CHƯƠNG 1. Mô tả thực vật Gừng (Zingiber officinale) thuộc họ Zingiberaceae, là cây thảo sống lâu năm, mọc nơi đất ẩm, thường có mùi thơm. Mặt ngoài màu trắng tro hay vàng nhạt, có vết nhăn dọc. Mặt cắt ngang có sợi thưa.
Mùi thơm, vị cay nóng [4]. Lá gồm có: bẹ lá, cuống lá, lưỡi lá và phiến lá. Hoa lưỡng tính, đối xứng hai bên, có màu sắc, kích thước trung bình hoặc lớn [1-3]. Phân bố Với 150 loài gừng khác nhau trên thế giới đã được nghiên cứu, chi gừng được đánh giá là chi quan trọng trong các loài thực vật cho vị cay.
Loài gừng phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là Đông Nam Á. Ở Việt Nam, loài gừng Z. officinale được trồng từ Bắc vào Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi và hải đảo [1,5]. Việt Nam có khoảng 14 chi, 64 loài đã được khai thác và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong đó, loài Zingiber officinale được sử dụng Luan van 7 rộng rãi lâu đời, đồng thời còn là nguồn dược liệu với nhiều tác dụng như chữa nôn mửa, cảm lạnh, viêm khớp, kháng viêm…[6] 1. Thành phần hoá học của gừng Nhựa dầu gừng có màu vàng sậm, mùi thơm đặc trưng, vị cay, là chất lỏng sệt, chứa 20-25% tinh dầu và 20-30% chất cay. Có khoảng 100 hợp chất trong nhựa dầu gừng [7-10]. Các hợp chất tạo nên vị cay trong gừng gồm zingerone, gingerol, gingerdiol, shogaol… [3,5,6,11].
Gừng tươi nhiều gingerol nhưng khi mất nước dần chuyển thành nhóm hợp chất shogaol, vì thế gừng khô cay hơn [12]. Luan van 8 Hình 1. Một số hợp chất có trong gừng. Hoạt tính sinh học của gừng Y học hiện đại đã có những kết luận về tác dụng dược lý của gừng như sau: - Chống ung thư: gingerol và shogaol được chứng minh là các hợp chất gây độc tế bào ung thư liên quan tới chu trình apoptosis [13], ức chế hình thành mạch và là hướng nghiên cứu đầy triển vọng trong phát triển thuốc chống ung thư thế hệ mới [14-16].
Tác dụng của [6]-shogaol được chứng minh là mạnh hơn nhiều so với [6]-gingerol. - Kháng khuẩn: sự có mặt của các loại tinh dầu như camphene, linalool, α-pinene và borneol nên gừng có thể ức chế một số loại vi khuẩn như A. cerevisiae, Mycoderma spp. - Kháng viêm: Các hợp chất phenolic, đặc biệt là gingerol trong gừng đã được chứng minh là có khả năng chống viêm [21].
- Chống oxy hóa: Hoạt tính chống oxy hóa của gừng được chứng minh trong các nghiên cứu in vitro và in vivo trên tác dụng ức chế quá trình peroxyd hóa lipid, ngăn chặn tăng cholesterol, tăng glutathione cũng như loại bỏ các gốc tự do trên mô hình động vật [2,9,22]. - Ngoài ra gừng còn có khả năng chữa trị Đau bụng lạnh, đầy trướng không tiêu, nôn mửa, tứ chi lạnh, ho suyễn [4]. Một số nghiên cứu về [6]-shogaol trong gừng (Zingiber officinale) [6]-shogaol ((E)-1-(4-hydroxy-3-methoxy phenyl) dec-4-en-3-on) tan được trong methanol và ethanol, tan ít trong chloroform và ethyl acetate, rất khó phát hiện trong gừng tươi do hàm lượng thấp nhưng lại có tác dụng vượt trội hơn [6]-gingerol nhiều về tác dụng chống viêm, chống oxi hóa và điều trị ung thư. Nhóm shogaol là nhóm hợp chất bị biến đổi bởi gingerol theo cơ chế loại nước trong quá trình gia nhiệt và nó còn cay hơn cả gingerol [23].
