Đặt vấn đề Ngày nay trên thế giới, xu hƣớng tìm kiếm và sử dụng các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc tự nhiên ngày càng tăng, con ngƣời có khuynh hƣớng sử dụng nhiều thuốc và có nguồn gốc thiên nhiên. Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài xu hƣớng đó. Điều kiện tự nhiên ƣu đãi cho đất nƣớc ta có hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên, cây thuốc đất đai và khí hậu nhiệt đới gió mùa phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó có nhiều loại cây thuốc quý. Đây chính là tiền để tốt để ngành dƣợc phát triển thuốc từ dƣợc liệu Gừng gió là một loại thảo mộc phổ biến ở Việt Nam.
Cây mọc hoang dại ở khắp Việt Nam và tập chung chủ yếu ở vùng núi cao. Gừng gió đƣợc nhắc đến rất nhiều trong những sách y học cổ truyền nhƣ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của tác giả Đỗ Tất Lợi (2004) và cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” tác giả Viện dƣợc liệu (2006). Củ gừng có vị đắng tính bình có các tác dụng nhƣ kích thích tiêu hóa, bồi dƣỡng và tẩy độc. Thƣờng dùng chữa những trƣờng hợp trong ngƣời thấy nôn nao, chóng mặt, muốn ngất xỉu dùng cho phụ nữ sau khi sinh.
Thân và rễ cây gừng gió có chứa nhiều tinh dầu, các cấu trúc hóa học đồng phân và đồng vị khác nhau nhƣ là polyphenol, terpenes và zerumbone (sesquiterpene). Ngoài ra chiết xuất ethylacetate từ gừng gió cũng có chứa flavonoid glycoside, một dẫn xuất của kaempferol có hoạt tính chống oxy hóa cao và có tác dụng về bảo vệ thần kinh Zerumbone là thành phần chính trong tinh dầu cây gừng gió (Zingiber zerumbet smith) phân bố phổ biến ở Việt Nam và Đông Nam Á. Các kết quả nghiên cứu cả in vitro và invivo đều khẳng định zerumbone là chất chống ung thƣ mạnh, sesquiterpen này ức chế có hiệu quả sự phát triển nhiều dòng tế bào ung thƣ ngƣời nhƣ ung thƣ gan, ung thƣ cổ tử cung, ung thƣ vú, ung thƣ phổi, ung thƣ đại tràng, ung thƣ máu, ung thƣ da, ung thƣ buồng trứng, ung thƣ tuyến tuỵ. Trong đó nhóm ketone vòng α,β- không no đƣợc xác định là trung tâm của nhiều hoạt tính sinh học quý giá nhƣ hoạt tính kháng viêm, hoạt tính chống sốt rét, hoạt tính chống ký sinh trùng, hoạt tính chống huyết áp, đặc biệt là hoạt tính gây độc tế bào và khả năng thúc đẩy quá trình tự chết của các tế bào ung thƣ.
Do vậy việc nghiên cứu, tách chiết và tinh sạch zerumbone có 1 ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của ngành dƣợc nói chung và các thuốc chống ung thƣ nói riêng. Trong tinh dầu gừng gió có chứa hàm lƣợng cao zerumbone, là một chất đƣợc nghiên cứu chứng minh có khả năng chống ung thƣ mạnh và đƣợc nghiên cứu rất nhiều trên thế giới. Tại Việt Nam PGS.TS Văn Ngọc Hƣớng đã bắt đầu nghiên cứu về cây gừng gió từ những năm 90, đến năm 2011 giáo sƣ cùng các cộng sự đã hoàn thành "Nghiên cứu quy trình chiết tách zerumbone từ cây gừng gió Việt Nam làm thuốc chống ung thƣ". Đây là đề tài cấp Nhà nƣớc mã số CNHD-ĐT.018/10-11, thuộc Chƣơng trình nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia phát triển công nghiệp hóa dƣợc đến năm 2020 của Bộ Công thƣơng.
Những nghiên cứu chứng minh gừng gió có tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực y dƣợc, có thể tạo ra những chế phẩm chất lƣợng sản suất mang quy mô công nghiệp đem lại giá trị kinh tế cao. Để xây dựng quy chuẩn nguồn vật liệu đầu vào, các dạng cao chiết và tinh chế một số hợp chất tự nhiên nhằm chuẩn hoá quy trình và nguyên liệu đầu vào cho ngành dƣợc. Đề tài: “Nghiên cứu tách chiết, xây dựng tiêu chuẩn chất lƣợng zerumbone sau tinh sạch từ gừng gió (Zingiber zerumbet)” đƣợc thực hiện. Kết quả nghiên cứu đƣợc ứng dụng rộng rãi, nâng cao giá trị thƣơng mại và sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất thuốc, dƣợc phẩm và mỹ phẩm.
