Luận án tiến sĩ xây dựng tiêu chuẩn chất lượng và đánh giá khả năng phân bố sinh học của paclitaxel từ chế phẩm thuốc tiêm sản xuất tại việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu chuẩn chất lượng và đánh giá khả năng phân bố sinh học của paclitaxel từ thuốc tiêm sản xuất tại Việt Nam.

Tác giả

Nguyễn Thanh Hà

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

224
8
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ PACLITAXEL

1.2. Tên, công thức phân tử, công thức cấu tạo và tính chất

1.3. Phương pháp định tính, định lượng paclitaxel và tạp liên quan trong thuốc tiêm chứa PTX theo Dược điển hiện hành

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. NGUYÊN VẬT LIỆU, THIẾT BỊ

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CÔNG THỨC VÀ QUY TRÌNH ĐIỀU CHẾ THUỐC TIÊM

3.1. XÂY DỰNG CÔNG THỨC VÀ QUY TRÌNH ĐIỀU CHẾ THUỐC TIÊM CHỨA PTX VỚI HAI DẠNG BÀO CHẾ DUNG DỊCH ĐẬM ĐẶC VÀ BỘT ĐÔNG KHÔ PHA TIÊM TRUYỀN

3.2. XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA HAI CHẾ PHẨM NGHIÊN CỨU

3.3. NGHIÊN CỨU THÔNG SỐ DƯỢC ĐỘNG HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ PHÂN BỐ SINH HỌC TRONG MỘT SỐ MÔ ĐỘNG VẬT THỬ NGHIỆM CỦA HAI CHẾ PHẨM BÀO CHẾ CHỨA PTX SO VỚI CHẾ PHẨM ĐỐI CHỨNG

4. CHƯƠNG 4: BÀO CHẾ THUỐC TIÊM CHỨA PTX DẠNG DUNG DỊCH ĐẬM ĐẶC VÀ BỘT ĐÔNG KHÔ

4.1. TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG VÀ ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA CHẾ PHẨM PHA TIÊM CHỨA PTX

4.2. NGHIÊN CỨU THÔNG SỐ DƯỢC ĐỘNG HỌC VA ĐÁNH GIÁ PHÂN BỐ SINH HỌC TRONG MỘT SỐ MÔ CỦA HAI DẠNG BÀO CHẾ SO VỚI THUỐC ĐỐI CHỨNG

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về paclitaxel

Paclitaxel (PTX) là một hoạt chất chống ung thư được chiết xuất từ vỏ cây thông đỏ (Taxus brevifolia). Hoạt chất này đã được phát hiện vào những năm 60 và được phân lập bởi Wall và Mansukh C. Wani. PTX có khả năng ức chế sự phân bào bằng cách ổn định vi ống, từ đó ngăn chặn sự phân hủy bình thường của chúng. Năm 1992, FDA đã phê duyệt PTX để điều trị nhiều loại ung thư như ung thư buồng trứng, vú và phổi. Việc sử dụng PTX trong điều trị ung thư ngày càng phổ biến, dẫn đến nhu cầu nghiên cứu và phát triển các chế phẩm chứa PTX. Tại Việt Nam, nghiên cứu về bào chế thuốc tiêm chứa PTX đã bắt đầu, nhưng chưa có công bố nào về dạng bột đông khô. Dạng bột đông khô có ưu điểm là dễ sử dụng và bảo quản, đồng thời giảm thiểu việc chia nhỏ liều lượng. Việc nghiên cứu khả năng phân bố sinh học của PTX trong các mô động vật thí nghiệm là cần thiết để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của thuốc.

II. Tiêu chuẩn chất lượng của thuốc tiêm chứa paclitaxel

Tiêu chuẩn chất lượng cho thuốc tiêm chứa paclitaxel được xây dựng dựa trên các quy định của Dược điển hiện hành. Các tiêu chí bao gồm định tính và định lượng PTX, độ ổn định của chế phẩm, và giới hạn tạp chất. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) được sử dụng để xác định hàm lượng PTX trong chế phẩm. Hàm lượng PTX phải đạt từ 90% đến 110% so với hàm lượng ghi trên nhãn. Giới hạn tạp chất cũng được quy định rõ ràng, nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng không chỉ giúp đảm bảo hiệu quả điều trị mà còn bảo vệ sức khỏe người bệnh. Các nghiên cứu về độ ổn định của chế phẩm cũng rất quan trọng, vì chúng ảnh hưởng đến thời gian bảo quản và hiệu quả của thuốc trong quá trình sử dụng.

