CHƯƠNG 1. MÔ TẢ THỰC VẬT Họ Ô rô (Acanthaceae) là một họ thực vật hai lá mầm trong thực vật có hoa, chứa khoảng 250 chi và khoảng 2. Theo Phạm Hoàng Hộ, [4] chi Pseuderanthemum có khoảng 196 loài. Ngoài tên Pseuderanthemum còn có tên Eranthemum.
Ở Việt Nam, chi Pseuderanthemum có 9 loài và 2 thứ. Đề tài này khảo sát thành phần hóa học của cây Xuân hoa đỏ, nên chúng tôi chỉ trình bày mô tả thực vật của loài này. [1],[4] Tên khoa học: Pseuderanthemum carruthersii (Seem. Họ Ô rô (Acanthaceae) Tên thông thường : Xuân hoa đỏ, Ô rô đỏ, Nhớt tím.
Tiểu–mộc cao 1–2 m, phân nhánh nhiều, không lông. Lá có phiến xoan bầu dục, mỏng, không lông, dài 7–10 cm, đỏ bầm có bớt đậm, đôi khi cũng thấy có màu vàng với bớt vàng đậm; cuống ngắn. Chùm ở ngọn; hoa trắng tâm hường, tai có đốm đỏ; tiểu–nhụy 2, thò. Cây ưa ẩm, đòi hỏi đất nhiều phân.
Nhân giống bằng các chồi gốc vào mùa xuân. Ra hoa tháng 4–5, có quả tháng 6–7. Cây Xuân hoa đỏ lá đỏ -3- Luan van 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ DƯỢC HỌC Có rất ít thông tin về dược tính trên các loài thuộc chi Pseuderanthemum.
Chỉ có ba loài có thông tin liên quan đến dược tính, đó là P. palatiferum Trong đó chỉ có P. palatiferum đã được khảo sát dược tính bằng các phương pháp khoa học hiện đại. atropurpureum: các bộ phận lá, rễ và hoa được sử dụng trong dân gian để trị lở miệng và làm lành vết thương.
latifolium: được người dân ở Vân Nam, Trung Quốc sử dụng như thảo dược và là một loài có tiềm năng trong nhóm thực vật đang được một nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc nghiên cứu sàng lọc khả năng chữa HIV. palatiferum: cây được phát hiện tại Việt Nam từ những năm 1980, đã được sử dụng theo truyền miệng trong dân gian và đang được nghiên cứu. Sau đây là những thông tin chi tiết về dược tính của loài P. Kinh nghiệm dân gian sử dụng cây P.
palatiferum Cây Xuân hoa, P. palatiferum được trồng nhiều nơi như một cây thuốc gia đình. Theo Trần Công Khánh, [6] lá cây được dùng trong dân gian với các công dụng sau đây: Khôi phục sức khỏe cho người ốm yếu, suy nhược thần kinh, làm việc quá sức. Chữa rối loạn tiêu hóa, tiêu lỏng, lỵ, trị táo bón, đau bụng không rõ nguyên nhân.
Chữa đau dạ dày, loét hành tá tràng, chảy máu đường ruột, viêm loét đại tràng, trĩ nội. Chữa viêm thận cấp và mạn, suy thận, đái ra máu, đái buốt, đái dắt. Chữa các bệnh u ở phổi, u xơ tuyến tiền liệt, làm giảm đau khi bị ung thư gan ở thời kỳ phát bệnh. Điều chỉnh huyết áp cho người bị huyết áp cao hoặc thấp.
Chữa chấn thương, chảy máu, dập gãy cơ thể, chấn thương sọ não. -4- Luan van Năm 2005, bác sĩ Xuân Lục [10] đưa ra một số bài thuốc từ cây P. palatiferum như sau: Chữa các bệnh về đường tiêu hóa (đi lỏng, lỵ, rối loạn tiêu hóa, táo bón, đau bụng không rõ nguyên nhân): ăn từ 7–9 lá, khoảng 2–3 lần/ngày cho đến khi khỏi, có thể nấu canh nhạt để ăn. Bệnh kèm theo chảy máu (chảy máu dạ dày, đường ruột, đái ra máu, phân ra máu kể cả đái buốt, đái rắt,…): ăn lá khi đói hoặc sắc nước lá đặc để uống, có thể nấu canh độ một bát nhỏ.