Nhóm shogaol Luan van 9 thường được biết ở dạng [6]-shogaol, chúng là kết quả của việc khử nhóm OH ở C-5 với sự hình thành của liên kết đôi giữa C-4 và C-5 sau khi gingerol bị tách nước. cùng cộng sự đã nghiên cứu khả năng gây apoptosic của tế bào ung thư gan người p53 từ [6]-shogaol thông qua cơ chế phụ thuộc caspase qua trung gian stress oxy hóa [24]. và Sang-Youel Park đã nghiên cứu về sự giảm lượng autophagy bởi [6]-shogaol với tế bào ung thư gan người với TRAIL gây ra apoptosis thông qua p53 và ROS [25]. Yếu tố hoại tử khối u (TNF) liên quan đến quá trình apoptosis tạo ra ligand TRAIL (thuộc nhóm TNF).
Người ta đã chứng minh rằng [6]‑shogaol, một thành phần có hoạt tính sinh học của gừng, có tác dụng chống viêm và chống ung thư, làm giảm sự lan truyền tế bào khối u và gây chết tế bào ung thư gan qua trung gian TRAIL. Nghiên cứu đã xác định TRAIL và [6]‑shogaol đã cùng nhau điều chỉnh tăng biểu hiện protein ức chế 53 (p53) của khối u và thay đổi màng tế bào của ty thể (MTP). Tóm lại, sử dụng TRAIL kết hợp với [6]‑shogaol có thể là phương pháp điều trị phù hợp để điều trị ung thư tế bào gan Huh7. Cấu trúc hợp chất [6]-shogaol.
CẦN TÂY (Apium graveolens L. Mô tả thực vật Cần tây (Apium graveolens L.), thuộc họ cần (Apiaceae), là loại cây được trồng rất phổ biến trên thế giới và được di thực về trồng ở Việt Nam, có nguồn gốc Luan van 10 từ châu Á và châu Âu. Cây thân thảo, lưỡng tính, cao 15 – 150 cm, thân mọc thẳng đứng, nhẵn, có nhiều rãnh dọc, chia nhiều cành, mùi thơm mạnh. Lá mọc xen, màu xanh lục, mỏng, cuống lá có bẹ to, lá chia ba thùy, thùy cuối có dạng hình thoi.
Cụm hoa chùm hình tán kép, mọc đối diện lá, mỗi tán mang 10 – 12 hoa. Hoa trắng, tán hoa từ 7-25 hoa, hoa có kích thước 6-9 mm theo chiều ngang. Quả hình trứng, màu nâu, cuống quả dài 1-1,5 mm, có 6 cánh, mép ngoài mỗi cánh màu vàng nhạt. Rễ chùm màu nâu nhạt, có nhiều rễ con.
Mùi thơm đặc trưng, vị đắng, hơi cay [4]. Cây ra hoa và quả từ tháng 4 đến tháng 7 [26]. Cần tây (Apium graveolens L. Phân bố Cần tây có nguồn gốc từ châu Âu, phạm vi trồng trọt và tiêu thụ rất rộng lớn và nó còn được tìm thấy ở các nước châu Phi, Iran, Ấn Độ và Hoa Kỳ.
Từ thời cổ đại, cây đã được trồng và sử dụng như một loại rau ăn và là một vị thuốc phổ biến trong nhiều nền y học cổ truyền. Thành phần hóa học của cần tây Phân tích thành phần hóa học từ chiết xuất ethanol của Apium graveolens L. cho thấy sự hiện diện của: Monoterpernes: limonene (73,14%), myrcene (1,14%), beta-pinene (0,79%), beta-caryophyllene (0,54%) …[27] Sesquiterpenes: beta-selinene (10,15%), alpha-selinene (1,67%) … [27] Luan van 11 Phtalides: 4,5-dihydro-3-butyl-phtalide (5,72%), butyl-phtalide (2,09%) … [27] Flavonoid: thành phần chính của lá cần tây là apigenin với hàm lượng 202 mg/kg, ngoài ra còn có luteolin và chrysoeriol 7-glucoside. Lá cần tây cũng chứa furanocomarin, psoralen, bergapten, xanthotoxin và isopimpinellin [27].
Một số hợp chất trong cần tây. Hoạt tính sinh học của cần tây Một số tác dụng sinh học chính của cần tây gồm: Luan van 12 - Chống ung thư: một số thành phần hoạt động rất hữu ích trong việc chống ung thư khối u có ở cần tây như polyacetylenes và phthalides [28]. - Hạ huyết áp và lipid máu: Lợi ích của cần tây gồm khả năng làm giảm mức cholesterol gây nguy cơ bệnh tim mạch. - Chống oxi hóa: Rễ và lá cần tây có đặc tính loại bỏ gốc OH và DPPH [29].