III. Đánh giá khả năng phân bố sinh học của paclitaxel

Khả năng phân bố sinh học của paclitaxel trong cơ thể được đánh giá thông qua các nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật thí nghiệm. Các thông số dược động học như AUC (diện tích dưới đường cong), Cmax (nồng độ tối đa trong huyết tương), và Tmax (thời gian đạt nồng độ tối đa) được xác định để so sánh giữa các chế phẩm khác nhau. Nghiên cứu cho thấy rằng chế phẩm bột đông khô có thể cải thiện khả năng phân bố của PTX trong các mô, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị. Việc đánh giá này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế tác động của PTX mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho các nghiên cứu lâm sàng sau này. Thông qua các mô hình động vật, các nhà nghiên cứu có thể dự đoán được hiệu quả và độ an toàn của thuốc trước khi tiến hành thử nghiệm trên người.

IV. Quy trình sản xuất thuốc tiêm paclitaxel tại Việt Nam

Quy trình sản xuất thuốc tiêm chứa paclitaxel tại Việt Nam được thực hiện theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn cho người sử dụng. Quy trình này bao gồm các bước như chuẩn bị nguyên liệu, điều chế, kiểm tra chất lượng và đóng gói. Việc kiểm soát chất lượng trong từng giai đoạn sản xuất là rất quan trọng để đảm bảo rằng sản phẩm cuối cùng đáp ứng được các tiêu chuẩn đã đề ra. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất có thể nâng cao hiệu quả và độ ổn định của chế phẩm. Điều này không chỉ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong nước mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ PACLITAXEL 1. Tên, công thức phân tử, công thức cấu tạo và tính chất Tên hóa học: (5β,20-Epoxy-1,2α,4,7 β,13 α -hexahydroxytax-11-en-9-one4,10- diacetate2-benzoate13-ester with (2R,3S)-N-benzoyl-3-phenyllisoserine) [8], [60] Công thức phân tử: C47H51NO14 Phân tử lượng: 853,91 [60] Công thức cấu tạo được trình bày ở Hình 1.

Công thức cấu tạo paclitaxel “Nguồn: Dược điển Mỹ, 2014” [60] PTX có khung taxan là khung cấu trúc của các dược chất chống ung thư nên được xếp vào nhóm taxan, cùng cơ chế tác dụng trong phân loại thuốc chống ung thư. [2] Tính chất: PTX không tan trong nước, tan rất kém trong hầu hết các dung môi dùng trong dược phẩm, tan trong methanol. Tan trong ethanol khoảng 46 mM, trong methylen chlorid hoặc acetonitril khoảng 20 mM, trong isopropanol khoảng 14 mM. Nhiệt độ nóng chảy: 216 - 217 oC.

Bảo quản ở điều kiện 2 - 8 oC. Phương pháp định tính, định lượng paclitaxel và tạp liên quan trong thuốc tiêm chứa PTX theo Dược điển hiện hành Sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [8] [60]. Định tính: sắc ký đồ mẫu thử phải có thời gian lưu của đỉnh paclitaxel tương ứng với thời gian lưu của mẫu chuẩn. Định lượng: Hàm lượng PTX (C47H51NO14) không được thấp hơn 90 % và không được vượt quá 110 % hàm lượng trên nhãn.

luan an 4 - Dung môi hòa tan mẫu: dung dịch 0,02% acid acetic băng trong methanol. - Pha động: Nước - acetonitril (11 : 9) (tt/tt) được lọc và khử khí. - Mẫu chuẩn: dung dịch chứa paclitaxel RS trong dung môi hòa tan mẫu với nồng độ 0,6 mg/mL. - Mẫu thử: pha loãng mẫu thử trong dung môi hòa tan mẫu để thu được dung dịch có nồng độ PTX khoảng 0,6 mg/ mL.