Ăn 1–5 lần, máu sẽ cầm; nên ăn ngày 2 lần. Các bệnh ung thư thời kỳ phát bệnh: ăn lá xong, cơn đau giảm dần, người tỉnh táo, ăn ngủ tốt, có cảm giác như khỏi bệnh. Thử nghiệm qua một số bệnh ung thư dạ dày, gan, phổi,… đều thấy có diễn biến tốt. Lượng lá dùng thường xuyên theo mức độ đau, thông thường ngày 2 lần, mỗi lần 3–7 lá, tùy theo hiệu quả giảm đau.
Các bệnh u ở phổi, tiền liệt tuyến: liều dùng như trên, sau 1 tuần, các triệu chứng giảm hẳn, bệnh nhân ăn ngủ tốt. Riêng u xơ tiền liệt tuyến, ăn vào cuối tháng, khoảng 3 tháng liên tục. Các bệnh về gan (xơ gan cổ trướng, viêm gan,…): ăn lá tươi như trên ngày 2 lần khi đói. Bột lá khô cùng với bột Tam thất theo tỉ lệ 1:1 là thuốc trị xơ gan cổ trướng đặc hiệu.
Bệnh về thận (viêm thận cấp hoặc mãn, suy thận, các hiện tượng nước đái đục, đái ra máu): điều trị như trên sau 1 tuần. Ăn 1 lần/ngày, nhưng nếu nước giải chỉ trong được nửa ngày thì tăng lên 2 lần/ngày. Trong thời gian nửa tháng, các triệu chứng bệnh giảm rõ rệt. Chữa viêm loét (loét dạ dày, hành tá tràng, đại tràng, trĩ nội ngoại, trực tràng,…): ăn lá tươi khi đói (tốt nhất là vào buổi sáng).
Với các vết thương thuộc phạm vi dạ dày, chỉ cần ăn trong 1 tuần, tránh uống rượu mạnh. Khi chữa vết loét thuộc phần ruột, liều lượng cần nhiều hơn tùy theo nặng, nhẹ. Điều chỉnh huyết áp, ổn định thần kinh: khi biến đổi huyết áp (cao hay thấp) theo liều lượng trên, ăn xong chợp mắt nghỉ trong thời gian ngắn, huyết áp sẽ -5- Luan van trở lại bình thường; khi lên cơn rối loạn thần kinh thực vật, tùy theo mức độ để định liều lượng, có thể ăn vào buổi sáng giúp cơ thể ổn định trong ngày và đề phòng khi thời tiết thay đổi đột ngột. Chữa về chấn thương (các loại chấn thương, đặc biệt chấn thương sọ não, va đập, gãy dập xương hay bắp thịt): lá thuốc có tác dụng cầm máu, khôi phục các mô cơ bị dập, kháng viêm nhiễm, lá làm cả thuốc đắp và thuốc uống.
Với vết thương kín, có thể nhai để đắp; vết thương hở, nên giã để đắp. Nghiên cứu in vitro về dược tính 1. Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm Năm 1998, Trần Công Khánh và cộng sự [7] đã thử tác dụng kháng vi sinh vật kiểm định (trong ống nghiệm) của cao đặc chiết từ lá cây P. palatiferum, kết quả cho thấy cao đặc có tác dụng kháng vi khuẩn Gram âm (Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa), kháng vi khuẩn Gram dương (Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogenes), nấm mốc (Aspergillus niger, Fusarium oxysporum, Pyricularia oryzae, Rhezoctonia solanii), nấm men (Saccharomyces cerevisiae, Candida albicans).
Năm 2005, Phan Minh Giang và cộng sự [3] đã khảo sát sơ bộ hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm của cao ethyl acetate và n–butanol (ở nồng độ 10 mg/ml) từ lá cây P. palatiferum, các kết quả cho thấy cả hai loại cao trích đều thể hiện khả năng kháng các chủng vi khuẩn Gram dương (Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus), Gram âm (Escherichia coli) và vi nấm (Candida albicans, Candida stellatoides), trong đó cao trích ethyl acetate có hoạt tính tốt hơn cao trích n–butanol. Kết quả cũng cho thấy cao trích ethyl acetate kháng tốt các chủng Salmonella typhi 158 (đường kính vòng vô khuẩn là 21,0 mm), Shigella flexneri (21,5 mm) và Escherichia coli (21,0 mm), đây là những vi khuẩn gây bệnh về đường ruột, tiêu chảy, viêm ruột, lỵ. Năm 2007, Trần Công Khánh và cộng sự [8] đã công bố dịch chiết n–hexane của rễ cây P.
