thuận và kế thừa khi nghiên cứu TTXH.

b) Hướng nghiên cứu coi TTXH là hành vi hoặc nhận thức xã hội 10 Đại diện là David Welchsler, J.Welchsler (các năm 1939, 1958), nhà tâm lý học nổi tiếng thời bấy giờ, người đã tạo ra một trong những thước đo IQ được sử dụng phổ biến nhất, lại kiên quyết bác bỏ sự tồn tại của trí tuệ xã hội. Theo ông, TTXH là trí tuệ chung được ứng dụng trong các tình huống xã hội. Ông cho rằng test WAIS (bộ trắc nghiệm nổi tiếng dùng để đo IQ) có thể sử dụng để đo TTXH, cụ thể là đánh giá năng lực của cá nhân khi tiếp nhận tình huống xã hội 30. Nếu hiểu như vậy, thì nhận thức xã hội là thành phần duy nhất của trí tuệ xã hội.

Nhưng quan điểm này chỉ tập trung vào những gì chúng ta biết về thế giới giữa các cá nhân con người mà bỏ qua những gì chúng ta thật sự thực hiện khi giao tiếp với người kh ác. Kết quả, những phương pháp đánh giá trí tuệ xã hội chỉ tập trung kiểm tra vào câu hỏi “chúng ta làm gì trong các tình huống xã hội” mà bỏ qua câu hỏi “chúng ta làm như thế nào trong những tình huống đó”. Một người dù có nhận thức xã hội rất tốt những lại thiếu những yếu tố cơ bản của trí tuệ xã hội, vẫn có thể thất bại khi giao tiếp với người khác.Cantor (Đại học Toronto­ Canada) đã có nhiều công trình nghiên cứu khá công phu và sâu về trí tuệ xã hội. Năm 1987, hai ông xuất bản cuốn sách “Nhân cách và trí tuệ xã hội”.

Năm 1989, hai ông nghiên cứu vấn đề “trí tuệ xã hội và đánh giá nhận thức của nhân cách”. Năm 2000, hai tác giả viết “Trí tuệ xã hội” được in trong cuốn “Sổ tay trí thông minh” của Đại học Cambridge (Anh). Đây là công trình nghiên cứu rất công phu về các vấn đề của trí tuệ xã hội. Kihlstrom và Cantor cho rằng, TTXH là vốn kiến thức của cá nhân về thế giới xã hội.Trí tuệ xã hội được sinh ra để giải quyết các vấn đề của xã hội, cụ thể là điều tiết các nhiệm vụ của cuộc sống, các mối quan tâm của xã hội hiện tại 30.

Cũng nghiên cứu về vấn đề trên, năm 1965, trong tác phẩm “Phép đo lường trí tuệ xã hội”, M O'Sullivan, J.deMille (1965) cho rằng: 11 nhận định về hành vi được xem như là năng lực đánh giá con người. Cảm xúc, động cơ, suy nghĩ, ý định, thái độ và các khuynh hướng tâm lý khác có ảnh hưởng đến các hành vi xã hội của một cá nhân 30.Guilford và cộng sự xác định rõ ràng, TTXH gồm có 2 năng lực khác nhau. Hai năng lực này tương đối độc lập với nhau trong khu vực hành vi và khu vực phi hành vi. c) Hướng nghiên cứu TTXH như 1 năng lực xã hội đại diện là M.

Theo Ford và Tisak (1983), TTXH là năng lực giải quyết các tình huống xã hội cụ thể 30; tr. Qua công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả đã kết luận: “Các biện pháp đánh giá về TTXH đã được thích nghi trong ứng xử xã hội nên được sử dụng như là yếu tố tiên đoán về sự thể hiện hành vi ứng xử xã hội được quan sát trực tiếp hơn là các biện pháp của trí tuệ hàn lâm” 30. Cùng quan điểm trên, H. Marlowe (1986) thì cho rằng TTXH là năng lực để hiểu cảm xúc, suy nghĩ và cách ứng xử của con người trong các tình huống liên nhân cách, để hành động một cách đúng đắn dựa trên sự hiểu biết 30.

d) Hướng nghiên cứu TTXH là trí tuệ về người khác: Trong lý thuyết Đa trí tuệ, H.Gardner phân chia thành nhiều loại trí tuệ khác nhau. Trong đó, trí tuệ về người khác bao gồm những năng lực nhận thức rõ ràng và đáp ứng lại các tâm trạng, khí chất, động cơ và các mong muốn của người khác một cách thích hợp. Họ có khả năng xâm nhập vào tư tưởng của người khác, có khả năng động viên và hỗ trợ người khác. Những người cần có trí tuệ này là bác sỹ, điều dưỡng, người bán hàng, giáo viên.