- Điều kiện sắc ký: Cột sắc ký: cột L43 (PFP) 250 mm x 4 mm, 5µm. Bước sóng phát hiện: 227 nm Thể tích tiêm: 10 µL. Tốc độ dòng: 1,5 mL/phút. Giới hạn tạp phân hủy: tạp xác định phải đạt yêu cầu như trong Bảng 1.

Tạp phân hủy khác không được quá 0,1%; tổng tạp không quá 2,0%. - Dung môi hòa tan mẫu: acetonitril - Pha động: Dung dịch A: Nước - acetonitril (3:2) (tt/tt) Dung dịch B: Acetonitril Chương trình dung môi: Thời gian Dung dịch A (%) Dung dịch B (%) Rửa giải 0 → 26 100 0 Đẳng dòng 26 → 66 100 → 17 0 → 83 Gradient 66 → 67 17 → 100 83 → 0 Gradient 67 → 75 100 0 Đẳng dòng - Mẫu chuẩn: dung dịch chứa Paclitaxel RS và tạp chuẩn (tạp B) trong acetonitril với nồng độ tương ứng 1,2 mg/ mL và 0,006 mg/mL. - Mẫu thử: pha loãng mẫu thử trong dung môi pha loãng để thu dung dịch có nồng độ PTX khoảng 1,2 mg/ mL. - Điều kiện sắc ký: Cột sắc ký: cột L1 (C18) 250 mm x 4,6 mm x 3µm, nhiệt độ cột 35 oC Bước sóng phát hiện: 227 nm luan an 5 Thể tích tiêm: 10 µL.

Tốc độ dòng: 1,2 mL/ phút. Giới hạn tạp chất trong chế phẩm PTX dùng đường tiêm Thời gian lưu tương Giới hạn cho phép Tên tạp chất đối so với paclitaxel (%) Baccatin III 0,19 0,8 Dẫn xuất Ethyl ester 0,21 0,4 10-Deacetylpaclitaxel 0,50 0,8 10-Deacetyl-7-epipaclitaxel 0,95 0,5 7-Epipaclitaxel 1,40 0,6 “Nguồn: Dược điển Mỹ, 2014” [60] 1. Một số chế phẩm thuốc tiêm có chứa PTX trên thị trường - Dung dịch đậm đặc pha tiêm (100mg/16,7ml hoặc 30mg/5ml): Taxol® (Bristol- Myers Squibb), Paclitaxel “Ebewe” (Ebewe Pharma), Paclitaxel Injection (Teva Health Systems), Intaxel® (Fresenius Kabi), Anzatax® (Mayne Pharm), Stragen® (Haupt Pharma Woftratshausen), Paxus (PT Dankos Farma), Canbaxel 30 (Bidiphar), Canbaxel 100 (Bidiphar). - Bột pha tiêm: Abraxane® (Celgene) 1.

ĐỊNH HƯỚNG CẢI TIẾN CÔNG THỨC BÀO CHẾ THUỐC TIÊM CHỨA PACLITAXEL 1. Định hướng cải thiện độ tan PTX trong nghiên cứu công thức bào chế Căn cứ vào độ tan và tính thấm của PTX, xu hướng cải thiện độ tan của PTX trong quá trình bào chế được mô tả ở Hình 1. Paclitaxel có độ tan và tính thấm tương tự dược chất nhóm IV của hệ thống phân loại BCS nên thiết lập công thức bào chế sẽ theo định hướng để cải thiện độ tan và tăng tính thấm của dược chất. Theo một số nghiên cứu, các phương pháp tiếp cận hiện tại đang được áp dụng trong bào chế thuốc nhóm II, với việc sử dụng tá dược tăng cường hấp thu, có thể được áp dụng để nghiên cứu công thức bào chế dạng thuốc tiêm đối với các dược chất nhóm IV [33] và do vậy có thể áp dụng trong nghiên cứu công thức bào chế PTX.

luan an 6 Hình 1. Tổng quát hướng nghiên cứu cải thiện độ tan Paclitaxel 1. Nghiên cứu công thức thuốc tiêm chứa PTX Công thức thuốc tiêm chứa PTX được sử dụng rộng rãi nhất trong lâm sàng là dạng dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền (thuốc gốc và thuốc generic), được pha loãng trước khi tiêm tĩnh mạch. Công thức có chứa Cremophor® EL và ethanol khan.

