ĐẶT VẤN ĐỀ Virus viêm gan B (HBV - virus hepatitis B) nhân lên ở gan, gây nên các rối loạn chức năng gan, làm tổn thương tế bào gan và gây bệnh viêm gan virus B (VGVRB). Nhiễm virus viêm gan B là một vấn đề sức khỏe mang tính toàn cầu và là một trong những nguyên nhân gây tử vong phổ biến trên thế giới. Việt Nam là nước có tỷ lệ người nhiễm HBV cao, ước tính có khoảng 8,6 triệu người nhiễm virus viêm gan B. Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính được ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới [8].
Theo y học cổ truyền (YHCT), VGVRB được quy về các chứng hoàng đản, hiếp thống, tích tụ. Nền YHCT từ xưa cũng có nhiều kinh nghiệm điều trị bệnh về gan mật bằng cách sử dụng cây cỏ, nguyên liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên. Một trong số những kinh nghiệm đó là những bài thuốc cổ phương điều trị bệnh gan mật được truyền lại đến ngày nay như Nhân trần cao thang, Tiêu dao tán.,và trong những năm gần đây các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu cho thấy nhiều loại thảo dược điều trị VGVRB có hiệu quả như: Hoàng kỳ, Đan sâm, Cốt khí, Bạch hoa xà thiệt thảo, Diệp hạ châu, Cà gai leo… Với kinh nghiệm lâm sàng lâu năm, PGS. TS Đậu Xuân Cảnh đã đúc kết, đưa ra bài thuốc CTHepaB (gồm 8 vị thuốc Cà gai leo 30g, Cỏ sữa nhỏ lá 20g, Chi tử 10g, Đại hoàng 5g, Đinh lăng 10g, Nấm trùng thảo 5g, Linh chi 10g, Hà thủ ô 10g) và có hiệu quả nhất định trên bệnh nhân.
Các vị thuốc này chủ yếu có vị đắng, tính mát, quy kinh can, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, ích can, bổ khí huyết. Hiện nay ở Việt Nam, việc quản lý chất lượng nguồn dược liệu rất khó khăn, trên thị trường lưu hành rất nhiều dược liệu không rõ nguồn gốc, không qua kiểm nghiệm, kém chất lượng. Việc sử dụng các dược liệu kém chất lượng sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của người bệnh. Ngoài Luan van 2 ra để một thang thuốc sử dụng được cũng mất nhiều công sức và thời gian để sắc.
Vì vậy việc hiện đại hóa thang thuốc là điều rất cấp bách hiện nay. Do vậy, để góp phần nghiên cứu phát triển một chế phẩm thuốc mới, hiện đại hóa dạng bào chế để thuận lợi việc sử dụng điều trị trong cộng đồng, đánh giá tính an toàn và tác dụng của thuốc CTHepaB, chúng tôi nghiên cứu chiết xuất, bào chế viên nang cứng CTHepaB từ bột cao khô định chuẩn, chiết xuất từ bài thuốc CTHepaB với tám loại dược liệu trên. Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chiết xuất, bào chế và đánh giá độc tính cấp của viên nang CTHepaB” với mục tiêu nghiên cứu sau: 1. Xây dựng quy trình chiết xuất, bào chế của viên nang cứng CTHepaB.
Đánh giá độc tính cấp của viên nang cứng CTHepaB trên động vật thực nghiệm. Luan van 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dƣợc liệu dùng trong nghiên cứu. - CTHepaB là bài thuốc được đúc kết từ kinh nghiệm trong quá trình điều trị lâm sàng của PGS.TS Đậu Xuân Cảnh, có tác dụng bảo vệ tế bào gan, ức chế hoặt động của virus, tăng cường sức đề kháng, giúp gan hoạt động hiệu quả hơn.
Bài thuốc gồm 8 vị thuốc: ₊ Cà gai leo 30g ₊ Cỏ sữa lá nhỏ 20g ₊ Chi tử 10g ₊ Đại hoàng 5g ₊ Đinh lăng 10g ₊ Nấm trùng thảo (Đông trùng hạ thảo) 5g ₊ Linh chi 10g ₊ Hà thủ ô 10g - Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt giải độc, ích can, bổ khí ích huyết với: ₊ Quân: Cà gai leo có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi thủy thấp. ₊ Thần: Cỏ sữa lá nhỏ, chi tử giúp cà gai leo thanh nhiệt giải độc ở can, lợi thấp thái hoàng. ₊ Tá: Đinh lăng, đông trùng hạ thảo, linh chi, hà thủ ô bồi bổ nguyên khí, nâng cao chính khí, đẩy lùi thấp nhiệt độc, phục hồi hình thái, công năng tạng phủ. ₊ Sứ: Đại hoàng dẫn thấp nhiệt ra đường đại tiện.