Thùy trán có vai trò quan trọng đối với loại trí tuệ này. Các tổn thương ở thùy trán có thể làm mất khả năng thấu hiểu người khác và làm thay đổi hoàn toàn nhân cách. Sự lão suy có thể làm mất đi tất cả mọi khả năng xã hội của con người. Thực chất đây chính là kiểu TTXH mà E.

e) Hướng nghiên cứu TTXH như một loại trí tuệ thực tiễn hay trí tuệ cảm xúc: R. Sternberg cho rằng trí tuệ có 3 loại là: Trí tuệ phân tích, trí tuệ sáng tạo và 12 trí tuệ thực tiễn. Trí tuệ thực tiễn là khả năng thích nghi với cuộc sống hàng ngày bằng kiến thức và kỹ năng sống. Trí tuệ thực tiễn có thể khiến một cá nhân hiểu cái mình cần phải làm trong một hoàn cảnh cụ thể.

Theo ông, trí tuệ thực tiễn đặc biệt dựa vào việc thu được những kiến thức ngầm (Tacit Knowledge) không chính thức hơn là chính thức, học được mà không nhất thiết phải qua trường lớp. Kiến thức ngầm này phản ánh sự hiểu biết để giải quyết một tình huống nhất định, phản ánh sự phát triển và hành động. Nó xuất hiện mà không cần được dạy phải làm gì, làm điều đó như thế nào, hoặc có thể phù hợp với việc tại sao cá nhân lại hành động như vậy 30. Manfred Amelang và Dieter Bartussek cũng gọi dạng trí tuệ này là trí tuệ thực tiễn.

Tri thức trường học, tư duy logic, trí nhớ, trí sáng tạo chưa đủ để hoàn thành nhiệm vụ thực tiễn. Sống trong cộng đồng phải chú ý đến các quy luật xã hội, sự thừa nhận và đánh giá theo chuẩn mực xã hội, biết chẩn đoán hành động của người khác, để từ đó có tổ chức, đặt kế hoạch và quyết định về hành động của mình. Yêu cầu này đòi hỏi con người phải có trí tuệ xã hội. TTXH là "năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh tương tác với người khác.

Nó diễn ra trong hoạt động cùng với người khác với mục đích và tính xã hội nhất định". TTXH được tạo nên bởi ba thành tố trong đó trí tuệ cảm xúc là hạt nhân. ­ Tự nhận thức về bản thân: hiểu về mình, đánh giá về mình ­ Năng lực xã hội: Gồm ba tiểu thành tố: nhận thức, xúc cảm, vận động ­ Trí tuệ cảm xúc: gồm bốn tiểu thành tố: nhận ra cảm xúc, biểu hiện cảm xúc, điều khiển có hiệu quả cảm xúc, sử dụng những thông tin liên quan đến cảm xúc để thúc đẩy, đặt kế hoạch và thực hiện có kết quả hành động. Dẫn theo Huỳnh Văn Sơn (2011) ; tr.

Paul Ekman chứng minh tầm quan trọng của những biểu lộ cảm xúc trên khuôn mặt và sự giao tiếp phi ngôn ngữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tâm lý học trí tuệ xã hội ở sinh viên sư phạm mầm non" khám phá mối liên hệ giữa trí tuệ xã hội và sự phát triển tâm lý của sinh viên trong lĩnh vực giáo dục mầm non. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tương tác xã hội và sự phát triển cảm xúc của sinh viên, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của trí tuệ xã hội trong giáo dục mà còn cung cấp những phương pháp hữu ích để cải thiện kỹ năng này cho sinh viên.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan đến giáo dục và tâm lý học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Nghiên cứu mối quan hệ giữa động cơ học tập và kết quả học tập của sinh viên trường cao đẳng sư phạm, nơi phân tích động lực học tập và ảnh hưởng của nó đến thành tích học tập. Ngoài ra, bài viết Nghiên cứu ý chí trong hoạt động học tập của sinh viên khoa tâm lý học cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của ý chí trong quá trình học tập. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Mối tương quan giữa trí tuệ với điểm số học tập của học sinh trung học cơ sở, giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của trí tuệ đến kết quả học tập. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố tâm lý trong giáo dục.