Tuy nhiên, tá dược này có liên quan với các tác dụng phụ như co thắt phế quản, hạ huyết áp và các triệu chứng quá mẫn. Thành phần của tá dược này có thể giải phóng histamin và gây hạ huyết áp và phản ứng quá mẫn sau khi tiêm truyền nhanh hoặc sau tiêm tĩnh mạch. Hướng nghiên cứu công thức bào chế trên thế giới cho đến nay chủ yếu thay đổi thành phần tá dược nhưng vẫn đảm bảo tăng độ tan của PTX. Một số phương pháp cải tiến phổ biến: 1.

Đồng dung môi Tarr và Yalkowsky (1987) đã bào chế hệ đồng dung môi PTX (5 mg/mL) chứa ethanol, tween 80, và pluronic L64 theo tỷ lệ 3: 1: 6 (tt/tt/tt), thay cho công thức của Taxol. Dung dịch này ổn định về mặt hóa học và thể chất trong 3 tháng, nhưng khi pha loãng đến nồng độ 3,45 mM chỉ ổn định trong 3 ngày [42]. Hệ hỗn dịch Tarr và Yalkowsky (1987) đã bào chế PTX dạng dầu/ nước bằng cách dùng triacetin làm trung gian hòa tan. Nghiên cứu cho thấy PTX hòa tan tốt trong triacetin (75 mg/ mL).

Mặc dù vậy thuốc kết tủa khi nhũ tương được pha loãng khoảng chín lần luan an 7 với dextrose 5%. Tarr và đồng sự đã bào chế hỗn dịch dạng tiêm đầu tiên của PTX chứa 10 - 15 mg PTX/ mL trong một công thức bao gồm 50% triacetin, 1,5% lecithin đậu nành, 1,5% pluronic F68, và 2,0% ethyl oleat. Khoảng 10% glycerol được thêm vào để ngăn ngừa tách pha. Hỗn hợp này ổn định trong khoảng thời gian 6 tháng khi được bảo quản ở 4 oC.

Tuy nhiên lượng triacetin cần thiết để bào chế PTX với liều điều trị được phát hiện là độc hại khi tiêm tĩnh mạch cho chuột và không có hoạt tính chống ung thư nào được báo cáo [58]. Lundberg (2005) đã bào chế một hỗn dịch với triolein là pha dầu và dipalmityl-phosphatidylcholin làm chất nhũ hóa chính. Tween 80 và PEG-dipalmitoyl osphatidylethanolamin được sử dụng làm chất ổn định. Đông khô hỗn dịch này với dextrose 5% tạo thành một sản phẩm ổn định, có thể tạo dung dịch hợp thành với nước pha tiêm [39].

Constantinides và cộng sự (2000) đã bào chế và đánh giá một công thức vi nhũ tương PTX với nồng độ 8 - 10 mg/ mL, dự đoán ít phản ứng quá mẫn hơn. Dược chất giải phóng từ sản phẩm này chậm hơn so với Taxol®, cả khi có hay không có sự hiện diện của albumin huyết thanh người. Các nhũ tương chứa tocopherol được dung nạp tốt hơn và hiệu quả hơn so với Taxol® trong các mô hình khối u ác tính ở chuột thí nghiệm. Các thử nghiệm quá mẫn được thực hiện trên lợn Ghine cho thấy Taxol® gây ra hiện tượng mũi thường xuyên bị trầy xước, run rẩy, hắt hơi, dựng tóc, co giật hoặc khó thở, với mức độ quá mẫn tương đương với cấp độ 3 trong khi dạng vi nhũ tương có triệu chứng dựng tóc và ít run rẩy hơn, với cấp độ 1 [57].Nornoo và cộng sự (2008) đã nghiên cứu bào chế hai vi nhũ tương không chứa cremophor bao gồm lecithin: butanol: myvacet: nước (LBMW) và capmul: myvacet: nước (CMW) với PTX để tiêm tĩnh mạch.

Sáu chất hoạt động bề mặt và bốn loại dầu được sàng lọc với cách kết hợp khác nhau cho độ tan PTX tối đa. Các dạng vi nhũ tương sau đó được xác định trong giản đồ ba pha. Độc tính gây độc tế bào trên dòng tế bào ung thư vú người MDA-M231 và khả năng tán huyết được đánh giá so với Taxol®. Độ tan PTX trong dầu myvacet đã tăng lên 1389 lần so với độ tan trong nước.

