Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ BẢN THÂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐÁNH GIÁ BẢN THÂN VỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về đánh giá bản thân 1. Những nghiên cứu về đánh giá bản thân trên thế giới Trong những năm gần đây, ĐGBT là một đề tài đang được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới. Riêng ở Pháp thống kê cho thấy chỉ trong vòng hơn 10 năm cuối của thế kỷ XX đã có hơn 20.000 công trình nghiên cứu về tự đánh giá.
Còn theo thống kê của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ trong vòng 30 năm nay kể từ năm 1967 đến 1996 đã có 13587 các bài viết về tự đánh giá được xuất bản. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới tập trung chủ yếu vào các nội dung lớn như: nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, nội dung, quá trình hình thành và phát triển của ĐGBT, vai trò cũng như ảnh hưởng của ĐGBT đến sự phát triển nhân cách của con người nói chung[7]. Nhìn chung, có một vài lý thuyết về nhân cách đưa sự ĐGBT như một biến số có ý nghĩa nhưng chỉ có thuyết của Alfred Adler coi biến số này đóng một vai trò chính. Adler nhìn nhận một cách rõ ràng sự quan trọng của tự đánh giá nhưng ông quan tâm đến nó trong việc áp dụng vào trị liệu hơn là giải thích lý thuyết.
Ồng cho rằng những cá nhân tự ti sẽ cố gắng bù trừ khiếm khuyết để vươn lên trong cuộc sống. Như vậy, Adler nhìn nhận việc đánh giá đúng những hạn chế của bản thân, thậm chí đánh giá thấp về BT là động lực mạnh mẽ để cá nhân vươn lên và thành công trong cuộc sống. Chính bản thân con người và cuộc đời của Adler là một minh chứng hùng hồn cho lý thuyết của ông. Một hướng nghiên cứu của Alfred Adler liên quan đến tự đánh giá, đó là yếu tố thể chất của cá nhân cũng ảnh hưởng đến ĐGBT.
Sự không khỏe mạnh về thể chất, sự yếu ớt trong phát triển cơ bắp, sự thiếu hụt một vài bộ phận trên cơ thể có ảnh hưởng đến ĐGBT không thuận lợi của cá nhân. Như 17 z vậy, theo Adler có 3 nhóm điều kiện có thể gây ra cho trẻ em sự ĐGBT không thuận lợi: - Sự thiếu hụt về thể chất; - Giáo dục không đúng tạo cho những đứa trẻ không nhận thấy giá trị của bản thân; - Giáo dục không đúng tạo cho những đứa trẻ có thái độ thù địch với mọi người. Như vậy, thể chất của cá nhân và thái độ đánh giá của người khác về cá nhân cũng góp phần tạo nên sự ĐGBT của cá nhân. Bên cạnh đó, đa phần các tác giả đều cho rằng ĐGBT hình thành thông qua tương tác xã hội, trước hết là mối quan hệ tương tác với cha mẹ, người thân [15].
Một vài nhà Tâm lý học khác như Hartmann, Erikson và Jacobson có liên hệ đến sự tự đánh giá nhưng lại chỉ liên hệ gián tiếp. Rogers cũng quan tâm tới sự ĐGBT nhưng chủ yếu là ở bản chất chung các trải nghiệm của các khách thể và sự chấp nhận thể nghiệm ở cá nhân. Có thể nói, James, Mead và Charles là những nhà tâm lý học đầu tiên cung cấp khả năng và hướng dẫn chính cho việc nghiên cứu về ĐGBT. Họ quan tâm đến nguồn gốc và mức độ của ĐGBT.
Tuy nhiên, họ vẫn còn bị hạn chế do chưa chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng tới sự tự đánh giá. Một trong những tác giả đã có những nghiên cứu công phu về vấn đề tự đánh giá đó là nhà Tâm lý học người Đức S.Franz với đề tài: “Khả năng tự đánh giá phù hợp đối với thái độ học tập và thái độ tập thể ở học sinh các lớp 5 – 7 – 9”. Sau đó, bà còn cho xuất bản cuốn: “Phát triển tự đánh giá của học sinh”.Lipkina, một nhà Tâm lý học người Nga, cũng là người rất quan tâm đến vấn đề tự đánh giá ở học sinh. Bà đã cùng cộng tác với L.Rubak trong công trình nghiên cứu: “Tính phê phán và tự đánh giá trong hoạt động học tập”.Sau đó, vào năm 1976, bà còn cho xuất bản cuốn “Tự đánh giá của học sinh”.
18 z Tác giả Stanley Cooper Smith với những nghiên cứu về nguồn gốc của tự đánh giá, nguồn gốc của lòng tự trọng, đã được trình bày trong tác phẩm “Nguồn gốc của lòng tự trọng”. Cũng nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh của sự ĐGBT quá thấp, sự đánh giá quá cao, Alfred Adler ngoài sự thừa nhận những tác động của tính chất mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái còn rất đề cao tầm quan trọng của yếu tố bệnh tật, sự yếu ớt về thể chất trong sự hình thành các mầm mống của sự ĐGBT thấp. Vấn đề vai trò của tự đánh giá trong sự hình thành và phát triển nhân cách cũng rất được quan tâm. Vấn đề này đã được V.Levcovic bàn đến trong nghiên cứu “Sự tự đánh giá và vai trò của nó trong quá trình hình thành nhân cách”.