Cà gai leo. Cà gai leo (Solanum hainanense Hance Solanaceae) - Tên gọi khác: Cà gai dây, cà vanh, cà quýnh, cà lù, gai cườm. - Tên khoa học: Solanum hainanense Hance Solanaceae. - Mô tả cây: Là loại cây có thân leo, dài từ 60-100cm, rất nhiều gai, cành xèo rộng, trên phủ lông hình sao.
Lá hình trứng hay thuôn, phía gốc lá hình rìu hay hơi tròn, mép nguyên hay hơi lượn và khía thùy, hai mặt nhất là mặt dưới phủ lông trắng nhạt, phiến dài 3-4cm, rộng 12-20mm, có gai, cuống dài 4-5mm. Hoa tím nhạt, nhị vàng, họp thành cụm gồm 2-5 hoa. Quả hình cầu, khi chín có màu vàng bóng nhẵn, đường kính 5-7mm. Hạt màu vàng, hình thận dẹt.
- Bộ phận dùng: Rễ, cành, lá. - Thành phần hóa học: Rễ cây có chứa tinh bột và nhiều chất hóa học khác nhau, đặc biệt là Glycoancaloid. - Tính vị quy kinh: Cà gai leo có vị hơi the, tính ấm, hơi có độc, có tác dụng tán phong thấp, tiêu độc, tiêu đờm, trừ ho, giảm đau, cầm máu. - Tác dụng dược lý: ₊ Các hoạt chất trong cà gai leo có công dụng trong việc giải độc gan, tăng cường chức năng gan, hạn chế tối đa tổn thương tế bào gan do virus cũng như tác nhân gây hại ngoài môi trường sống nên giúp người VGVRB Luan van 5 bảo vệ gan hiệu quả.
₊ Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Phương Liên, Hồ Việt Sang, Nguyễn Minh Đức, Đỗ Thị Hồng Tươi về khảo sát độc tính cấp đường uống và tác động giải độc rượu của cao chiết từ một bài thuốc dân gian. Bài thuốc giải độc rượu gồm Dong riềng, Bình tinh, Mật nhân, Cà gai leo, Cỏ mực được sử dụng qua nhiều đời của gia đình ông Lê Văn Lâm, sau đó là bác sỹ Hồ Việt Sang để bổ gan, giải độc rượu và cai rượu. Cao thuốc từ bài thuốc dân gian có tính an toàn cao với liều Dmax trên chuột nhắt là 30g/kg. Cao thuốc thể hiện tác động giải độc rượu cấp tương đương viên sủi giải rượu Hadiphar và bảo vệ gan tương đương Silymarin trên mô hình gây nghiện rượu mạn [16].
- Chỉ định và liều dùng: ₊ Hỗ trợ điều trị viêm gan, xơ gan, hỗ trợ chống tế bào gây ung thư: Cà gai leo (thân, rễ, lá) 30 g, Cây dừa cạn 10 g, Cây chó đẻ răng cưa (diệp hạ châu) 10 g. Tất cả sao vàng, sắc uống mỗi ngày 1 thang. ₊ Hỗ trợ điều trị các bệnh về gan (viêm gan B, xơ gan.): Dùng 35 g rễ hoặc thân lá Cà gai leo, sắc với 1 lít nước, còn 300 ml chia uống 3 lần trong ngày, giúp hạ men gan, giải độc gan rất tốt. ₊ Ngoài ra còn để điều trị nhiều chứng bệnh khác.
Cỏ sữa lá nhỏ. Cỏ sữa lá nhỏ (Eurphorbia thymifolia Burm) - Tên gọi khác: Cỏ sữa đất, cỏ sữa lá nhỏ, vú sữa đất, cỏ sữa đỏ, cây Luan van 6 lợi sữa. - Tên khoa học: Eurphorbia thymifolia Burm. - Mô tả cây: Cây mọc hoang, được người dân thu há quanh năm.
Chỉ cần nhổ cây về đem rửa thật sạch, phơi khô cả cây. - Bộ phận dùng: Toàn cây gồm lá, thân và rễ cây đều dùng được làm thuốc. - Thành phần hóa học: Thân và lá cây có hoạt chất Cosmoslin. Rễ cây có Taraxerol, Tirucallol, Myrixylalcohol.
