ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO), béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng của cơ quan cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng đến vấn đề sức khỏe [1], [2], [3], [4]. Hiện nay, tình hình thừa cân, béo phì đang tăng lên với một tốc độ đáng báo động ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển. Các nghiên cứu ở Mỹ chỉ ra rằng 56% người Mỹ trưởng thành là thừa cân và 26% là béo phì [5] và ở nhiều nước phát triển và Châu Âu tỷ lệ béo phì đều phát triển ở cả người trưởng thành và trẻ em [6], [7]. Tại các nước đang phát triển tỷ lệ thừa cân, béo phì song song và tồn tại với suy dinh dưỡng [7], [8], [9], [10], [11].
Hiện trạng béo phì ở Việt Nam nói chung và trẻ em lứa tuổi học đường cũng đang tăng lên trong những thập niên gần đây [12], [13]. Béo phì gây ra hậu quả và nhiều biến chứng nghiêm trọng và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống các cơ quan trong cơ thể như rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường, các bệnh về tim mạch, xương khớp, hô hấp,. Đặc biệt, gần đây, có nhiều nghiên cứu cho thấy béo phì gây rối loạn chức năng thần kinh trung ương đó là giảm trí nhớ, giảm nhận thức, giảm vận động…[18], [19], [20], [21], [22], [23], [24], [25]. Để nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh cũng như đánh giá hiệu quả của các biện pháp điều trị can thiệp, đã có nhiều mô hình béo phì được xây dựng trên động vật thực nghiệm.
Được xem là có cơ chế liên quan gần nhất với thực tế lâm sàng của bệnh béo phì đó là mô hình sử dụng chế độ ăn cao năng. Một số nghiên cứu đã cho thấy mô hình này cũng phản ánh mối liên quan của rối loạn chuyển hóa lipid và suy giảm chức năng của não [18], [19], [26]. Trong các thuốc điều trị béo phì hiện nay, nhóm statin có tác dụng chính là giảm lipid máu, phòng ngừa biến chứng tim mạch [27], [28], [29], [30]. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy các thuốc nhóm statin còn có tác dụng cải thiện chức năng của thần kinh trung ương trên bệnh nhân và động 2 vật được gây béo phì như cải thiện khả năng học tập, trí nhớ, khả năng khám phá…[31], [32], [33], [34].
Tuy nhiên, các thuốc này thường có thời gian bán hủy ngắn, khả năng hấp thu qua đường tiêu hóa kém nên không đạt hiệu quả cao. Do vậy, nhiều nhà khoa học quan tâm tới thiết kế hệ mang nano có khả năng phân phối thuốc đến đúng nơi, vào thời điểm thích hợp và đúng liều lượng giúp cải thiện độ ổn định của thuốc, tăng thời gian, tác dụng điều trị, ngăn ngừa hoặc giảm thiểu sự phân hủy của thuốc [35], [36], [37], [38]. Gần đây, các hạt nano polyme được tạo ra từ alginate và chitosan đã được quan tâm sử dụng làm chất mang thuốc do tính kết dính tốt, khả năng phân hủy sinh học và tính tương thích sinh học của chúng [38], [39], [40], [41]. Ở Việt Nam, nghiên cứu về xây dựng mô hình béo phì trên động vật thực nghiệm đã được một số tác giả thực hiện.
Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu đánh giá về sự biến đổi hình thể, trọng lượng, rối loạn chuyển hóa lipid mà hầu như chưa có các nghiên cứu đánh giá về chức năng của hệ thần kinh trung ương trên động vật được mô hình béo phì. Nhóm nghiên cứu thuộc Viện Kỹ thuật nhiệt đới, Viện hàn lâm khoa học Việt Nam đã chế tạo thành công hệ mang thuốc nano alginate/chitosan từ các nguồn vật liệu tự nhiên của Việt Nam và gắn với Lovastatin, một thuốc kinh điển thuộc nhóm statin nhằm kiểm chứng khả năng làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng lên hành vi và chuyển hóa lipid máu của nano Alginate/Chitosan/Lovastatin trên chuột cống gây mô hình béo phì” với các mục tiêu sau: 1. Đánh giá sự biến đổi hành vi và rối loạn chuyển hóa lipid của chuột cống gây mô hình bệnh béo phì trên thực nghiệm.