*Tóm lại, qua những công trình của các tác giả nước ngoài về ĐGBT, chúng tôi đưa ra một vài nhận xét như sau: - Đối tượng của tự đánh giá chính là bản thân chủ thể. - ĐGBT được hình thành thông qua giao tiếp xã hội, cá nhân tiếp thu và lĩnh hội những chuẩn mực xã hội, đồng thời tự điều chỉnh hành vi ứng xử cho phù hợp với những chuẩn mực đó. Đây chính là cơ sở của ĐGBT. - Thể chất của cá nhân và thái độ đánh giá của người khác về cá nhân cũng góp phần tạo nên sự ĐGBT của cá nhân.
- ĐGBT hình thành thông qua tương tác xã hội, trước hết là mối quan hệ tương tác với cha mẹ, người thân. Những nghiên cứu về đánh giá bản thân ở Việt Nam Từ trước đến nay có không ít các công trình của các tác giả trong nước nghiên cứu về vấn đề ĐGBT. Trong nghiên cứu Lê Ngọc Lan (1999), Nghiên cứu sự tự đánh giá thái độ học tập môn toán, cho rằng: Đánh giá bản thân có mối liên hệ với những yếu tố tâm lý khác của nhân cách. Sự đánh giá bản thân phù hợp đối với thái 19 z độ học tập ở học sinh lớp 6 và lớp 8 còn chưa cao.
Đánh giá bản thân về thái độ học tập của các em gái phù hợp hơn các em trai. Lê Đức Phúc (1999) đã nghiên cứu đánh giá bản thân của học sinh tiểu học xét về mặt ý thức bản ngã qua đề tài “Sự phát triển ý thức bản ngã”. Qua đó, ông đã làm rõ thực trạng của ý thức này trong mối quan hệ với trình độ phát triển nhân cách của lứa tuổi HS tiểu học. Qua bài viết “Con người thích tự đánh giá và được đánh giá hình ảnh cái tôi của mình như thế nào?”, tác giả Nguyễn Thị Hoa (1999) đã khẳng định: Tất cả mọi người đều có nhu cầu muốn tự đánh giá và được đánh giá hình ảnh cái tôi.
Thông qua việc tổng hợp từ một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã chỉ ra rằng: Nhìn chung, con người thích những nhận xét thống nhất với nhận xét của họ về bản thân hơn là những nhận xét trái ngược. Những người ĐGBT tốt thường tìm cách để người khác cũng đánh giá tốt về họ. Đào Lan Hương (2000), Nghiên cứu tự đánh giá về thái độ học tập môn toán của sinh viên Cao đẳng sư phạm Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu trên 360 sinh viên. Phương pháp chính được sử dụng trong đề tài là phương phápđiều tra bằng bảng hỏi.
Tác giả còn sử dụng phương pháp thực nghiệm để khảo sát thực trạng mức độ phù hợp của tự đánh giá về thái độ học toán ở sinh viên và áp dụng biện pháp thử nghiệm tác động nhằm nâng cao khả năng TĐG phù hợp của sinh viên về thái độ học toán; đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành thực nghiệm kiểm chứng biện pháp nâng cao khả năng TĐG phù hợp của sinh viên về thái độ học toán. Với nghiên cứu này, Đào Lan Hương đã rút ra một số kết luận như sau: Khả năng tự đánh giá thái độ học tập môn toán của sinh viên phát triển không đồng đều với các mức độ khác nhau: Có sự khác biệt về khả năng TĐG thái độ học toán ở những sinh viên khác nhau về kết quả học tập, thái độ học tập, vị thế trong tập thể, hoạt động nghề nghiệp và môi trường học tập. Về các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá bản thân tác giả cho rằng, trình 20 z độ phát triển nhân cách là yếu tố bên trong ảnh hưởng tới sự tiếp thu của cá nhân đối với đánh giá bên ngoài, vì vậy nó ảnh hưởng một cách gián tiếp lên đánh giá bản thân [6]. Văn Thị Kim Cúc (2003) với đề tài: Những tổn thương tâm lý của thiếu niên do bố mẹ ly hôn đã so sánh đánh giá bản thân giữa trẻ trong các gia đình ly hôn và trẻ trong các gia đình bình thường.
Kết quả nghiên cứu cho thấy. - Các em trong gia đình ly hôn và trong các gia đình bình thường đều có điểm số trung bình của cái Tôi xã hội, cái Tôi trường học khá cao và điểm trung bình của cái Tôi cảm xúc tiêu cực đều thấp. Các em trong gia đình ly hôn có điểm số cái Tôi thể chất thấp hơn các em trong gia đình bình thường. - Về mặt giới tính, trẻ nam hay nữ trong gia đình có bố mẹ ly hôn cùng cảm thấy phải chịu thiệt thòi như nhau.
Tuy nhiên, các em nữ trong gia đình có bố mẹ ly hôn đánh giá ứng xử và năng lực trong cuộc sống học đường cũng như năng lực xây dựng và duy trì các mối quan hệ với các thành viên trong gia đình, bạn bè hay cảm giác được thừa nhận về mặt xã hội thấp hơn một cách có ý nghĩa so với các em nữ sống trong gia đình có đầy đủ cả bố mẹ [2]. Tác giả Văn Thị Kim Cúc (2003),Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ 10 - 15 tuổi (số 7) trình bày công trình nghiên cứu của mình và cộng sự về tự đánh giá bản thân của trẻ 10 – 15 tuổi. Theo các tác giả này, có mối liên hệ chặt chẽ giữa tính tích cực của tự đánh giá với kết quả hoạt động của cá nhân trong lĩnh vực có liên quan. Qua nghiên cứu thực tiễn trên 60 trẻ trai và 60 trẻ gái ở một số trường Phổ thông cơ sở tại Hà Nội, Văn Thị Kim Cúc (2004) đã có những kết luận ban đầu về “Mối tương quan giữa biểu tượng về gia đình và sự đánh giá bản thân của trẻ”.