- Tính vị quy kinh: Cỏ sữa lá nhỏ có vị hơi chua, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, thông huyết, tiêu độc, thông sữa. - Tác dụng dược lý: ₊ Dung dịch cỏ sữa 1/20 đến 1/40 có tác dụng ức chế sự sinh sản của các loại vi trùng lỵ Sonner, Flexne và Shiga. ₊ Một số công bố trên thế giới đã chứng minh cỏ sữa có các tác dụng sinh học: tác dụng kháng khuẩn kháng nấm, chống dị ứng, chống viêm; ức chế miễn dịch, ức chế khối u, chống virus; tác dụng an thần, giảm đau, bảo vệ gan. Về thành phần hóa học, các Flavonoid và các hợp chất Phenol đã được phân lập, xác định là các thành phần chính trong cây cỏ sữa.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, các nghiên cứu về cây cỏ sữa còn rất ít. Nghiên cứu này nhằm góp phần bổ sung dữ liệu về hóa thực vật của cây cỏ sữa lá nhỏ. Đã sử dụng phương pháp ngâm chiết với dung môi Ethanol 96% ở nhiệt độ phòng và bằng phương pháp sắc ký cột phân lập được 3 hợp chất từ cây cỏ sữa lá nhỏ thu hái ở tỉnh Nam Định. Cấu trúc của các hợp chất này được xác định thông qua kết quả đo nhiệt độ nóng chảy, góc quay cực riêng, phổ tử ngoại- khả kiến, phổ hồng ngoại, phổ khối, phổ cộng hưởng hạt nhân và so sánh với các dữ liệu công bố của các hợp chất liên quan.
Các hợp chất được xác định Luan van 7 là: (2S)- Strobopinin (1), Isokanugin (2), Amentoflavon (3), Cả 3 hợp chất này đều lần đầu tiên phân lập được từ thân cây cỏ sữa lá nhỏ[45]. - Chỉ định và liều dùng: ₊ Điều trị kiết lỵ: Cỏ sữa lá nhỏ tươi 80g, Mơ lông tươi 50g sắc nước uống hàng ngày. ₊ Điều trị tắc tia sữa, thiếu sữa:Cỏ sữa nhỏ tươi 100g, hạt cây gạo 40g sắc nước uống hàng ngày. ₊ Điều trị đi cầu ra máu tươi:Cỏ sữa tươi 100g, Huyết dụ 50g đun với 1 lít nước, đun cạn còn 400ml chia 3 lần uống trong ngày.
₊ Ngoài ra còn để điều trị nhiều chứng bệnh khác. Chi tử (Gardenia jasminoides ellis) - Tên gọi khác: dành dành, sơn chi, sơn chi tử. - Tên khoa học: Gardenia jasminoides ellis. - Mô tả cây: Cây chi tử là một cây thuốc nam quý, dạng cây nhỏ, nhẵn, cành mềm khía rãnh dọc, lá mọc đối hay mọc vòng 3, hình thuôn trái xoan, đôi khi bầu dục dài, tù và có mũi nhọn ở đỉnh, hình nêm ở gốc, màu nâu đen bóng ở trên mặt, nhạt hơn ở mặt dưới, dai, gân mảnh nổi rõ, lá kèm mềm, nhọn đầu ôm lấy cả cành như bẹ.
Hoa mọc đơn độc ở đầu cành, trắng, rất thơm. Cuống có 6 cạnh hình cánh. Đài 6, thuôn nhọn đầu, ống đài có 6 cánh dọc. Tràng 6, tròn ở đỉnh, ống tràng nhẵn cả hai mặt.
Nhị 6, chỉ ngắn, Luan van 8 bao phấn tù. Bầu 2 ô không hoàn toàn, vòi dài bằng ống tràng noãn rất nhiều. Quả thuôn bầu dục có đài còn lại ở đỉnh, có 6-7 cạnh dọc có cánh. Hạt rất nhiều, dẹt.
Ra hoa từ tháng 4-11. Quả tháng 5-12. - Bộ phận dùng: Quả chín dành dành. - Thành phần hóa học: Gardenoside, Geniposide, Genipin , Crocin,, Cocetin D-mannitol, Sitostreol.
- Tính vị quy kinh: Vị đắng tính hàn, quy kinh tâm, phế, vị, tam tiêu.