Mục đích và yêu cầu đề tài 1. Mục đích của đề tài Tách chiết thu dịch chiết thô từ gừng gió tiêu chuẩn Tinh sạch và thu zerumbone Xây dựng tiêu chuẩn chất lƣợng của zerumbone sau tinh sạch 1. Yêu cầu của đề tài Tách chiết thu cao chiết từ gừng gió, chiết và tinh sạch zerumbone Nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn chất lƣợng của zerumbone sau tinh sạch từ gừng gió 2 1.Ý nghĩa khoa học Tách chiết, phân lập và tinh sạch Zerumbone từ gừng gió từ đó làm cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn chất lƣợng về thành phần Zerumbone có trong tinh dầu của gừng gió và làm cơ sở thực hiện những nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Dựa vào kết quả nghiên cứu để xây dựng tiêu chuẩn chất lƣợng của zerumbone, nâng cao giá trị thƣơng mại và sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dƣợc phẩm và mỹ phẩm.
3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về tình hình xây dựng tiêu chuẩn dƣợc liệu và cao dƣợc liệu Hiện nay, các nghiên cứu về dƣợc liệu đang đƣợc chú trọng và phát triển, tuy nhiên trong báo cáo cục Quản lý Y Dƣợc Cổ Truyền đã đƣa ra những con số báo động ngành dƣợc liệu Việt Nam sử dụng khoảng 60.000 tấn dƣợc liệu các loại trong đó có khoảng 80 đến 85% (nhập khẩu chủ yếu là từ Trung Quốc). Nhƣ vậy, hiện nay mới chỉ có khoảng 1400 tấn dƣợc liệu nhập khẩu có nguồn gốc rõ ràng là rất ít so với nhu cầu sử dụng dƣợc liệu hiện nay. Qua đây có thể thấy tình hình dƣợc liệu vận chuyển lậu đang diễn biến phức tạp, ngoài số dƣợc liệu không rõ nguồn gốc thì hiện ngƣời tiêu dùng cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ các loại dƣợc liệu kém chất lƣợng, giả. Việc thông quan dƣợc liệu qua cửa khẩu còn rất nhiều hạn chế.
Tại các cửa khẩu cán bộ hải quan chỉ kiểm tra đƣợc số lƣợng, trọng lƣợng bao hàng, không kiểm tra đƣợc chất lƣợng các dƣợc liệu do việc xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho dƣợc liệu và các sản phẩm dƣợc liệu còn hạn chế và một số loại dƣợc liệu còn chƣa có tiêu chuẩn nào.1 Cách thức xây dựng tiêu chuẩn Tiêu chuẩn cơ sở đƣợc xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, kinh nghiệm, nhu cầu và khả năng thực tiễn. Các tiêu chuẩn quốc gia quốc gia tƣơng ứng khuyến khích sử dụng để xây dựng hoặc chấp nhận thành tiêu chuẩn cơ sở.2 Phƣơng pháp xây dựng tiêu chuẩn cơ sở nói chung Tiêu chuẩn cơ sở có thể đƣợc xây dựng theo những phƣơng thức cơ bản sau: Chấp nhận tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn nƣớc ngoài tƣơng ứng thành tiêu chuẩn cơ sở. Ví dụ nhƣ đối với việc xây dựng tiêu chuẩn cơ sở dƣợc liệu tham khảo dƣợc điển Việt Nam IV, dƣợc điển nƣớc ngoài nhƣ Dƣợc điển Anh, Mỹ, Trung Quốc làm tài liệu tham chiếu hoặc sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn cơ sở hiện hành. Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở trên cơ sở sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, kết quả thử nghiệm đánh giá, phân tích và thực nghiệm.