Nó cũng được sử dụng để điều trị đau dạ dày [28]. Jung et al. trong một nghiên cứu đã kiểm tra hàm lượng nhóm phenolic và flavonoid của lá cần tây bằng phương pháp Folin-Ciocalteu. Kết quả nghiên cứu cho thấy chiết xuất cồn của lá cần tây chứa lượng hợp chất phenolic cao nhất, rễ cần tây chứa các dẫn xuất phenolic như coumarin, scopoletin và acid aescoumlic [30].
Trong một nghiên cứu in vitro đã đánh giá khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH và ức chế peroxid hóa lipid từ cần tây cho hiệu quả cao trong việc loại bỏ gốc tự do DPPH và giảm cường độ peroxid hóa lipid [31]. - Ngoài ra cần tây còn có khả năng trị hen suyễn, khó thở, viêm phế quản, viêm màng phổi, trướng bụng, đầy hơi, tiêu hóa kém [4]. Một số nghiên cứu về apigenin trong cần tây (A.) Trong nhóm flavonoids của cần tây, apigenin là hợp chất được quan tâm nhiều nhất. Kể từ khi Birt và cộng sự lần đầu tiên báo cáo rằng apigenin có hoạt động chống ung thư vào năm 1986 [32], ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy apigenin có hiệu quả chống ung thư in vitro và in vivo ở chuột.
Tất cả các kết quả thu thập được cho đến nay chỉ ra apigenin có hoạt động chống ung thư mạnh trên các loại ung thư khác nhau ở người và có thể kết hợp với nhiều tác nhân hóa trị liệu khác. Apigenin đã được báo cáo có thể ngăn chặn các bệnh ung thư khác nhau bằng cách kích hoạt quá trình apoptosis và autophagy, ngăn chặn di chuyển xâm lấn tế bào và kích thích phản ứng miễn dịch [33,34]. Apigenin đã được chứng minh có tác dụng ở nhiều loại ung thư, bao gồm ung thư đại trực tràng, ung thư vú, ung thư gan, ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt [35,37]. Luan van 13 Trong tế bào ung thư biểu mô nang (ACC), apigenin ngăn chặn sự sống sót của tế bào ACC-2 bằng cách gây ra cả apoptosis và bắt giữ pha G2/M phụ thuộc vào liều và thời gian [35].
Trong tế bào ung thư ruột kết HCT116 của người, apigenin đã kích hoạt cả chu trình autophagy lẫn apoptosis [36]. Hơn nữa, trong các tế bào u ác tính ở người, Zhao và cộng sự đã báo cáo rằng apigenin cho thấy tác dụng chống ung thư hiệu quả khi ngăn chặn sự di chuyển và xâm lấn tế bào, gây ra sự bất hoạt chu kỳ tế bào ở pha G2/M và đồng thời gây ra apoptosis tế bào [37]. Các hiệu ứng chống ung thư khác nhau được kích hoạt đồng thời bởi apigenin đã chứng minh rằng apigenin có khả năng chống ung thư. Cấu trúc hợp chất apigenin.
Mô tả thực vật Tản rong được cấu tạo bởi những sợi phân nhánh màu nâu đen; đường kính khoảng 0,1 cm, khô, giòn, dễ gãy, dẹt như lá. Rải rác từng quãng có những phao để rong mọc đứng trong nước. Phao hình cầu hay bầu dục. Gốc có tản rộng.
Mùi tanh, vị hơi mặn [4]. Phân loại và phân bố Với đa dạng của thảm thực vật đại dương, rong nâu là một trong số các loài thực vật biển rất đáng chú ý. Việt Nam hiện nay có khoảng 147 loài rong nâu, trong đó chi Sargassum có trữ lượng lớn nhất với khoảng 68 loài phân bố dọc ven biển với sản lượng ước tính trên 10. Rong nâu phân bố nhiều nhất ở Nhật Bản, Canada, Việt Nam, Hàn Quốc, Alaska, Mỹ, Pháp, Ấn Độ…Ở Luan van 14 Việt Nam, rong nâu phân bố chủ yếu tại vùng biển Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, bờ biển Tây Nam Bộ, chủ yếu là các loài S.
Thành phần hóa học của rong nâu Rong nâu chứa các thành phần có hoạt tính sinh học quý, có giá trị cao về mặt dinh dưỡng và dược liệu như: alginate, laminaran, fucoidan.