Đánh giá tác dụng cải thiện hành vi và rối loạn chuyển hóa lipid của phức hợp nano Alginate/Chitosan/Lovastatin trên chuột cống được gây béo phì. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về béo phì 1. Khái niệm béo phì Theo Tổ chức Y tế Thế giới, béo phì là tình trạng tỷ lệ cân nặng vượt quá mức so với chiều cao, trong đó có sự tích mỡ bất thường hoặc quá mức, gây ảnh hưởng nặng nề tới sức khỏe, làm tăng nguy cơ với nhiều bệnh lý tim mạch, tiểu đường týp 2, rối loạn chuyển hóa và một số loại ung thư.
Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index, BMI) được xác định bằng cân nặng (kg) chia cho chiều cao bình phương (m2), được sử dụng rộng rãi trong định nghĩa thừa cân (BMI từ 25 – 29,9 kg/m2) hay béo phì (BMI ≥ 30 kg/m2) áp dụng cho người trưởng thành từ 20 tuổi (Bảng 1. Phân độ béo phì theo chỉ số BMI cho người Châu Âu và Mỹ. Trị số BMI (kg/m2) Độ béo phì 30 – 34,9 I 35 – 39,9 II ≥ 40 III ≥ 50 IV ≥ 60 V *Nguồn: theo Mechanick, 2013 [42]. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị ở Châu Á chỉ số BMI cho người thừa cân và béo phì sẽ thấp hơn.
Điểm mốc ngưỡng cho sức khỏe công cộng ở Châu Á được đề cập tương ứng là 23, 27,5, 32,5 và 37,5 kg/m2 [11], [43]. Tình hình bệnh béo phì trên Thế giới và Việt Nam Cho tới gần đây, béo phì và thừa cân vẫn là một vấn đề của các nước phát triển và tới nay, vấn đề này cũng là mối quan tâm của các nước đang phát triển và cả các quốc gia thế giới thứ ba và đồng thời của tất cả các nhóm kinh tế-xã hội [1], [2], [4], [5], [6], [11]. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới vào đầu năm 2015, số lượng người béo phì đã gấp ba kể từ 1980 và hiện 4 tại đã đạt tới mức độ dịch [7]. Năm 2014, hơn 1,9 tỷ người trên thế giới trên 18 tuổi là thừa cân, chiếm 39%; trong đó 600 triệu là béo phì (13% số trên 18 tuổi, với 11% của dân số nam và 15% dân số nữ độ tuổi này) [1].
Tỷ lệ béo phì cao nhất là ở Mỹ [1], [4], [5]. Theo Liên đoàn Béo phì Thế giới (World Obesity Federation) báo cáo từ 2015, trên 60% người trưởng thành là thừa cân và trên nửa trong số đó là béo phì [2]. Ở Châu Âu, xấp xỉ 150 triệu người trưởng thành (20% số thuộc độ tuổi) và 15 triệu trẻ em và thiếu niên (10% số thuộc độ tuổi) mắc béo phì. Năm 2013 có tới 42 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì.
Hiện tại ở Châu Âu khoảng 20% trẻ em thừa cân và gần 1/3 trong số đó có chỉ số BMI tương ứng với béo phì và đó là vấn đề sức khỏe phổ biến nhất ở trẻ em. Với trẻ béo phì, vấn đề sẽ vẫn còn thậm chí cả sau độ tuổi trưởng thành và sẽ làm tăng nguy cơ phát triển các bệnh dẫn tới giảm chất lượng cuộc sống và tuổi thọ của họ. Người ta thấy tỷ lệ thừa cân béo phì có sự khác biệt về cả giới tính và giữa các khu vực lãnh thổ. Đối với giới tính, mặc dù béo phì đang có xu hướng tăng ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển nhưng có sự khác biệt về tỷ lệ theo giới tính.