LBMW có diện tích vi nhũ tương lớn hơn (46,5% trên giản đồ bậc ba) so với CMW (18,6%) [48]. Tiền chất Mellado và cộng sự (1984) trong quá trình phát triển acetyl-paclitaxel đã ghi nhận rằng nhóm -OH ở vị trí C-2 được ưu tiên nhất vì nó có thể thủy phân dễ dàng bằng enzym hoặc cơ chế hóa học. Một số dẫn chất PTX ester hóa C-2L với acid succinic, acid glutaric và acid sulfonic đã cải thiện độ tan trong nước và có tác dụng in vivo tuy nhiên chúng không ổn định trong môi trường nước. Một số dẫn xuất phosphat C-2L và C-7L của PTX được tổng hợp bởi Nuijen, Vyas và cộng sự (2014) đã cải thiện độ tan nhưng các nghiên cứu phóng thích hoạt chất in vitro không có kết quả, và hoạt tính in vivo ở chuột mang khối u M109 là không đáng kể [42].

Ueda và cộng sự (1993) tổng hợp các dẫn xuất của PTX có nhóm este phosphonoxyphenyl-propionat ở vị trí C-2L và C-7L, cải thiện độ hòa tan và dễ dàng phóng thích PTX. Dẫn xuất C-7L cho thấy hoạt tính tương đương với PTX trên mô hình khối u M109. Nhóm nghiên cứu cũng bào chế tiền chất 2’ -Oxycarbonyl paclitaxel, có sự ổn định hơn khi có tác nhân hóa học và enzym thủy phân. Đây là một mô hình phóng thích hoạt chất in vitro rất tốt với sự tích lũy nhanh PTX trong tế bào ung thư đại tràng HCT 116 ở người [42].

Nicolaou và cộng sự (1993) nghiên cứu một nhóm các dẫn xuất được gọi là "protaxol", làm tăng độ hòa tan và khả năng cho PTX thực hiện phân tách riêng từ hỗn hợp in-situ. Khả năng gây độc tế bào in vitro của các protaxol này tương đương với PTX tự do, nhưng chúng vẫn chưa có được hoạt tính in vivo [42]. Steven và cộng sự (2004) đã bào chế Paclitaxel-7-carbonyl-cholesterol (Tax-Chol), một tiền chất PTX tính thân dầu. Sản phẩm của quá trình tổng hợp tạo thành công thức nano lipid (LN), cũng chứa folate-polyethylene glycol-cholesterol (f-PEG) -Chol) là phối tử nhắm vào thụ thể folate đánh dấu khối u (FR).

Công thức mới này được thiết kế để kéo dài thời gian vận chuyển và nhắm đích có chọn lọc đến các tế bào khối u với biểu hiện FR khuếch đại [57].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tiêu chuẩn chất lượng và khả năng phân bố sinh học của paclitaxel từ chế phẩm thuốc tiêm tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thanh Hà, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Minh Trí và TS. Nguyễn Thiện Hải, được thực hiện tại Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá chất lượng và khả năng phân bố sinh học của paclitaxel, một loại thuốc quan trọng trong điều trị ung thư. Bài viết không chỉ cung cấp những tiêu chuẩn chất lượng cần thiết cho sản phẩm thuốc tiêm mà còn giúp nâng cao hiểu biết về cách thức paclitaxel hoạt động trong cơ thể, từ đó hỗ trợ cho việc phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến dược phẩm và điều trị, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu phương pháp định lượng andrographolide trong dược liệu xuyên tâm liên bằng HPTLC", nơi nghiên cứu về phương pháp định lượng một hoạt chất khác trong dược liệu. Ngoài ra, bài viết "Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương" cũng cung cấp cái nhìn về việc sử dụng kháng sinh trong điều trị, một khía cạnh quan trọng trong y học hiện đại. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy và nạo hạch trong điều trị ung thư vùng đầu tụy", một nghiên cứu liên quan đến các phương pháp điều trị ung thư, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp điều trị hiện nay.