palatiferum có hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định đối với chủng tụ cầu vàng Staphylococcus aureus với giá trị IC50 là 174,9 mg/ml. Hoạt tính kháng oxy hóa Năm 2005, Phan Minh Giang và cộng sự [3] đã nghiên cứu hoạt tính kháng oxy hóa của các loại cao ethyl acetate và n–butanol từ lá cây P. palatiferum bằng phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của các loại cao này lên độ hoạt động của enzyme peroxydase trong máu. Kết quả cho thấy cả hai loại cao ethyl acetate và n– butanol từ lá cây đều có tác dụng kháng oxy hóa.
Nghiên cứu in vivo về dược tính 1. Thử độc tính trên động vật thử nghiệm Năm 1999, Lê Thị Lan Oanh và cộng sự [11] đã khảo sát độ độc của dịch chiết lá P. palatiferum trên cá chọi. Kết quả cho thấy dịch chiết lá không độc với cá chọi vì với nồng độ 50% cá vẫn không chết sau 5 ngày.
Kết quả kiểm nghiệm độc tính của lá khô cây P. palatiferum cũng đã được thực hiện tại Viện Kiểm nghiệm, Bộ Y tế, áp dụng trên thỏ và chuột thí nghiệm, cho thấy không có độc tính.[11] Năm 1999, Nguyễn Thị Minh Thu và các cộng sự [12] đã thử độc tính cấp diễn của cây P. palatiferum theo phương pháp của Behrens trên chuột nhắt trắng. Phương pháp được tiến hành với các nồng độ thuốc khác nhau, liên tục theo dõi diễn tiến hành vi của chuột từ khi đưa thuốc trực tiếp vào dạ dày.
Kết quả cao đặc toàn phần lá cây không gây độc tính cấp diễn trên chuột, không có giá trị LD50, chuột sống hoàn toàn khỏe mạnh qua 48 giờ. Năm 2009, Peerawit Padee và cộng sự [19] đã thử nghiệm độc tính của cao trích ethanol 80% lá cây P. palatiferum cả in vitro lẫn in vivo. Kết quả thử nghiệm in vitro trên tế bào thận khỉ xanh châu Phi bằng phương pháp GFP (green fluorescent protein) cho thấy mẫu thử không độc ở nồng độ 50 g/ml, liều cao nhất có thể pha được.
Với thử nghiệm in vivo, thử nghiệm với cao trích ethanol 80% được thực hiện trên chuột trưởng thành qua đường uống, với một liều duy nhất ở các nồng độ khác nhau, 500, 1.000 mg mẫu cao trích/kg trọng lượng chuột. Kết quả cho thấy chuột không có dấu hiệu ngộ độc trong 24 giờ đầu và không chết qua 14 ngày thử nghiệm; không có sự khác biệt về thể trọng giữa nhóm chuột thử nghiệm -7- Luan van và nhóm chuột đối chứng. Với thử nghiệm in vivo trên chuột qua đường uống, mỗi ngày, trong 14 ngày, ở các nồng độ khác nhau, 250, 500, 1.000 mg mẫu cao trích/kg trọng lượng chuột, không có liều nào gây độc cho chuột. Các trị số hóa lý như creatinine, triglyceride, cholesterol tổng, protein tổng và albumin không có sự khác biệt giữa nhóm chuột thử nghiệm và nhóm chuột đối chứng.
Tác dụng bảo vệ tế bào gan Năm 1999, Nguyễn Thị Minh Thu [12] đã thử tác dụng bảo vệ tế bào gan của cao đặc toàn phần lá cây P. palatiferum trên chuột nhắt trắng. Mô hình gây ngộ độc gan bằng tetrachlorometane. Kết quả như sau: ở liều gây độc gan 1,0 ml CCl4/kg thể trọng, chưa thấy có dấu hiệu bình phục của tế bào gan.
Ở liều gây độc 0,5 ml CCl4/kg thể trọng, hàm lượng men gan có giảm nhưng chưa đáng kể, có dấu hiệu bình phục của tế bào gan. Tác dụng trị tiêu chảy Năm 2006, Dieu HK. và cộng sự [16] đã xác định hiệu quả của bột lá P. palatiferum trong trị bệnh tiêu chảy heo con theo mẹ, so sánh với hai loại kháng sinh Coli–norgen và Cotrimxazol.