Ở các nước phát triển, nam giới có tỷ lệ béo phì thừa cân cao hơn nữ giới, trong khi điều này lại ngược lại ở các nước đang phát triển. Đối với vùng lãnh thổ, các nghiên cứu cũng chỉ rõ có sự khác biệt về tỷ lệ thừa cân, béo phì ở các vùng lãnh thổ cũng như giữa các quốc gia. Khu vực Trung Đông, Bắc Phi, Trung Mỹ, ven Thái Bình Dương và Caribe là những quốc gia có tỷ lệ béo phì cao đột biến [8], [9]. Đặc biệt, tỷ lệ béo phì thừa cân tăng cao ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh [1], [9], [10].
Tại Việt Nam, bệnh béo phì cũng trong xu hướng gia tăng. Theo số liệu của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, béo phì và thừa cân chiếm khoảng 25% tổng dân số ở người trưởng thành. Đặc biệt hơn, báo cáo gần đây đã cho thấy tỷ lệ béo phì thừa cân ở trẻ em tuổi học đường đang tăng lên nhanh chóng ở các thành phố lớn. Tại Hà Nội, thừa cân và béo phì tăng từ 1,5% (ở trẻ từ 11 đến 5 14 tuổi) và 3,3 % (ở trẻ từ 6 đến 10 tuổi) năm 1995 lên 6,1% (ở trẻ từ 11 đến 14 tuổi) và 11,5% (ở trẻ từ 11 đến 14 tuổi) năm 2000 [12].
Tại thành phố Hồ Chí Minh, một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ béo phì ở học sinh tiểu học đã tăng gấp 3 đến 4 lần trong vòng 7 năm từ năm 2002 đến năm 2009 [13]. Tổ chức Y tế Thế giới cảnh báo rằng béo phì gây 10-13% số tử vong và tỷ lệ tử vong do thừa cân và béo phì ở phần lớn dân số các nước còn lớn hơn cả do thiếu ăn suy sinh dưỡng [1], [2]. Béo phì dẫn tới giảm tuổi thọ 5-20 năm phụ thuộc vào mức độ béo cũng như tuổi, giới và chủng tộc. Người mắc béo phì dễ phát triển các bệnh như tiểu đường týp 2, tăng huyết áp, bệnh lý mạch vành, đột qụy hoặc một số ung thư (tử cung, vú, tiền liệt tuyến, đại tràng).
60% người béo phì cũng mắc gan nhiễm mỡ, với gần 55% ở trẻ em béo phì [1], [2], [4], [7]. Tuy có khoảng 20% người béo phì không có thay đổi trong chuyển hóa lipid, song phần lớn có các triệu chứng của rối loạn chuyển hóa lipid, kết hợp với nguy cơ tăng về phát triển các bệnh lý tim mạch, nhồi máu, đột quỵ. Béo phì cũng làm tăng nguy cơ viêm tụy, gout, khó thở, sỏi thận, ở nữ với chứng vô sinh, chúng kết hợp với không chỉ những thay đổi về hormon (tăng các hormon sinh dục) và rối loạn rụng trứng, mà còn với những thay đổi bệnh lý hệ thống đi kèm béo phì với những hệ quả về sức khỏe phiền toái, cùng với chi phí kinh tế và xã hội cho béo phì cũng cao [2]. Cũng lưu ý rằng những người béo phì ít khả năng làm việc chuyên nghiệp do những bệnh lý mắc kèm và trẻ em có kết quả học tập không cao.
Tăng cân không mong muốn là do cân bằng năng lượng dương, lượng calo nhiều hơn số tiêu thụ.