Đây chính là phƣơng pháp mà nghiên cứu này muốn hƣớng tới để xây dựng đƣợc tiêu chuẩn cơ sở 4 dƣợc liệu và tiêu chuẩn cơ sở cao dƣợc liệu cây gừng gió đồng thời dựa trên cơ sở các quy định tại Dƣợc điển Việt Nam và các văn bản luật liên quan. (Ngô Thị Quỳnh, 2017) Thông thƣờng sẽ dựa vào các phƣơng pháp sau để xây dựng tiêu chuẩn cơ sở: Phƣơng pháp cảm quan: bằng sự quan sát về hình dạng, thể chất, mầu sắc, mùi vị…chúng ta có thể nhận biết đƣợc từng vị dƣợc liệu, cao dƣợc liệu hay các sản phẩm từ chúng. Phƣơng pháp này chúng ta có thể xác định sơ bộ đƣợc tên, bộ phận dùng, công dụng. Phƣơng pháp vi học: Bao gồm quan sát các đặc điểm vi học trên vi phẫu và trên bột của dƣợc liệu.
Đối với vi phẫu ta cần phải cắt và nhuộm bột vi phẫu dƣợc liệu, lên tiêu bản vi phẫu, lên tiêu bản bột, nhận biết và chỉ đƣợc các đặc điểm vi phẫu, các đặc điểm của bột Dƣợc liệu. Phƣơng pháp hóa học: bao gồm các phƣơng pháp định tính, định lƣợng qua các giai đoạn nhƣ chiết xuất, các phản ứng định tính hoặc định lƣợng, các phản ứng hóa học trên vi phẫu hoặc trong các phản ứng vi thăng hoa. Một số phƣơng pháp khác nhƣ xác định độ ẩm, hàm lƣợng tro, tỷ lệ vụn nát, tạp chất, độ nhiễm khuẩn 2.2 Tổng quan về chi zingiber 2.1 Vài nét về thực vật học của họ gừng Zingiberaceae Hình 2.1 Hoa, thân và củ gừng gió 5 Chi Zingiber là chi lớn thuộc họ gừng (Zingiberaceae), Zingiber có khoảng trên 100 loài. Các loài này phân bố rộng rãi từ phía Đông Á đến vùng nhiệt đới Australia và đặc biệt có nhiều ở Malaysia.
Riêng ở Việt Nam, họ gừng hiện biết có 12 chi với 61 loài. Các cây thuộc chi Zingiber có là dạng cây thảo, cao 0,53,5 m. Thân rễ mập phân nhánh nhiều, tạo thành “củ” nằm ngang. Thịt “củ” nạc, thơm và có vị the.
Lá mọc so le theo hai phía đối xứng trên thân; phiến lá hình mác thuôn đến bầu dục dài hoặc hình đƣờng chỉ; cuống lá rất ngắn hoặc hầu nhƣ không có; bẹ lá nguyên hoặc xẻ hai thùy; lá có mùi thơm nhẹ. Cụm hoa bông, thƣờng mọc từ thân rễ, đôi khi ở ngọn “thân giả”. Các hoa mọc sít nhau và mỗi hoa đƣợc bao bởi một lá bắc sắp xếp nhƣ dạng vẩy cá từ dƣới lên trên; lúc đầu thƣờng có màu xanh, sau chuyển dần sang màu vàng, đỏ nhạt, vàng sáng hoặc đỏ; cánh hoa hình ống mảnh, màu trắng, vàng hoặc hồng; bao phấn thƣờng có dạng hình ống bao lấy vòi nhụy, bầu ba ô nhẵn hoặc có lông dày; quả nang 3 ô; hạt nhiều, hình trứng hay trái xoan, màu nâu đỏ, đen, trắng hay vàng. (Vũ Thị Phƣơng Duyên, 2013) Ở Việt Nam, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê chi Zingiber gồm 11 loài : gừng (Zingiber officinale Roscoe), gừng lá nhọn (Zingiber acuminatum Valeton), gừng Nam Bộ (Zingiber cochinchinesis Gagn.), gừng Eberhardt (Zingiber eberhardtii Gagn.), gừng lúa (Zingiber gramineum Bl.), gừng một lá (Zingiber monophylum Gagn.), gừng bọc da (Zingiber pellitum Gagn.), gừng tía (Zingiber purpureum Roscoe), gừng đỏ (Zingiber rubens Roxb.), gừng lông hung (Zingiber rufopilosum Gagn.
Nhiều loài trong chi Zingiber không chỉ là cây thuốc quý mà còn là nguồn nguyên liệu có giá trị trong chế biến thực phẩm. Các sản phẩm chế biến từ nhiều loài thuộc chi Zingiber đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc Đông Nam Á nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.